ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯỜNG QUANG HỢP Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ XÂY DỰNG
PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH THEO BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA VỀ
NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ PHÚ THƯỢNG , HUYỆN VÕ NHAI,
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2013 - 2020” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban
chủ nhiệm Khoa Quản lý tài nguyên, tôi đã tiến hành khóa luận tốt nghiệp:
“Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng và xây dựng phương án quy hoạch theo
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới tại xã Phú Thượng - huyện Võ Nhai -
Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013-2020”.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy
giáo Th.s Nguyễn Minh Cảnh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
viết khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban
chủ nhiệm Khoa cùng quý Thầy, Cô trong Khoa Quản lý tài nguyên - Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm
học tập, một hành trang quý báu để tôi tự tin bước vào cuộc sống.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến UBND xã Phú Thượng, cán bộ
nhân viên UBND xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại
UBND xã.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến bà con nhân dân xã Phú Thượng đã
giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu, tìm hiểu tại địa phương.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ,
động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện khóa luận.
Cuối cùng, xin chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe, hạnh phúc và thành
công trong sự nghiệp trồng người.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2014
Bảng 4.12. Quy hoạch các hạng mục công trình trường Mầm non tại điểm
trường Ba Nhất 51
Bảng 4.13. Quy hoạch các hạng mục công trình trường Mầm non tại điểm
trường Đồng Lạn 51
Bảng 4.14. Quy hoạch hạng mục công trình trường mầm non tại điểm trường
Cao Biền 51
Bảng 4.15. Quy hoạch các hạng mục công trình trường tiểu học Phú
Thượng I 52
Bảng 4.16. Quy hoạch các hạng mục công trình trường tiểu học Phú Thượng
II 52
Bảng 4.17. Quy hoạch các hạng mục công trình trường THCS Phú Thượng 53
Bảng 4. 18. Quy hoạch diện tích xây dựng nhà văn hóa xóm trên địa bàn xã
Phú Thượng 53DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Stt Chữ viết tắt Đọc là
1 BCH Ban chấp hành
2 BGTVT Bộ Giao thông vận tải
3 BTXM Bê tông xi măng
4 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
5 GTNT Giao thông nông thôn
6 HĐND Hội đồng nhân dân
hình nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. 10
2.2.3. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở trên thế giới 12
2.2.4. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 14
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
3.1. Phạm vi nghiên cứu 24
3.2. Đối tượng nghiên cứu 24
3.3. Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 24
3.3.2. Hiện trạng sử dụng sử dụng đất đai. 24
3.3.3. Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội theo Bộ
tiêu chí Quốc gia về NTM 24
3.3.4. Xây dựng phương án quy hoạch cơ sở hạ tầng theo tiêu chí NTM. 24
3.3.5. Thuận lợi, khó khăn, giải pháp chủ yếu. 24
3.4. Các phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1. Phương pháp thu thập thông tin 24
3.4.2. Phương pháp phân tích thông tin 25
3.4.3. Phương pháp điều tra dã ngoại bổ sung…… ……………………….25
3.4.4. Phương pháp thống kê và tổng hợp số liệu………………… ……….25
3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu…………………………………………….25
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và nhân lực của xã 26
4.1.1. Đặc kiện tự nhiên 26
4.1.2. Tài nguyên, khoáng sản 28
4.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội 29
4.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 29
4.2.2. Dân số và lao động 32
4.2.3. Hiện trạng sử dụng đất 33
4.2.4. Đánh giá chung về tiềm năng của xã Phú Thượng 35
4.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của xã Phú Thượng -huyện Võ
5.2. Kiến nghị 58
5.2.1. Đối với Nhà nước và địa phương 58
5.2.2. Đối với người dân 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã đạt được thành tựu khá toàn diện
và to lớn. Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản
xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, đảm bảo vững
chắc an ninh lương thực quốc gia, một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế
cao trên thị trường thế giới. Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng
công nghiệp dịch vụ ngành nghề, các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi
mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được tăng cường,bộ mặt nhiều vùng nông
thôn thay đổi. Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng
nông thôn ngày càng được cải thiện. Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn.
Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường. Dân chủ cơ sở
được phát huy. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Vị thế
chính trị của giai cấp công nhân ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,
lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn chưa bền
vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa
phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao khoa
học - công nghệ và đào taọ nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ
biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng
nhiều mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm,
chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn.
nghiệp, nông thôn phù hợp với thời đại mới trong thời kì hội nhập kinh tế
quốc tế của Quốc gia.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Phú Thượng.
- Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng các tiêu chí đã hoàn thành và chưa
hoàn thành.
3
- Đánh giá việc phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất
đồng thời làm cơ sở pháp lý cho việc lập các dự án đầu tư xây dựng và quản
lý xây dựng theo quy hoạch, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn.
- Tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại trong công tác xây dựng
NTM tại xã Phú Thượng.
- Có những phương án giải pháp khắc phục và định hướng mới cho kế
hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng NTM tại xã Phú Thượng.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Đây là cơ hội tốt cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng
những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, và có cơ hội gặp gỡ, học tập, trao đổi
kiến thức với những người có kinh nghiệm và người dân địa phương.
Góp phần hoàn thiện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh quá
trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cơ sở hạ tầng nói riêng
ở nông thôn trong giai đoạn CNH - HĐH do Đảng và Nhà nước đề ra.
Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng nông
thôn trên địa bàn xã và có thể so sánh được một số chỉ tiêu so với các xã khác
trên địa bàn huyện dựa trên Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
của chính phủ.
Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các
Cơ quan trong các ngành và các sinh viên khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển
- Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT - BXD - BNNPTNT-BTN&MT,
ngày 28/10/2011, quy định việc lập,thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng
xã nông thôn mới.
- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 về quy định lập nhiệm
vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng Nông thôn mới.
5
- Thông tư số 07/2010/TT-BNN ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất Nông nghiệp
cấp xã theo Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới.
2.1.2. Các tiêu chuẩn quy phạm
- Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn (Quy
chuẩn Việt Nam 14: 2009/BXD).
- Quyết định số 2933/BGTVT-KHĐT ngày 11/05/2009 và theo Quyết
định số 315 ngày 23/02/2011 của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn tiêu chí
Nông thôn mới trong lĩnh vực giao thông
- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/2/2010 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã
theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
- Tiêu chuẩn về quy hoạch xây dựng nông thôn ban hành theo Thông tư
số 31/2009/TT-BXD ngày 10/09/2009 của Bộ Xây dựng.
2.1.3. Khái niệm nông thôn mới
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về Nông thôn mới. Tuy
nhiên, theo Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thì Nông thôn mới được hiểu là:
- Có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại.
- Cô cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch.
- Xã hội – nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc.
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ.
Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng
- Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được
tăng cường.
2.1.4. Đặc trưng của nông thôn mới.
NTM giai đoạn 2010 - 2020 bao gồm các đặc trưng sau:
1- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông
thôn được nâng cao;
7
2- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội
hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
3- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và
phát huy;
4- Trật tự - an ninh tốt, quản lý dân chủ
5- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.
2.1.5. Khái niệm về cơ sở hạ tầng nông thôn
Cơ sở hạ tầng (Infrastructure) có thể hiểu là những kiến trúc làm nền
tảng cho các đối tượng, các yếu tố hình thành và phát triển xã hội. Đó là
những cấu trúc về vật chất, kĩ thuật, hệ thống công trình xây dựng và thiết
bị… làm nền tảng cho các hoạt động diễn ra ngoài xã hội. Từ những quan
điểm đó, có thể đi đến định nghĩa khái quát về cơ sở hạ tầng như sau:
“Cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành kinh tế dịch vụ
(Service industries) bao gồm việc xây dựng đường xá, kênh đào, tưới nước,
hải cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh,
giao thông vận tải, bưu điện, cấp thoát nước, giáo dục, khoa học, y tế, bảo vệ
sức khỏe…”.
Như vậy, khái niệm về cơ sở hạ tầng trên đây không chỉ mang tính cấu
trúc mà còn mang tính kiến trúc xây dựng thiết bị, vì vậy cũng có thể gọi là
kết cấu hạ tầng, hoặc cơ cấu hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng ở nông thôn cũng mang tính chất chung của kết cấu hạ
tầng, nó là nền tảng cho phát triển kinh tế xã hội nông thôn. Cơ sở hạ tầng
nông thôn bao gồm: hệ thống thủy lợi, giao thông, điện, thông tin liên lạc, cấp
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong đó đã thống nhất nội dung,
cách hiểu, cách tính toán và các quy chuẩn áp dụng đối với các tiêu chí nông
thôn mới.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Khái quát về mô hình nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay
Mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí
mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được
những nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hoá tinh thần.
9
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất như: đáp ứng yêu cầu
phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt
hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ
hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và
vận dụng trên cả nước. Như vậy, có thể quan niệm: mô hình nông thôn mới là
tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo
tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện
nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền
thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt. Có thể xác định một số tiêu chí của
mô hình nông thôn mới như sau:
Đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã. Làng - xã thực
sự là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào
đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông
qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước). Quản lý của
Nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hoà; các giá trị truyền
thống làng xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích
cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn,
giữ vững an ninh trật tự xã hội,… nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế nông thôn.
Đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh
2.2.2. Những thành công bước đầu của “Chương trình xây dựng thí điểm
mô hình nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
“Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (sau đây gọi tắt là Chương trình thí điểm)
nhằm thử nghiệm các nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách.
Xác định trách nhiệm và mối quan hệ chỉ đạo giữa các cấp trong việc xây
dựng nông thôn mới. Đồng thời, xây dựng 11 xã thành các mô hình trên thực
tiễn về nông thôn mới để rút kinh nghiệm cho triển khai chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên diện rộng. Việc triển khai xây
dựng mô hình thí điểm cũng là quá trình tổ chức thực hiện thử nghiệm 19 tiêu
chí nông thôn mới trên địa bàn cấp xã.
11
Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trung ương, đến hết năm 2010 và sau gần 2 năm thực hiện, so với mục đích,
yêu cầu đề ra, Chương trình đã thành công bước đầu và đạt được một số kết
quả quan trọng. Số tiêu chí theo Bộ tiêu chí Quốc gia, các xã đã đạt và cơ bản
đạt được, tăng hơn gấp 2 đến 3 lần so với trước khi triển khai. Đến nay đã có
7/11 xã đạt được 10 tiêu chí trở lên, trong đó có 3 xã đạt 14/19 tiêu chí; 3 xã
đạt từ 8-10 tiêu chí. Trong đó, một số xã đã đạt được các tiêu chí về thu nhập,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và tổ chức sản xuất có hiệu quả,
đây được xem là những tiêu chí khó thực hiện nhất.
Các nội dung xây dựng các hạ tầng thiết yếu và phát triển sản xuất ở
các xã đã đạt được kết quả rõ nét và toàn diện hơn; các hoạt động văn hóa, xã
hội và môi trường được quan tâm; hệ thống chính trị và công tác cán bộ ở các
xã điểm được củng cố, nâng cao; an ninh trật tự được giữ vững.
Về xây dựng cơ sở hạ tầng, đây là việc thu hút sự quan tâm nhiều nhất
của cán bộ và người dân. Sau gần 2 năm triển khai, đã có khoảng 2/3 số các
công trình hạ tầng (theo tiêu chí) được triển khai. Đến nay đã hoàn thành cơ
bản gần 300 hạng mục công trình, trong đó nhiều nhất là giao thông, thủy lợi,
nước sạch… (chiếm khoảng 40% tổng kinh phí); tiếp đến là chuẩn hóa lớp
chiến tranh, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, không đủ lương thực
và phần lớn người dân không đủ ăn. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp
nhưng hạn hán và lũ lụt thường xuyên xảy ra khắp đất nước. Đến năm 1970
vẫn còn 70% dân số sống ở nông thôn, trong số đó 80% sống trong điều kiện
khó khăn.
Sau trận lụt lớn năm 1969, trong khi đi thị sát tình hình dân chúng,
Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ
cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu lấy mình. Hơn thế
nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mẫu chốt để
phát triển nông thôn. Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong
trào “Saemaulundong” (Phong trào đổi mới nông thôn) được đích thân Tổng
thống Park phát động vào ngày 22/4/1970. Phong trào đổi mới nông thôn đã
đề cao “Tinh thần Saemaul” gồm 3 thành tố: “Chăm chỉ - Tự lực - Hợp tác”.
Cơ sở để hình thành tinh thần này là: “Chăm chỉ” là động cơ tự nguyện của
người dân, không ngừng vượt qua khó khăn để tiến tới thành công, “Tự
13
lực” là ý chí bản thân, tinh thần làm chủ, chịu trách nhiệm về cuộc sống và
vận mệnh của bản thân và “Hợp tác” là nhận thức về mong muốn phát triển
cộng đồng phải nhờ vào nỗ lực của tập thể
Sự ra đời kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn
Quốc đang trì trệ trong đói nghèo đã tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ và nhanh
chóng đạt được những kết quả khả quan. Tới năm 1974, chỉ sau 4 năm phát
động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực,
phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương
pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương
đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương
537 USD).
Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với
đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa… “Saemaulundong” từ
một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng
nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp
chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước
công nghiệp phát triển.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên
cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của
nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người
dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với
việc CNH - HĐH thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình
CNH - HĐH đất nước.
2.2.4. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Các tỉnh miền núi phía Bắc là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan
trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh; địa bàn cư trú chủ yếu của
đồng bào các dân tộc thiểu số. Vì vậy, triển khai thực hiện Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới không chỉ góp phần nâng cao chất
lượng đời sống của đồng bào mà còn thiết thực củng cố thế trận quốc phòng
an ninh.
15
- Chủ động khắc phục khó khăn, tích cực thực hiện xây dựng nông
thôn mới
Trong ba năm qua, tuy còn nhiều khó khăn song Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân 15 tỉnh miền núi phía Bắc (gồm Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên,
Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang,
Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ) đã chỉ đạo và thực
hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới.
Bên cạnh những thuận lợi quan trọng như đồng bào các dân tộc miền
núi phía Bắc có truyền thống đoàn kết, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng; thường xuyên nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư của
Đảng và Nhà nước…, quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới ở 15 tỉnh
miền núi phía Bắc còn vấp phải không ít khó khăn như điều kiện tự nhiên
Tính đến hết tháng 9-2013, có 80% số xã miền núi phía Bắc đã hoàn
thành quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới, tương đương tỷ lệ chung
của cả nước; 53% số xã đã hoàn chỉnh đề án xây dựng nông thôn mới. Đặc
biệt tại nhiều tỉnh như Quảng Ninh, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ… đã chủ
động quan tâm bố trí nguồn vốn địa phương quản lý để đầu tư cho các công
trình nông thôn mới đồng thời có cơ chế hỗ trợ xi măng cho xã làm đường
giao thông, công trình thủy lợi. Đồng bào các tỉnh miền núi phía Bắc đã tình
nguyện đóng góp hàng triệu ngày công lao động cùng nhiều nghìn tỷ đồng
tham gia xây dựng nông thôn mới. Phong trào tự nguyện hiến đất xây dựng
các công trình nông thôn mới cũng đã và đang được đẩy mạnh trên nhiều địa
phương: Lào Cai, Quảng Ninh, Hòa Bình, Điện Biên…
Bám sát phương châm chỉ đạo “thiết thực, hiệu quả, thực chất”, trong
quá trình xây dựng nông thôn mới, nhiều tỉnh đã đạt kết quả tích cực trong
quan tâm phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của người dân. Việc đa dạng
hóa cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi hình thức sản xuất được đẩy mạnh
theo hướng chuyển dần từ tự cấp, tự túc sang phát triển sản xuất hàng hóa với
nhiều loại vật nuôi, cây trồng mang lại giá trị kinh tế, tăng thu nhập cho người
nông dân. Điển hình là các mô hình sản xuất lúa tám thơm ở Điện Biên, ngô
cao sản ở Sơn La, trồng hoa các loại ở Sa Pa (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La),
mía tím, cam ở Cao Phong (Hòa Bình), chè chất lượng cao ở các tỉnh: Thái
Nguyên, Sơn La, Phú Thọ, Yên Bái; phát triển mô hình trồng cao su tại một
17
số tỉnh có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu;
phát triển kinh tế rừng gắn với nhà máy chế biến lâm sản ở Quảng Ninh,
Tuyên Quang, Yên Bái, Bắc Kạn, Hòa Bình, Thái Nguyên; phát triển chăn
nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá lồng trên các lòng hồ thủy điện Hòa kết cầu hạ
tầng nông thôn nhiều địa phương đã có điều kiện đầu tư, nhất là về điện, thủy
lợi, giao thông.
Căn cứ theo Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, đến nay bình quân
các xã toàn vùng đã đạt 6,3 tiêu chí/19 tiêu chí (bình quân cả nước là 8,06 tiêu