ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LỰ VĂN MỪNG
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI XÃ HÕA MẠC, HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI"
LỰ VĂN MỪNG
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI XÃ HÕA MẠC, HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến Nông
Khoa : Kinh tế và PTNT
Khóa học : 2011 – 2015
Giảng viên hƣớng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Giang
LỰ VĂN MỪNG
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới
tại xã vùng TDMN phía Bắc 9
Bảng 4.1. Diện tích đất đai của xã Hòa Mạc qua các
năm 2012 - 2014 33
Bảng 4.2. Dân số theo dân tộc trên địa bàn
xã Hòa Mạc năm 2014 35
Bảng 4.3. Tình hình dân số, lao dộng xã Hòa Mạc qua các năm 2012 - 2014 38
Bảng 4.4. Hiện trạng tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch trên
địa bàn xã Hòa Mạc 43
Bảng 4.5. Hiện trạng hạ tầng kinh tế - xã hội của xã Hòa Mạc 44
Bảng 4.6. Hiện trạng kinh tế và tổ chức sản xuất trên
địa bàn xã Hòa Mạc 51
Bảng 4.7. Hiện trạng về văn hóa - giáo dục trên địa bàn xã Hòa Mạc 53
Bảng 4.8. Hiện trạng về Y tế trên địa bàn xã Hòa Mạc 54
Bảng 4.9. Hiện trạng về Văn hóa trên địa bàn xã Hòa Mạc 55
Bảng 4.10. Hiện trạng về Môi trường trên địa bàn xã Hòa Mạc 56
Bảng 4.11. Hiện trạng hệ thống chính trị của xã Hòa Mạc 58
Bảng 4.12. Nhận thức của người dân trên địa bàn về
chương trình NTM 61
Bảng 4.13: Những công việc của người dân khi tham gia
vào xây dựng nông thôn mới 62
Bảng 4.14. Sự tham gia của các hộ dân trong hoạt động xây dựng
SXNN
Sản xuất nông nghiệp
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TP
Thành phố
TW
Trung ương
UBND
Ủy ban nhân dân
USD
Đô la Mỹ
WB
Ngân hàng thế giới (World Bank)
PTNT
Phát triển nông thôn
VH - TT - DL Văn hoá - Thể thao - Du lịch
iv
MỤC LỤC
Trang
Phần 1.Mở đầu 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học 3
4.2.3. Về kinh tế và tổ chức sản xuất 51
4.2.4. Văn hóa - xã hội và môi trường 53
4.2.5. Hệ thống chính trị 57
4.2.6. Đánh giá thực trạng sự tham gia của người dân trong
chương trình nông thôn mới tại xã Hòa Mạc 61
4.3. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn khi tiến hành xây dựng nông thôn mới của xã
Hòa Mạc - huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai 65
4.3.1. Thuận lợi 65
4.3.2. Khó khăn 65
Mạc vẫn tồn tại một số khó khăn thách thức sau: 65
4.4. Một số giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn đồng thời phát triển mô hình nông thôn
mới trên địa bàn xã Hòa Mạc - huyện Văn Bàn - tỉnh Lào Cai 67
4.4.1. Giải pháp phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội 67
4.4.2. Giải pháp để hoàn thành các tiêu chí về
văn hóa - xã hội - môi trường 68
4.4.3.Giải pháp để hoàn thành các tiêu chí về hệ thống
chính trị xã hội vững mạnh 69
4.4.4. Giải pháp nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng
mô hình nông thôn mới. 69
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72
5.1 Kết luận 72
5.2. Khuyến nghị 73
5.2.1. Đối với chính quyền địa phương: 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Tài liệu các Website 76
1
Phần 1
Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân
chủ ổn định, làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo
vệ, an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người
dân ngày càng được nâng cao thì cần phải có một định hướng, chiến lược rõ
ràng trong quá trình phát triển. Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành
thực hiện đề tài: "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm
phát triển mô hình xây dựng nông thôn mới tại xã Hòa Mạc, huyện Văn
Bàn, tỉnh Lào Cai"
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng nông thôn trên địa bàn Xã Hòa Mạc - Huyện
Văn Bàn - Tỉnh Lào Cai khi triển khai xây dựng mô hình nông thôn mới để
thấy được những thuận lợi khó khăn. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm
phát triển mô hình nông thôn mới trên địa bàn xã.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Hòa Mạc - Huyện Văn
Bàn - Tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá được thực trạng thực hiện các tiêu chí nông thôn mới trên
địa bàn xã Hòa Mạc - Huyện Văn Bàn - Tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn khi xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn Xã Hòa Mạc - Huyện Văn Bàn - Tỉnh Lào Cai. 3
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, thách
thức đồng thời phát triển mô hình nông thôn mới trên địa bàn Xã Hòa Mạc
nói riêng và các xã trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai nói chung.
1.2.3. Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực.
- Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi, bộ câu hỏi phải dễ hiểu, đầy đủ các
xuất nông nghiệp . Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể
của tư
̀
ng nước.
Nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được
hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó dân cư tương
đối thấp; lao động nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng
chặt chẽ; do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông
thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị.
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi
theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên
thế giới. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản
lý, có thể hiểu “nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có
nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn
hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh
hưởng của các tổ chức khác”. [5]
5
* Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều
quan điểm khác nhau. Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật
ngữ này ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam thuật ngữ này được đề cập và có
sự thay đổi nhận thức qua các thời kỳ. Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có sự tổng
hợp lý luận về thuật ngữ này. Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và
vận dụng thuật ngữ này ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống
của con người và phân phối công bằng những thành quả trong xã hội. [5]
Phát triển nông thôn là quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã
hội, kinh tế, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng đời sống của
người dân. [5]
mới cũng phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc
từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức
sống của người dân.
Trước hết NTM phải là nơi sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản
phẩm có năng xuất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa. Bên cạnh
đó nông thôn mới phải đảm nhận được vai trò gìn giữ văn hóa truyền thống
dân tộc. Làng quê nông thôn Việt Nam khác hẳn so với các nước xung
quanh, ngay cả ở Việt Nam, làng quê dân tộc Thái khác với H‟Mông, khác
với Eđê, Bana, người Kinh. Nếu quá trình xây dựng NTM làm phá vỡ chức
năng này là đi ngược lại với lòng dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa
7
muôn đời của người dân Việt Nam. Nông thôn mới phải giữ được môi
trường sinh thái hài hòa.
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng
yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi
trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể
phổ biến và vận dụng trên cả nước. Như vậy, có thể quan niệm: Mô hình
nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ
chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn
trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình
nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt.[15]
* Đặc trưng của mô hình nông thôn mới:
- Nông thôn là lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã.[7]
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại.
- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch.
Căn cứ vào Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng
Chính phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông
thôn mới.
Căn cứ Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông
thôn mới.
9
Bảng 2.1: Các tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã
vùng TDMN phía Bắc
TT
Tên
tiêu chí
Nội dung tiêu chí
Chỉ tiêu
chung
của
TDMN
phía Bắc
1
Quy
hoạch
và thực
hiện
quy
hoạch
1.1 Quy hoạch đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển
sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, dịch vụ
lợi
3.1 Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản
xuất và dân sinh
Đạt
3.2 Tỷ lệ Km kênh mương do xã quản lý được kiên
cố hóa
50%
4
Điện
4.1 Hệ thống điện được đảm bảo yêu cầu kỹ thuật
của ngành điện
Đạt
4.2 Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ
các nguồn
95%
5
Trường
học
Tỷ lệ trường học các cấp: Mầm non, mẫu giáo, tiểu
học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
70%
6
Cơ sở
vật chất
văn hóa
6.1 Nhà văn hóa và khu thể thao đạt chuẩn của Bộ
VH-TT-DL
Đạt
6.2 Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu dân cư thể thao
thôn đạt quy định của Bộ VH-TT-DL
(triệu đồng/người).
Năm 2012
13
Đến năm 2015
18
Đến năm 2010
35
11
Hộ
nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo
10%
12
Tỷ lệ
lao
động có
việc
làm
thường
xuyên
Tỷ lệ người làm việc trên dân số trong độ tuổi lao
động
≥90%
13
Hình
thức
sản xuất
Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả
Có
14
Đạt
17.3 Không có các hoạt động gây suy giảm môi
trường và có các hoạt động phát triển môi trường
Đạt
11
xanh, sạch, đẹp
17.4 Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
Đạt
17.5 Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo
quy định
Đạt
18
Hệ
thống tổ
chức
chính
trị xã
hội
vững
mạnh
18.1 Cán bộ xã đạt chuẩn
Đạt
18.2 Có đủ các tổ chức trong tổ chức chính trị theo
quy định
Đạt
18.3 Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong
sạch vững mạnh”
Đạt
18.4 Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt
đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà
nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy
lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu cho hầu
hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại
cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông
thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng
khắp cả nước,
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã
tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ công nghiệp
phát triển nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên,
những kĩ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp
thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu.
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng
nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp
chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước
công nghiệp phát triển.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên
cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp iệu quả của nhà
nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân
để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. [17]
2.2.1.2. Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
13
Hàn Quốc xây dựng nông thôn mới trên cơ sở về các ý tưởng trụ
cột, mục tiêu và nguyên tắc của phong trào. Cụ thể là:
- Ba ý tưởng trụ cột: Chăm chỉ - Tự lực vượt khó khăn - Hợp tác;
- Bốn mục tiêu chính: Tăng thu nhập cho nông dân; Cải thiện môi
trường sống; Nâng cấp kết cấu hạ tầng; Khuyến khích phát triển đời sống tinh
công lao động) thành 3 nhóm, mỗi nhóm sẽ nhận được sự hỗ trợ khác
nhau.Cụ thể như sau:
- Thôn cơ sở: Là thôn hầu như chưa có sự tham gia đáng kể của người
dân, sẽ nhận được sự hỗ trợ các dự án cải thiện môi trường và cần phải nâng
cao ý thức của người dân.
- Thôn tự lực: Là thôn đã có tỷ lệ người dân tham gia khoảng 50%, sẽ
được hỗ trợ các dự án môi trường, dự án nâng cao thu nhập.
- Thôn tự lập: Là thôn có 100% người dân tham gia phong trào được ưu
tiên hỗ trợ các dự án nâng cao thu nhập, dự án phúc lợi văn hóa.
Lan rộng phong trào:
Thành công của phong trào ở nông thôn đã lan tới các vùng không làm
nông nghiệp như: các công sở, trường học, nhà máy với nhiều lĩnh vực khác
nhau. Các thành phố bắt đầu các dự án chống tham nhũng và xây dựng 1 đô
thị hoàn hảo. Ba chiến dịch được phát động là: Chiến dịch tinh thần; Cư xử và
Môi trường.
- Chiến dịch tinh thần: Nhằm xây dựng mối quan hệ thân thiện với láng
giềng, kế thừa và phát huy những truyền thống dân tộc dựa trên lòng hiếu
thảo và nâng cao ý thức cộng đồng.
- Chiến dịch cư xử: Nhấn mạnh tới trật tự công cộng trên đường phố,
cách ứng xử tích cực trong làng xóm và công sở, hành vi nơi công cộng và
cấm say rượu dẫn tới cư xử không đúng đắn.
15
- Chiến dịch môi trường: Tập trung vào vấn đề giữ gìn vệ sinh khu vực
sinh sống và làm việc, giữ gìn môi trường đô thị và phát triển màu xanh thành
phố, làm sạch các con sông.
Ba chiến dịch này hướng tới mục tiêu là tạo sự thống nhất và kỷ cương,
giúp cho sự phát triển của xã hội một cách hài hòa.
Những bài học kinh nghiệm rút ra từ xây dựng nông thôn mới ở
Hàn Quốc
và các dịch vụ khác.
Thứ sáu: Phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh
toàn dân.Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ
giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng cây rừng để
hướng dẫn và yêu cầu các chủ rừng trên vùng đất trống, đồi trọc đều phải
trồng rừng và bảo vệ rừng. [13]
2.2.1.3. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, có đân số trên 1,3 tỷ người, trong
đó nông dân sống ở nông thôn gần 900 triệu người. Dân số Trung Quốc chiếm
21% dân số thế giới, trong khi đó diện tích đất canh tác chỉ chiếm 9% của thế
giới. Lại xuất phát điểm là một nước nghèo nhưng nhờ có công cuộc cải cách
mở cửa, Trung Quốc đã trội dậy như một hiện tượng thần kỳ của khu vực
Châu Á và trên thế giới.
Với một diện tích đất canh tác ít ỏi như vậy, dể nuôi sống 21% dân số
của thế giới là một bài toán hóc búa. Lời giải cho bài toán đó chính là chính
sách Tam nông của Trung Quốc mà nhiều người gọi là “ Quốc sách “.
Song song với việc thúc đẩy ngành nông nghiệp thúc đẩy mạnh mẽ đẻ
đảm bảo an ninh lương thực, ổn định đời sống nhân dân, Trung Quốc tìm
cách để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn để giải quyết việc làm và
nâng cao thu nhập cho người dân.
Hiện nay, cơ cấu lao động nông thôn Trung Quốc cũng chuyển dịch rất
nhanh, 226 triệu lao động nông thôn chuyển sang chế độ làm thuê trong các xí
17
nghiệp hoặc các ngành dịch vụ khác. Đạt được thành tựu đó là nhờ Trung
Quốc đã phát triển mạnh các doanh nghiệp ở nông thôn.
Kinh nghiệm thực hiện chính sách Tam nông ở Trung Quốc là bài học
cho chúng ta trong chiến lược đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhằm rút
ngắn khoảng cách giàu - nghèo, nân cao chất lượng cuộc sống cho nông dân.
[14]
nghiệp, kinh tế, giao thông công chính, đại diện Mặt trận tổ quốc, các đoàn
thể quần chúng làm thành viên) và Ban giám sát công đồng (gồm đại diện của
Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội và đại diện
của cộng đồng dân cư).
Cấp thôn bản: Mỗi thôn, bản thành lập một Ban phát triển thôn làm
nòng cốt trong quá trình thực hiện nội dung xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn. Nhiệm vụ của Ban phát triển thôn là động viên, khuyến khích nhân dân
tham gia xây dựng, thực hiện, giám sát các quá trình xây dựng các nội dung
về nông thôn mới ở xóm, bản. [6]
b) Tổ chức quán triệt, tuyên truyền, chọn điểm chỉ đạo
Cũng trong năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực
tuyến với lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo các địa phương để
triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020 (ngày 06/8/2010). Nhiều hoạt động tuyên truyền như họp báo, tổ
chức Hội nghị với các tổ chức quốc tế cũng đã được tiến hành.
Ban chỉ đạo Trung ương đã chọn 5 tỉnh là Phú Thọ, Thái Bình, Hà
Tĩnh, Bình Phước, An Giang và 05 huyện là Nam Đàn - Nghệ An, Hải Hậu -
tỉnh Nam Định, Phước Long - tỉnh Bạc Liêu, Phú Ninh - tỉnh Quảng Nam,
K‟Bang - tỉnh Gia Lai làm điểm chỉ đạo.