Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
iện nay có một điều không thể phủ nhận là vai trò đất đai đang ngày
càng trở nên quan trọng, nó gắn liền với sự tồn vong của một quốc
gia, là tài sản quý giá, là điểm tựa cho mọi hoạt động lao động sản
xuất và sinh hoạt của con người. Đặc biệt khi nền kinh tế thị trường phát triển
mạnh, quá trình đô thị hoá diễn ra trên quy mô toàn cầu gây ra những hậu quả
đáng lo ngại như: bùng nổ dân số, hiện tượng ô nhiễm môi trường, mất cân đối
trong cơ cấu sử dụng đất…thì việc sử dụng đất như thế nào là một bài toán khó.
Tất cả những trở ngại đó là áp lực nặng nề đặt lên vai các nhà quản lý đất đai.
H
Nước ta sau 20 năm đổi mới đã có những thành tựu vượt bậc nhưng hiện
vẫn đang là một nước nông nghiệp. Vì vậy, đất nông nghiệp đối với nước ta có ý
nghĩa to lớn. Là một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội, sản xuất nông
nghiệp là chủ yếu, Thanh Trì cũng không nằm ngoài thực tế đó. Huyện Thanh
Trì nằm ở “ngã ba đường”, là một nút nối giữa Hà Nội, Hà Tây và các tỉnh phía
nam như Hà Nam, Nam Định, Nghệ An…Do vậy, nó có vai trò hết sức quan
trọng đối với Thủ đô Hà Nội. Trong xu thế đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ,
huyện Thanh Trì cũng đang thay đổi từng ngày tác động to lớn đến việc sử dụng
đất trên địa bàn huyện. Hiện nay huyện Thanh Trì có số lao động nông nghiệp
chiếm tới 60.8%, diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 56%. Qua con số đó có
thể thấy đất nông nghiệp hết sức có ý nghĩa đối với huyện này. Tuy nhiên, tình
hình sử dụng đất nông nghiệp cũng như tình hình chung của cả nước đang diễn
biến rất phức tạp. Thực tế đang có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
sản xuất nông nghiệp và sự phát triển bền vững của huyện Thanh Trì.
Qua thời gian thực tập tại Phòng Tài nguyên và môi trường huyện, nhận
thức được tầm quan trọng của vấn đề quản lý đất nông nghiệp, tôi đã lựa chọn
đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì – Hà Nội”.
Quản lý đất nông nghiệp là một vấn đề rộng lớn nên trong phạm vi nghiên
cứu đề tài này tôi chỉ xin đề cập đến nội dung là quản lý nhà nước về đất nông
Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài nghiên cứu này chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được sự góp ý quý báu của các thầy
cô giáo, các cán bộ Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Thanh Trì để đề tài
hoàn thiện hơn.
Trong thời gian qua, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo, các trợ lý của Trung tâm đào tạo địa chính và kinh doanh bất động sản
Trường Đại học Kinh tế quốc dân và các cấp lãnh đạo cũng như các cán bộ
Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Thanh Trì. Qua đây, tôi xin trân trọng
gửi lời cảm ơn tới Quý cơ quan đã nhiệt tình giúp đỡ, đặc biệt tới Giáo viên
hướng dẫn GS.TSKH. Lê Đình Thắng đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ tôi hoàn
thành chuyên đề thực tập này.
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM ĐẤT NÔNG NGHIỆP
ất đai được hình thành qua quá trình lịch sử lâu dài nhờ sự phong
hoá đá mẹ dưới sự tác động của các yếu tố: nước, không khí,
sinh vật…Theo thời gian, sản phẩm phong hoá tích luỹ thêm chất hữu cơ và tồn
tại trong đó sự sống - vật chất đó được gọi là đất. Về thuật ngữ khoa học, đất đai
được hiểu theo nghĩa sau: “Đất đai là một khoảng không gian có giới hạn theo
chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm
thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản
trong lòng đất); theo chiều nằm ngang (là sự kết hợp của thổ nhưỡng, địa hình,
thuỷ văn, thảm thực vật cùng các thành phần khác)”.
Đ
Nhìn vào lịch sử tồn tại hàng ngàn năm của con người, có thể thấy rằng
là ngành trồng trọt chính là quá trình con người tác động vào ruộng đất một cách
trực tiếp (cày bừa, làm cỏ, đổ ải…) hay gián tiếp (bón phân, làm thuỷ lợi…)
nhằm làm thay đổi độ phì nhiêu của đất tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng
sinh trưởng và phát triển. Khi tác động vào đất mục tiêu cuối cùng của con
người là nâng cao năng suất cây trồng. Trong khi đó sự sinh trưởng và phát triển
của cây trồng chủ yếu dựa vào thuộc tính tự nhiên của đất đó là độ phì nhiêu.
Bởi vậy, con người luôn vận dụng những yếu tố kỹ thuật mới nhất kết hợp với
các biện pháp: bón phân, cày ải, bố trí cây trồng hợp lý với từng loại đất nhằm
tái tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đất. Trong quá trình này ruộng đất đóng
vai trò là đối tượng lao động.
Song song với đó, con người còn sử dụng đất như là một công cụ để tác
động lên cây trồng, con người làm tăng độ màu mỡ của đất nhằm thu được khối
lượng sản phẩm lớn hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Khi đó,
ruộng đất được coi là tư liệu lao động.
Như vậy, trong nông nghiệp đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu
lao động. Với ý nghĩa to lớn này mà đất nông nghiệp được coi là tư liệu sản xuất
chủ yếu, đặc biệt, không thể thay thế, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật
chất cho xã hội. Bởi vậy, Wiliam Petis đã khẳng định: “Lao động là cha, đất là
mẹ của mọi của cải vật chất”.
1.2. Đất nông nghiệp là nguồn cung cấp đất đai cho các ngành kinh tế khác.
Đối với nước ta cũng như đối với nhiều quốc gia trên thế giới, diện tích đất
nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong quỹ đất đai. Ở Việt Nam hiện nay diện tích
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
44
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
loại đất này khoảng 21 triệu ha. Mặt khác, diện tích đất nông nghiệp được sử
dụng không mấy hiệu quả, năng suất thấp dẫn đến thu nhập trên một đơn vị diện
tích nhỏ. Vì vậy, khi cần thiết có thể chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông
nghiệp sang các loại đất phi nông nghiệp đặc biệt là đất ở, đất xây dựng giao
55
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhiễm môi trường đất, môi trường nước làm giảm năng suất cây trồng và chất
lượng nông phẩm.
Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng rất có ý nghĩa với môi
trường và hệ sinh thái. Bởi vậy, khai thác và sử dụng đất đai phải hợp lý không
những đối với đất trực tiếp tham gia vào canh tác trong nông nghiệp mà cả đối
với đất đai khác để bảo đảm một môi trường sinh thái bền vững.
2. Đặc điểm đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là một loại đất trong quỹ đất đai vì thế nó mang những đặc
điểm chung của đất đai là điều tất yếu. Sau đây là một số đặc điểm chung của
đất đai và một vài điểm riêng biệt của đất nông nghiệp.
2.1. Đặc tính hai mặt: không thể sản sinh và có khả năng tái tạo
Đặc điểm đầu tiên mà tôi muốn đề cập đến là tính hai mặt của đất đai. Đất
đai có giới hạn về diện tích và không gian, nó bị giới hạn bởi ranh giới đất liền
trên bề mặt trái đất và bị giới hạn trong lãnh thổ mỗi quốc gia. Đất đai được hình
thành do quá trình biến đổi lâu dài của tự nhiên nên được coi là không có khả
năng sản sinh tạo nên đặc tính cơ bản nhất của đất đai. Cũng vì vậy mà đất đai
có tính khan hiếm và ngày càng trở nên có giá trị. Do đặc điểm cấu tạo của tự
nhiên mà đất có vị trí cố định không thể di dời được. Chính vị trí đã quy định
tính giới hạn về quy mô theo không gian của đất đai. Vị trí có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng về mặt kinh tế trong quá trình khai thác, sử dụng đất. Đối với đất phi
nông nghiệp thì vị trí có một ý nghĩa đặc biệt, nó quyết định phần lớn lợi nhuận
mang lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn đất nông nghiệp, cái quan trọng
không phải là vị trí mà là thuộc tính tự nhiên của đất tức là khả năng hấp phụ
nước, các chất khoáng, điều kiện thổ nhưỡng… Đất đai không thể sản sinh
nhưng bù lại nó có khả năng tái tạo. Khả năng phục hồi và tái tạo của đất chính
là khả năng phục hồi và tái tạo độ phì thông qua tự nhiên hay do hoạt động của
con người. Lợi dụng khả năng tái tạo của đất trong lịch sử con người đã có
những hình thức canh tác như: bỏ hoang, bỏ hóa,…chủ yếu dựa vào khả năng
• Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất
• Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
• Định giá đất
Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các
chính sách tài chính về đất đai. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người dân
thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất…Việc quy định đất đai thuộc sở hữu
toàn dân sẽ giúp Nhà nước quản lý thống nhất nguồn lực đất đai đồng thời có
biện pháp sử dụng hiệu quả, hợp lý trong điều kiện đất đai ngày càng khan hiếm.
2.3. Tính đa dạng và phong phú.
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
77
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tính đa dạng và phong phú của đất đai trước hết do đặc tính tự nhiên của
đất đai và tính cố định của nó quyết định. Đất đai được hình thành do quá trình
phong hóa đá mẹ, đá mẹ khác nhau hình thành nên các loại đất khác nhau. Vì
vậy, có nhiều loại đất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp bởi chất đất màu mỡ
phù hợp cho cây trồng như: đất phù sa, đất đỏ bazan, đất feralit đỏ vàng…Mỗi
loại đất có thể sử dụng với nhiều mục đích khác nhau nhưng tùy thuộc vào vị trí,
tính chất của đất mà có sự phân bổ cho phù hợp. Với đất nông nghiệp, chất đất
là yếu tố quan trọng bậc nhất, mặt khác mỗi loại cây trồng lại có điều kiện về
nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng khác nhau nên cần phải biết khai thác triệt để lợi
thế của từng loại đất để thu được nguồn lợi kinh tế lớn cao nhất.
3. Phân loại đất nông nghiệp.
Hiện nay có nhiều quan điểm về phân loại đất nông nghiệp, tuỳ vào từng
tiêu chí phân loại mà đất nông nghiệp được chia thành những loại đất khác nhau.
Theo Luật đất đai (cả năm 1993 và năm 2003) đều phân loại đất đai theo mục
đích sử dụng. Theo đó, Điều 11 Luật Đất đai 1993 và các văn bản hướng dẫn thi
hành đất được chia thành 6 loại trong đó đất nông nghiệp bao gồm các loại đất:
(1) Đất trồng cây hàng năm:
Qua việc phân loại đất như trên ta thấy rằng Luật Đất đai 2003 đã quy định
cụ thể rõ ràng hơn về các loại đất và cũng có sự thay đổi lớn: một số loại đất
thuộc đất chuyên dùng và đất lâm nghiệp đã chuyển sang đất nông nghiệp. Ví
dụ: đất làm muối trước đây được xếp và đất chuyên dùng nay đã được coi là đất
nông nghiệp…Sự đổi mới trong việc phân loại đất trong Luật đất đai 2003 so
với Luật đất đai 1993 thể hiện tư duy mới, các loại đất không trùng lặp nhau
tránh việc quản lý chồng chéo. Đất nông nghiệp hiện nay gồm 8 loại đất như
trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý.
Ngoài quan điểm phân loại đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng còn một
số quan điểm khác. Xét theo đặc tính đất đai hay theo thổ nhưỡng có các loại đất
nông nghiệp như sau:
(1) Đất phù sa
(2) Đất glây
(3) Đất cát biển
(4) Đất xám
(5) Đất bazan
(6) Đất đỏ vàng
4. Phân bố đất nông nghiệp.
Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội. Vì vậy,
việc phân bố quỹ đất nông nghiệp cũng bị chi phối bởi hai yếu tố đó.
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
99
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đất nông nghiệp phân bố rộng khắp trên tất cả các vùng trên cả nước tạo
nên một cơ cấu cây trồng đa dạng và phong phú. Quá trình phân bố đó từng
bước tạo nên các vùng tập trung chuyên canh theo hướng phát triển của nền kinh
tế hàng hóa. Tuy nhiên, sự phân bố đất nông nghiệp không đều giữa các vùng,
giữa các loại cây trồng dẫn đến mất cân đối giữa các loại cây trồng chủ yếu là
Nguồn: Số liệu Bộ Tài nguyên và môi trường
Từ biểu thống kê trên, ta thấy rằng diện tích đất nông nghiệp phân bố rất
không đồng đều giữa các khu vực trên lãnh thổ nước ta. Diện tích đất nông
nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất là vùng núi và trung du Bắc Bộ (24.7%) tiếp đến là
vùng Tây Nguyên chiếm tới 1/5 diện tích đất nông nghiệp của cả nước. Vùng
núi và trung du Bắc Bộ là vùng núi non hiểm trở, nhiều bà con dân tộc ít người
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
1010
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sinh sống nên hoạt động sản xuất ở đây chủ yếu là nông nghiệp và tập quán canh
tác còn lạc hậu, năng suất cây trồng thấp. Khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây rất
thích hợp cho một số loại cây như: chè, sắn....Đặc biệt khu vực này rất phù hợp
cho chăn nuôi phát triển bởi có những đồng cỏ xanh tốt nên vùng này có đàn bò
lớn nhất cả nước. Còn Tây Nguyên, có thể nói đây là một vùng đất mới, Nhà
nước ta đã có chính sách đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới. Nhờ chủ trương
này mà rất nhiều bà con ở vùng Tây Bắc và Đông bắc bộ đã tự nguyện đưa gia
đình vào vùng này khai phá. Mặt khác đây là vùng đẩt đỏ bazan màu mỡ rất
thích hợp cho trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày. Diện tích
đất nông nghiệp ở đây chủ yếu là trồng cà phê, hồ tiêu, ca cao, sắn…Vùng có
quỹ đất nông nghiệp nhỏ nhất cả về diện tích và cơ cấu là vùng Đông Bắc Bộ.
Vùng này có 9 tỉnh, thành chủ yếu thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đây là
vùng đất đai màu mỡ nhưng “đất chật người đông” nên diện tích cho nông
nghiệp rất hạn chế. Tuy vậy, đây lại là vựa lúa lớn thứ hai cả nước sau đồng
bằng sông Cửu Long.
Biểu 2: PHÂN BỐ ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO CƠ CẤU CÂY TRỒNG
STT
Vùng
Hiện trạng Quy hoạch 2010
1000 ha
Việc thay đổi diện tích từng loại cây trồng, vật nuôi nhằm mục tiêu cuối cùng là
sử dụng hợp lý, đầy đủ, tiết kiệm và hiệu quả nhất đất nông nghiệp.
II. SỰ CẦN THIẾT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1. Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.
Để nắm được khái niệm về quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trước hết
chúng ta cần tìm hiểu bản chất của quản lý nhà nước về đất đai nói chung.
Về bản chất, quản lý nhà nước về đất đai là sự tác động một cách có tổ
chức, điều chỉnh các hành vi của con người liên quan đến đất đai bằng quyền lực
của Nhà nước nhằm hướng ý chí và hành động của họ vào mục đích chung. Nhà
nước tác động lên các đối tượng thông qua việc thiết lập nên các mối quan hệ xã
hội, quan hệ giữa con người với con người, giữa các tập thể với nhau vì trước
hết Nhà nước là một cơ cấu có tổ chức bao gồm một hệ thống các cơ quan từ
trung ương đến địa phương. Đặc biệt là tác động một cách có tổ chức chứ không
tác động đơn lẻ đến một cá nhân, một chủ thể. Tính tổ chức đó đặt ra vấn đề là
làm sao hình thành nên các tổ chức với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp.
Mặt khác, các tổ chức đó được hoạt động như thế nào, phối hợp giữa các khâu,
các bộ phận ra sao làm cho guồng máy hoạt động theo đúng mục tiêu đã định.
Ngoài ra, Nhà nước còn thông qua các công cụ pháp luật, chính sách nhằm
hướng các hoạt động và hành vi của con người theo đúng quỹ đạo tạo ra.
Quản lý Nhà nước còn thể hiện quan hệ chủ thể, khách thể và đối tượng
quản lý. Chủ thể quản lý ở đây là bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa
phương cùng với toàn bộ công nhân viên chức trong các cơ quan này. Còn khách
thể quản lý chính là công dân, các chủ thể kinh tế, các doanh nhân…và đối
tượng quản lý là các quá trình kinh tế, các hoạt động kinh tế của các chủ thể
kinh tế nhằm hướng tới sự phát triển đất đai hay toàn bộ nền kinh tế theo mục
tiêu xác định.
Tóm lại, ta có thể hiểu quản lý nhà nước về đất đai như sau: “Quản lý nhà
nước về đất đai là sự tác động có tổ chức của bộ máy quản lý nhà nước và sự
điều chỉnh của Nhà nước bằng quyền lực vào quá trình kinh tế - xã hội và
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
Thứ tư, Nhà nước thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát các
hoạt động liên quan đến đất đai để phát hiện sớm những vi phạm và kịp thời có
biện pháp giải quyết. Nhờ hoạt động này mà Nhà nước có thể quản lý được quỹ
đất tốt hơn, không để tình trạng sử dụng đất diễn ra lộn xộn gây tác động xấu
đến tâm lý của nhân dân. Đất đai là tài sản quan trọng nhất của mỗi quốc gia, nó
cũng là bất động sản có giá trị của các cá nhân, hộ gia đình nên những vấn đề
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
1313
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
liên quan đến đất đai sẽ thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp dân cư. Vì vậy,
quản lý đất đai chặt chẽ cũng góp phần ổn định xã hội.
2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp như trình bày ở trên có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan
trọng nhất là đối với quốc gia thuộc nền văn minh lúa nước như nước ta. Xã hội
ngày càng phát triển kéo theo những vấn đề vô cùng phức tạp liên quan đến đất
đai. Mặc dù sử dụng đất nông nghiệp không quá bức xúc như đất ở nhưng hoà
trong xu thế chung, dân số tăng nhanh trên phạm vi toàn cầu khiến diện tích đất
nông nghiệp đang bị thu hẹp đáng kể. Thực tế đó đặt ra một bài toán khó cho
mọi quốc gia. Diện tích đất nông nghiệp đang giảm sút nghiêm trọng đi đôi với
việc khai thác, sử dụng không hiệu quả làm tăng diện tích bị sa mạc hoá khiến
việc sử dụng đất nông nghiệp như thế nào trở nên cấp bách.
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, tại các nước đang phát triển trong thế
kỷ XX có đến một nửa số người nghèo sống ở đô thị trong tình trạng sức khoẻ
và cuộc sống bị đe doạ. Mặc dù vậy, đô thị hoá vẫn đang là giải pháp cho sự
phát triển. Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho diện tích đất
nông nghiệp bị thu hẹp nhanh chóng. Chính vai trò to lớn của đất nông nghiệp
và những nguy cơ đang tiềm ẩn đối với đất nông nghiệp mà các quốc gia trên thế
giới cần phải có biện pháp quản lý đất nông nghiệp hợp lý và chặt chẽ hơn. Nhà
nước cần phải đặt ra những quy tắc quản lý nhằm phân phối quỹ đất nông
nên phức tạp và rối ren, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước. Vì những lý
do trên đây mà quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp
bách thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành.
IV. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG
NGHIỆP
Đất đai ngày nay trong đó có đất nông nghiệp không chỉ là nguồn tài
nguyên khan hiếm mà đã trở thành nguồn lực to lớn của mỗi quốc gia. Vì vậy,
công tác quản lý Nhà nước về đất đai phải tương xứng với nguồn lực to lớn đó.
Vậy nội dung cụ thể về quản lý nhà nước về đất đai ra sao? Theo văn bản pháp
lý cao nhất về đất đai là Luật đất đai có quy định cụ thể về các nội dung quản lý
đất đai trong khoản 2, Điều 6 - Luật đất đai 2003:
a, Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và
tổ chức thực hiện các văn bản đó;
b, Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính;
c, Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
d, Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
1515
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đ, Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất;
e, Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận (sau đây viết tắt là GCN) quyền sử dụng đất;
g, Thống kê, kiểm kê đất đai;
h, Quản lý tài chính về đất đai;
i, Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất
triển khai thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả, từng bước đưa công tác quản
lý nhà nước về đất đai nói chung đi vào nề nếp.
1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
nông nghiệp và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Mọi quốc gia trên thế giới đều thiết lập một hệ thống pháp luật về đất đai
nhằm điều chỉnh các quan hệ đất đai. Ở Việt Nam, Nhà nước quản lý đất đai
thông qua các công cụ quản lý: công cụ tài chính, công cụ tổ chức hành chính
trong đó quan trọng nhất là công cụ pháp luật.
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 được ban hành nhằm thể chế
hóa chính sách đất đai góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách đất
đai, từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng đất. Luật đất đai năm 1993 đã
được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998 và 2001 và mới đây nhất Luật đất đai
2003 được ban hành với nhiều nội dung mới mang tính đột phá, Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất là một ví dụ. Trên cơ sở đó, các văn bản quy phạm pháp
luật được ban hành bao gồm: Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, của
Chính phủ, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị của Chính phủ, của các Bộ, ngành liên
quan. Ngoài ra, còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan quy định về
vấn đề đất đai như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật thuế sử dụng đất nông
nghiệp, Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất…và các văn bản hướng dẫn thi
hành. Trong đó có các văn bản ban hành riêng cho việc điều chỉnh các vấn đề
liên quan đến đất nông nghiệp. Hệ thống văn bản pháp luật được ban hành từ
trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho đến cấp huyện.
Đây là một công cụ không thể thiếu trong quản lý, sử dụng đất đai nói chung
cũng như đất nông nghiệp. Nó tạo nên cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động liên
quan tới đất đai. Các văn bản đó quy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể cũng
như khách thể liên quan tới đất đai nhằm sử dụng đất tiết kiệm, đầy đủ và hiệu
quả. Những quy định của pháp luật mang tính bắt buộc, đòi hỏi các đối tượng
phải tuân thủ nghiêm túc. Bởi lẽ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại
diện chủ sở hữu. Nhờ hệ thống pháp luật về đất đai, Nhà nước sẽ quản lý được
đất đai một cách chặt chẽ đồng thời thể hiện quyền bình đẳng của mọi công dân
loại, các dạng đất để có cách thức quản lý phù hợp. Một trong những biện pháp
không thể thiếu là thực hiện khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất. Thông
qua nội dung này, Nhà nước nắm được các thông tin về từng loại đất trên phạm
vi quản lý của mình một cách chi tiết cả về số lượng và chất lượng. Có thể nói,
đây chính là cái gốc của mọi vấn đề liên quan đến đất đai, công tác này là cơ sở
tạo nên một hệ thống thông tin địa chính hoàn chỉnh. Nhờ thông tin thu thập
được sẽ xây dựng bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch…Vì
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
1818
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vậy, khảo sát đo đạc, đánh giá, phân hạng đất là một nhiệm vụ tối cần thiết đối
với công tác quản lý đất đai.
Việc khảo sát, đo đạc đánh giá, phân hạng đất là một công việc hết sức khó
khăn và phức tạp bởi vì công tác này phải tiến hành trên thực địa phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện địa hình, khí hậu của địa phương. Nhà nước ta đã triển khai
công tác này từ rất sớm. Trước đây nền kinh tế còn nghèo nàn, khoa học kỹ thuật
còn lạc hậu nên việc khảo sát, đo đạc gặp rất nhiều trở ngại, các công việc thực
hiện bằng phương pháp thủ công nên độ chính xác thấp. Ngày nay, chúng ta đã
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới như hệ thống định vị toàn cầu
GPS, hệ thống thông tin địa lý GIS, công nghệ số…giúp cho việc khảo sát, đo
đạc đơn giản hơn, nhanh hơn và chất lượng cũng cao hơn.
Đối với đất nông nghiệp, việc đánh giá phân hạng đất cần dựa trên cơ sở
khoa học. Các căn cứ để phân hạng đất nông nghiệp bao gồm: chất đất, vị trí, địa
hình, điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện tưới tiêu của từng xứ đồng… Dựa trên
những tiêu chí này mà đất nông nghiệp được phân thành các hạng khác nhau. Đó
là cơ sở để xác định giá trị của đất nông nghiệp đặc biệt khi cần tính thu nhập từ
chuyển quyền sử dụng đất, tiền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước
thu hồi đất…
2.2. Lập bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp.
vật, yếu tố khí hậu khác nhau tạo ra điều kiện nhất định cho việc sử dụng đất
theo các mục đích khác nhau. Như vậy, muốn sử dụng đất cần phải tiến hành
quy hoạch sử dụng đất. Về khái niệm: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các
biện pháp của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất và quản lý đất đai đầy đủ, hợp
lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất và tổ
chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường đất”
Ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, các cấp chính quyền có thể
thực hiện quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hoặc theo ngành. Quy hoạch sử
dụng đất nông nghiệp là hình thức quy hoạch sử dụng đất theo ngành. Xét trên
phạm vi rộng, quy hoạch sử dụng đất hiện đại trong lĩnh vực nông nghiệp mới
đặt ra khi dân số tăng nhanh, công nghiệp hóa ảnh hưởng sâu sắc tới sản xuất
nông nghiệp, đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp để thoát khỏi tình
trạng sản xuất thuần nông.
Ngoài công tác quy hoạch, Nhà nước còn phải lập kế hoạch sử dụng đất.
Đối với kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp có thể hiểu một cách khái quát như
sau: Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp là việc xác định mục tiêu, phương
hướng sử dụng đất nông nghiệp, về chuyển đổi diện tích cây trồng, diện tích đất
phải thu hồi, diện tích mới đưa vào sử dụng, đề ra các giải pháp thực hiện và tiến
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
2020
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hành tổ chức thực hiện các nội dung đó. Kế hoạch sử dụng đất chính là sự cụ thể
hóa quy hoạch sử dụng đất trong từng giai đoạn.
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong đó bao hàm cả đất nông
nghiệp đã được Luật đất đai 2003 quy định rất cụ thể, chặt chẽ và khoa học từ
Điều 21 đến Điều 30. Các nội dung quy định bao gồm: Nguyên tắc lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 21); Căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất (Điều 22); Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 23); Kỳ quy
thẩm quyền phê duyệt. Tuy nhiên, chất lượng quy hoạch đang ở mức khiêm tốn,
việc quy hoạch sử dụng đất ở đâu đó còn hạn chế thậm chí còn mang tính ước lệ.
Tình trạng xây dựng quy hoạch rồi để đó (“quy hoạch treo”) vẫn còn tồn tại. Để
phần nào khắc phục thực trạng đó, Luật đất đai 2003 đã có những điều quy định
chặt chẽ về thẩm quyền phê duyệt quy hoạch và trách nhiệm thực hiện quy
hoạch của từng đơn vị liên quan. Bên cạnh đó, việc quy định công khai quy
hoạch sử dụng đất tại trụ sở cơ quan để mọi người dân đều biết cũng thể hiện
bản chất của Nhà nước ta: công bằng, dân chủ và công khai.
Quy hoạch sử dụng đất là một quá trình thực hiện trong thời gian dài (kỳ
quy hoạch sử dụng đất là 10 năm), trong thời gian đó tình hình sử dụng đất sẽ có
rất nhiều biến động hay nói cách khác quy hoạch sử dụng đất không mang tính
vĩnh cửu mà mang tính khả biến rất rõ rệt. Với sự tác động của các yếu tố tự
nhiên và các yếu tố phát triển của xã hội làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất,
ảnh hưởng tới đời sống kinh tế - xã hội và đặt ra yêu cầu bảo vệ môi trường sinh
thái. Do đó, quy hoạch sử dụng đất trong một thời gian nhất định không còn phù
hợp nếu không có sự điều chỉnh sẽ làm kìm hãm sự phát triển của xã hội. Vì vậy,
Luật đất đai 2003 đã có quy định về điều chỉnh quy hoạch. Việc điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất khi cần thiết sẽ đảm bảo quy hoạch sử dụng đất có chất lượng
và có tính khả thi cao.
Những văn bản pháp lý liên quan tới quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
ngoài Luật đất đai còn rất nhiều văn bản khác như: Nghị định 68/2001/NĐ-CP
của Chính phủ, Nghị quyết số 01/1997/NQ-QH9…
Thực hiện theo những quy định hiện hành, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm mục tiêu ổn
định xã hội. Đối với đất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta chủ trương hạn chế
việc chuyển mục đích sử dụng của diện tích đất trồng lúa nước và diện tích đất
rừng nhất là rừng phòng hộ. Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, các địa phương cũng đã quán triệt tinh thần này và có sự phân bổ quỹ đất
hợp lý, bảo đảm một diện tích đất trồng cây lương thực nhất định.
Để thiết lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho một vùng, một địa
nghiệp được giao cho người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất. Theo
Điều 33 – Luật đất đai 2003, những trường hợp đó bao gồm:
1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy
định;
2. Tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm
về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối;
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
2323
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3. Đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất để sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc kết hợp với
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;
4. Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;
5. Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp.
Còn đất nông nghiệp được giao có thu tiền sử dụng đất chỉ có trường hợp:
“Tổ chức kinh tế được giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thủy sản, làm muối”.
Việc giao đất nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất là một biện pháp để giải
quyết hài hòa lợi ích kinh tế thu được từ đất giữa người sử dụng đất và Nhà
nước. Hầu hết các trường hợp không phải nộp tiền sử dụng đất là nhằm khuyến
khích người dân đầu tư sản xuất vào các loại đất đó để bảo vệ lợi ích của người
dân trực tiếp lao động và lợi ích chung của cả cộng đồng như trồng rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng.
Về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp được giao, theo quy định hiện hành
các trường hợp sau thì người sử dụng đất nông nghiệp được sử dụng ổn định lâu
dài:
1. Đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;
2. Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng (đất được giao cho cộng
quá trình sử dụng, đất đó phù hợp với quy hoạch, người sử dụng đất sẽ được
Nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất.
Những quy định về thuê đất được cụ thể hóa trong các Điều 31, 32, 35, 67 –
Luật đất đai 2003.
4.2. Thu hồi đất nông nghiệp.
Luật đất đai 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định
hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức,
UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai” hay nói cách
khác là việc chấm dứt quyền sử dụng đất của người được Nhà nước giao đất,
cho thuê đất. Luật đất đai 2003 đã có riêng một mục về thu hồi đất. Trong đó nói
rõ các trường hợp thu hồi đất, bồi thường, tái định cư cho người bị thu hồi đất
cho đến thẩm quyền thu hồi đất. Thu hồi đất là vấn đề vô cùng phức tạp bởi nó
liên quan đến lợi ích của rất nhiều đối tượng: người bị thu hồi đất, đơn vị sẽ sử
dụng đất bị thu hồi, cơ quan Nhà nước có trách nhiệm thu hồi đất…Vì vậy, vấn
đề này được dư luận nói đến rất nhiều và cũng có nhiều văn bản ban hành hướng
dẫn thực hiện những quy định về thu hồi đất. Khi Nhà nước thu hồi đất mà
người bị thu hồi đất có GCN quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp
GCN thì được bồi thường. Chính phủ đã ban hành Nghị định 197/2004/CP ngày
03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đối với
đất nông nghiệp “hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh Địa chính K44
2525