Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp sử dụng đất cho phát triển cơ sở hạ tầng khu dân cư nông thôn huyện thanh trì thành phố hà nội - Pdf 80


1. Mở đầu 1.1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu
Cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng, nền tảng cho quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn. Trong đó các công trình hạ tầng kỹ thuật có tác động mạnh đến sản xuất
và tiêu thụ hàng hoá, cùng với các công trình hạ tầng xã hội thúc đẩy các hoạt
động dịch vụ và nâng cao đời sống ngời dân nông thôn.
Song song với quá trình đó, ở một số vùng nông thôn nớc ta, quá trình
đô thị hoá cũng đang diễn ra rất sôi động, việc đầu tiên là phải đầu t phát triển
cơ sở hạ tầng, điều này đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với sử dụng
đất đai.
Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam
khoá VII về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội nông thôn và đã chỉ
rõ nghiên cứu giải quyết các vấn đề về quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bố
trí các điểm dân c, kết cấu hạ tầng, kiến trúc nông thôn, tổ chức cuộc sống,
bảo vệ và cải thiện môi trờng sống [2].
Việc quy hoạch và đầu t xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng một cách
khoa học, hợp lý sẽ là cơ sở vững chắc cho quá trình đô thị hoá, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, đảm bảo tính ổn định lâu dài, tiết kiệm vốn đầu t, tránh tình trạng
đầu t chắp vá, manh mún, dàn trải và không hiệu quả nh hiện nay.
Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố Hà Nội nói chung và quá trình đô thị hoá của các huyện ngoại thành
nói riêng, nhu cầu sử dụng đất cho việc phát triển cơ sở hạ tầng ngày càng trở
nên bức xúc. Thanh Trì là một trong 5 huyện ngoại thành của Hà Nội, cũng
nh các huyện khác Thanh Trì chịu tác động trực tiếp của quá trình đô thị hoá,
các khu dân c ven đô đã có sự biến đổi cả về lợng và về chất để phù hợp với
tình hình mới do sức ép của tăng dân số, đô thị hoá, song vẫn tồn tại những đặc


Bố cục luận văn bao gồm các nội dung đợc thể hiện trong Hình 1. 2
3



4
dân c
dân c
đình
chùa
Chợ
Trờng
Xóm A
Xóm B
XómC
Thổ canh
đình làng

Hình 2. Bố cục khu dân c trung tâm Hình 3. Khu dân c theo cụm
Hiện nay, đất KDC nông thôn đợc nhìn nhận dới nhiều góc độ khác
nhau, theo mục đích sử dụng đất thì: Đất KDC nông thôn là đất đợc xác định
chủ yếu để xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông
thôn. [33].
Theo Luật đất đai năm 2003 [34]: đất ở của hộ gia đình, cá nhân tại nông
thôn bao gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời
sống, vờn, ao trong cùng một thửa đất thuộc KDC nông thôn, phù hợp với quy
hoạch xây dựng điểm dân c nông thôn đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền xét duyệt.

6

- Hệ thống CSHT xã hội hay các công trình công cộng (CTCC) nhằm đáp
ứng yêu cầu của các hoạt động về sinh hoạt chung của cả cộng đồng, nh bảo
vệ sức khoẻ (bệnh viện, trạm xá,), giáo dục , các sinh hoạt văn hoá (đình
chùa, nhà văn hoá, th viện, ), thể dục thể thao (sân vận động, sân tập, nhà
thi đấu, bể bơi,.), các công trình trụ sở hành chính,
Các công trình CSHT xã hội đợc coi nh một trong những nội dung cần
đợc nghiên cứu giải quyết của quy hoạch không gian. Các công trình HTKT
đợc nghiên cứu triển khai trên cơ sở của những phơng án quy hoạch không
gian đã xác định.
Trải qua lịch sử phát triển, CSHT trong các KDC nông thôn thờng đợc
tạo dựng bằng chính sức lao động và sự đóng góp của cộng đồng dân c. CSHT
nông thôn là yếu tố quan trọng tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế - xã hội
nông thôn, đồng thời hệ thống CSHT nông thôn cũng chịu ảnh hởng của nhiều

hớng tới sự phát triển bền vững ở khu vực nông thôn [2],[63].
2.1.2.2. Các yếu tố ảnh hởng đến phát triển cơ sở hạ tầng
- Mật độ dân c: CSHT nông thôn là các công trình mang tính cộng
đồng, mọi ngời cùng góp phần xây dựng, cùng sử dụng. Nhu cầu sử dụng và
tiềm năng phát triển các công trình hạ tầng phụ thuộc phần lớn vào sự đóng góp
của các hộ dân c. Bên cạnh đó còn có sự đầu t, hỗ trợ của Nhà nớc và một
số tổ chức khác, tuy nhiên tỷ lệ này cha nhiều so với nhu cầu phát triển.
Thực tế cho thấy khu vực nào đông dân, sức đóng góp sẽ nhiều hơn, các
công trình CSHT sẽ có cơ hội đợc xây dựng nhanh và mạnh hơn. Điều này thể
hiện rất rõ tại các xã đồng bằng có mật độ dân c đông, đều có CSHT hoàn
thiện hơn so với các xã trung du, miền núi có mật độ dân c tha thớt[2].
- Điều kiện tự nhiên: các yếu tố về địa hình, thuỷ văn, có liên quan
trực tiếp đến sự hình thành và phát triển các công trình HTKT cơ bản nh
đờng giao thông, hệ thống cấp, thoát nớc. Điều kiện tự nhiên tác động mạnh
đến cấu trúc làng, xã, vì vậy hệ thống CSHT ở các vùng có điều kiện tự nhiên
khác nhau cũng rất khác nhau.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: 8

+ Điều kiện xã hội bao gồm chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà
nớc, sự hỗ trợ đầu t của Chính phủ và chính quyền các cấp trên phạm vi vĩ
mô. Các chính sách phát triển nông thôn của Đảng, các dự án đầu t của Nhà
nớc đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nông thôn nói chung và phát
triển CSHT nói riêng.
+ Điều kiện kinh tế - xã hội còn thể hiện ở khả năng đóng góp và ý thức
trách nhiệm của ngời dân đối với việc xây dựng, vận hành, khai thác và bảo
dỡng các công trình hạ tầng của làng xã. Vì vậy công tác tuyên truyền, giáo
dục để nâng cao trình độ dân trí, huy động sự đóng góp, sự tham gia của mọi

phần lơng thực, thực phẩm của dân c đô thị và vùng đô thị.

Vùng
SX NN
Đô thị
trung tâm
Các công
trình hạ
tầng đầu
mối
Đầu
mối
GT
đg xuyên tâm
Cơ sở
sản xuất
dịch vụ
Cơ sở
du lich
Cơ sở sản xuất
CN, TTCN
Khu vực
bảo tồn
lịch sử,
văn hoá
Cơ sở du
lịch, nghỉ
ngơi,
công viên
đờng vành đai

mà có quá trình phát triển nông thôn riêng, tuy nhiên, đều có chung một mục
đích là phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và mức sống dân c, tăng cờng
kiến thiết CSHT để giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành
thị, hạn chế sự suy thoái tài nguyên và bảo vệ môi trờng sinh thái.
Có thể khái quát một số đặc điểm chủ yếu về phát triển khu dân c
(KDC) nông thôn và phát triển CSHT KDC nông thôn ở một số nớc trên thế
giới nh sau:
2.2.1. Một số nớc châu Âu
Nhìn chung, các quốc gia châu Âu mà đặc biệt là các nớc Tây Âu có
đặc điểm chung là công nghiệp đã phát triển cao, nền nông nghiệp đã đợc cơ
giới hoá, do đó lực lợng lao động trong ngành nông nghiệp chỉ chiếm phần
nhỏ so với lao động công nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp khác.
Theo quan niệm của ngời dân châu Âu thì cuộc sống ở nông thôn là sự ao ớc
của ngời dân đô thị [63].
2.2.1.1. Vơng quốc Anh
Khác với phần lớn các nớc ở lục địa châu Âu, nông thôn nớc Anh hầu
nh không bị chiến tranh tàn phá. Các điểm dân c nông thôn truyền thống có
sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với những ngời dân sống trong các thành phố lớn và
các khu công nghiệp (KCN) tập trung. Ngời ta tìm mọi cách để có chỗ ở trong 11

các làng quê nông thôn. Mức độ ô tô hoá và mạng lới giao thông phát triển,
rút ngắn các khoảng cách về thời gian từ chỗ ở tới nơi làm việc.
Quy mô làng xóm của nớc Anh thờng từ 300-400 ngời. Tuy dân ít
nhng đầy đủ các công trình văn hoá, xã hội và các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật
khác. Đờng ô tô dẫn đến từng nhà. Nhiều ngời dân muốn bỏ chỗ ở không
thoải trong các căn hộ khép kín nơi đô thị, đi tìm chỗ ở lý tởng nơi miền quê.
ở đó họ có thể hởng không khí trong lành, phong cảnh đẹp và yên tĩnh, cho

thống đê biển. Trên các vùng đất trũng đó đợc chia thành từng khu để lập các
điểm dân c nông nghiệp. Trung tâm vùng xây dựng một thành phố cỡ 12.000
dân, với các công trình công cộng (CTCC) đạt tiêu chuẩn cao. Xung quanh
thành phố là các làng cách nhau từ 5-7 km với quy mô mỗi làng khoảng 1.500-
2.500 dân. Mỗi làng đợc xây dựng đầy đủ các công trình văn hoá xã hội và
nhà ở cho nông dân, công nhân nông nghiệp. Mỗi làng có các xóm (hamlet) với
quy mô khoảng 500 ngời. Sản xuất nông nghiệp chủ yếu đợc tổ chức theo
kiểu các điền chủ thuê đất của Nhà nớc, tập hợp nhân công canh tác. Số ngời
này trở thành công nhân nông nghiệp và sống trong các làng nói trên. Mạng
lới giao thông đợc tổ chức rất tốt. Đờng ô tô nối liền các điểm dân c, bảo
đảm liên hệ thuận tiện và nhanh chóng và từ nơi ở đến các cánh đồng và khu
vực tiêu thụ chế biến (village- processing and market centre). Đây là công việc
khó khăn và tốn kém, vì phải xây dựng mới hoàn toàn cả một hệ thống đờng
[63].
2.2.1.4. Liên bang Nga
Cùng nằm trên lục địa châu Âu, nhng khác với các nớc Tây Âu, Liên
bang Nga (thuộc Liên Xô cũ) và các nớc Đông Âu trớc đây, xây dựng nông
thôn theo mô hình phát triển nông thôn xã hội chủ nghĩa.
Liên bang Nga có diện tích tự nhiên 1.709,8 triệu ha, toàn nớc Nga có
khoảng 148.000 điểm dân c nông thôn, các điểm dân c nông thôn đợc phân
chia phụ thuộc vào số dân nh sau:
Điểm dân c
nông thôn lớn loại một (dân số hơn 5.000 ngời)
Điểm dân c nông thôn lớn loại hai (dân số từ 1.000 đến 5.000 ngời) 13

Điểm dân c nông thôn trung bình (dân số từ 200 đến 1.000 ngời)
Điểm dân c nông thôn nhỏ (dân số ít hơn 200 ngời) [32].

cộng nh sân thể thao, câu lạc bộ, lớp học, trạm xá, khu công viên nghỉ ngơi
giải trí đã tạo cho điểm dân c một môi trờng sống trong lành, yên tĩnh.
Với thiết kế quy hoạch xây dựng một điểm dân c nông thôn nh vậy, đã
mang đậm nét của đô thị hoá (ĐTH) và giải quyết tơng đối thoả mãn các nhu
cầu thờng ngày của con ngời là làm việc, học tập, ăn ở, nghỉ ngơi...
Đến giai đoạn sau này trong công trình nghiên cứu Quy hoạch và xây
dựng kiến trúc nông thôn G.A.Deleur và I.U.Ph.Khôkhôn đã đa ra sơ đồ tổ
chức quy hoạch tại một vùng lãnh thổ cấp huyện gồm 21 điểm dân c nhỏ. ở
sơ đồ này đa ra 3 cấp trung tâm là trung tâm của huyện, trung tâm thị trấn tiểu
vùng và trung tâm của làng.
Trung tâm của huyện là trung tâm có đơn vị hành chính cho toàn huyện
bao gồm các công trình phục vụ cho huyện và phạm vi lân cận thuộc thị trấn
huyện nh nhà làm việc của Xô viết huyện, các công sở, nhà văn hoá, sân, bãi,
trạm trại, các xí nghiệp công nghiệp quốc gia, các xí nghiệp nông trang và nhà
ở nông trang.
Trung tâm thị trấn tiểu vùng (một vùng gồm nhiều làng) cũng bao gồm
các cơ quan công sở Xô viết của tiểu vùng, các công trình sinh hoạt, văn hoá,
các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, các xí nghiệp nông trang, các công
trình sân kho, trạm trại phục vụ sản xuất, các trụ sở nông trờng và nhà ở dân
c trong khu vực phạm vi thị trấn tiểu vùng.
Trung tâm của làng bao gồm các trụ sở nông trang, các cơ quan công sở
khác, trụ sở Xô viết làng, các công trình sinh hoạt, văn hoá, các công trình sân
kho, trạm trại, nhà phục vụ sản xuất hoặc có các xí nghiệp nông trang hay xí
nghiệp công nghiệp quốc doanh và nhà ở của dân c trong làng.
Trong mỗi điểm dân c, trên cơ sở hiện trạng, quy hoạch lại khu nhà ở,
khu sản xuất, khu trung tâm công cộng, khu kho bãi, trạm trại, khu văn hoá thể
thao một cách hợp lý, giải quyết một loạt các quan hệ giữa khu ở nông trang 15


16

dựng với tiêu chuẩn cao, có cây xanh hai bên. Đờng nối các khu nhà ở riêng
biệt với nhau hay dẫn từ khu nhà ở tới khu đất canh tác rộng từ 12-14 m. Còn
lại là đờng trong khu vực nhà ở chỉ dùng cho xe du lịch và ngời đi bộ, rộng
từ 6-8 m phù hợp với không gian kiến trúc nông thôn [63].
2.2.1.6. Ba Lan
Trớc năm 1960, việc xây dựng nông thôn ở Ba Lan chịu ảnh hởng
cách làm của Liên Xô cũ một cách rõ rệt nh: đất xây dựng, diện tích xây dựng
quá rộng; nhà ở một, hai tầng thờng bố trí dọc theo đờng ô tô,
Giai đoạn sau năm 1960, Ba Lan đã tiến hành phân loại các điểm dân c
gắn với việc phân loại sản xuất lớn của nông nghiệp chia thành ba nhóm dân
c: trang ấp (khu ở); hợp tác xã và các điểm dân c thị trấn (huyện).
Đến năm 1963 lại phân nhỏ ra thành nhiều cấp hơn, bao gồm: điền trại
và khu ở tại chỗ; trang ấp và khu ở; hợp tác với khu ở tập trung và hợp tác xã
với điểm dân c tập trung hoặc thị trấn huyện.
Theo kinh nghiệm của Ba Lan, những điểm dân c dới 1.400 ngời,
muốn thoả mãn yêu cầu nâng cao mức sống của nông dân thì đầu t xây dựng
CSHT sẽ tốn kém, không đạt đợc hiệu quả kinh tế [63].
2.2.2. Một số nớc châu á
2.2.2.1. Trung Quốc
Trung Quốc là một nớc đất rộng, ngời đông, diện tích lãnh thổ Trung
Quốc lớn thứ 3 thế giới (sau Nga và Canada); dân số đông nhất thế giới,
khoảng trên 1,27 tỷ ngời, trong đó khu vực nông thôn chiếm 64% [35]. Đơn vị
cơ sở ở nông thôn của Trung Quốc là làng hành chính, toàn quốc có trên
800.000 làng hành chính, bình quân mỗi làng có khoảng 1.000 dân. Trong
chiến lợc hiện đại hoá đất nớc, việc phát triển các cộng đồng nông thôn có ý
nghĩa quan trọng [63].
Trung Quốc là một nớc có điều kiện chính trị, kinh tế và địa lý các

động cha có việc làm, tạo điều kiện cho những ngời nông dân rời bỏ nông
nghiệp nhng không rời thị trấn, làng mạc. 18

u điểm của mô hình phát triển công nghiệp nông thôn là sự tiếp nhận
công nghiệp mà tránh đợc sự tập trung dân quá đông ở các thành phố và KCN.
Ngời nông dân có thời cơ để làm giầu nhanh chóng, nông thôn phát triển
mạnh, mức sống của nông thôn và thành thị xích lại gần nhau hơn [31].
2.2.2.2. Vơng quốc Thái Lan
Thái Lan là một trong những nớc lớn cả về diện tích và dân số trong
vùng Đông Nam á, là nớc nông nghiệp xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới; xuất
khẩu cao su tự nhiên đứng đầu thế giới. Cả nớc có 52.927 làng xóm. Thái Lan
đã trải qua 6 kế hoạch 5 năm, khởi đầu từ năm 1962 cho đến hết năm 1991. Kế
hoạch 5 năm lần thứ năm (1982-1986) đã chú trọng đến sự phát triển các vùng
nông thôn nghèo thuộc 288 huyện với 12.562 làng xóm ở 38 tỉnh mà các kế
hoạch 5 năm trớc đó thực hiện cha có hiệu quả. Có 32 dự án phát triển các
khu vực nông thôn này đợc thực hiện với sự tham gia của nhiều Bộ, nhờ đó
đời sống của nông dân đã đợc cải thiện so với trớc.
Chính sách kinh tế của Thái Lan là u tiên phát triển giao thông, đặc biệt
là giao thông đờng bộ. Từ kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1973-1976), mạng lới
GTNT đã đợc quan tâm phát triển, đặc biệt là các đờng nối liền khu sản xuất
với các thị trờng chế biến, tiêu thụ. Tính đến năm 1976, năm cuối của kế
hoạch, đã xây dựng mới và nâng cấp đợc 16.569 km đờng nông thôn, phần
lớn tập trung vào các vùng có tiềm năng sản xuất.
Năm 1987, các dự án phát triển nông thôn đã cung cấp thêm việc làm
thời vụ cho khoảng 4 triệu ngời. Con số này còn rất nhỏ so với yêu cầu thực tế
của đất nớc, vẫn còn tồn tại 3.824 làng thiếu nớc sản xuất nông nghiệp, tập
trung phần lớn ở vùng Đông Bắc; 12.678 làng thiếu nớc sinh hoạt, đặc biệt

Vào đầu năm 1971 có 22.708 làng đợc chọn làm thí điểm lập kế hoạch
triển khai các dự án xây dựng CSHT, năm 1973 các dự án Làng mới đã lan ra
khắp cả nớc với 34.665 làng tham gia, đến năm 1978, các dự án phát triển
CSHT nông thôn cơ bản đợc hoàn thành.
Khi nông dân đã quen với cách làm việc cộng đồng và tự tổ chức các
chơng trình phát triển, chơng trình hớng vào mục tiêu tăng thu nhập cho 20

nông dân, đến cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, hầu hết các làng ở nông thôn
Hàn Quốc đều tham gia vào các dự án nâng cao thu nhập cho nông dân.
Thực hiện phơng châm làm từng bớc, từ thấp đến cao, từ thí điểm trên
diện hẹp đa ra toàn quốc, từ nông nghiệp lan sang các lĩnh vực khác để nông
dân có đủ thời gian chuyển đổi cách nghĩ, cách làm, có thời gian chọn lựa, đào
tạo cán bộ cơ sở và nông hộ có thời gian để tích luỹ tái sản xuất mở rộng. Sau
30 năm thực hiện phong trào trên, môi trờng sống và cuộc sống vật chất của
ngời dân nông thôn Hàn Quốc đợc cải thiện đáng kể, sản xuất mang tính
thơng mại đã phát triển. Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có
khả năng tự tích luỹ, tự đầu t và nhờ đó có khả năng tự phát triển.
Theo nghiên cứu của Trơng Xuân Khiêm [27], các nớc châu á nói
chung có đặc điểm: đều là các nớc nông nghiệp đang phát triển, có xấp xỉ
80% dân số sống và làm việc ở nông thôn. Các khu vực nông thôn phần lớn ở
trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Giao thông nội vùng chủ yếu thực hiện
trên đờng bộ. Vì vậy, việc phát triển hệ thống đờng bộ luôn luôn là mục tiêu
hàng đầu của các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Chỉ tiêu mật độ đờng km/km
2
và km/1000 dân c đợc coi là một trong
những chỉ số quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

9. Philippines 300 53,4 155.669 0,52 2,92
10. Thailand 542 56,7 150.000 0,29 0,65
11. Việt Nam 330 100.048 0,32 1,60
Nguồn: Quy hoạch, thiết kế và xây dựng đờng giao thông nông thôn [27]
Nhận xét chung: qua nghiên cứu tình hình phát triển nông thôn trên thế
giới từ Âu sang á, từ các nớc phát triển cao tới các nớc đang phát triển và
các nớc có chế độ chính trị khác nhau, ta thấy muốn phát triển nông thôn nhất
định phải xây dựng CSHT. Và trên hết phải có một mạng lới đờng giao thông
phát triển hợp lý mới có khả năng đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội đa
đất nớc tiến lên.
Mặt khác muốn giảm bớt sự di dân hàng loạt từ các vùng nông thôn vào
đô thị, ngăn cản sự phình to quá cỡ của các thành phố lớn, phải chủ động trong
việc đầu t quy hoạch và xây dựng nông thôn, tổ chức mạng lới trung tâm dịch
vụ gắn với khu ở và nhất thiết phải CNH nông thôn.
Nhiều quốc gia, đặc biệt là các nớc phát triển có xu hớng di chuyển
một bộ phận dân c ở các thành phố về sống ở nông thôn, vì nhiều lý do: ở nông
thôn CSHT không thua kém thành phố, có điều kiện gắn bó với thiên nhiên,
không bị ô nhiễm. Yếu tố quan trọng là CSHT hiện đại, đặc biệt có giao thông
phát triển, do đó từ nông thôn đi vào đô thị chỉ mất 30-45 phút. Kinh nghiệm của
nớc Đức trong việc hình thành các điểm dân c trung tâm đã góp phần tích cực
vào việc điều hoà sự phát triển giữa hai khu vực thành thị và nông thôn, hình
thành các loại đô thị vừa và nhỏ trên toàn quốc. Để đạt đợc điều đó, việc phát
triển hệ thống HTKT luôn giữ vai trò hàng đầu, tuy nhiên phải xác định đây là
công việc khó khăn và tốn kém, phải đợc tiến hành đầu t đồng bộ. Hệ thống
đờng giao thông luôn luôn giữ vai trò trọng yếu trong việc phát triển kinh tế -
xã hội nông thôn nh kinh nghiệm của các quốc gia đã cho thấy điều đó. 22


, tơng tự nh trong khu vực đô thị, tuy nhiên tỷ lệ giữa đất ở và chuyên
dùng trong đô thị là 1/2 còn đối với KDC nông thôn là 2/1 [9], [10], [46].
Việc nghiên cứu các KDC nông thôn trong cả nớc, theo các vùng kinh
tế cũng chỉ mang tính chất tơng đối, vì trong một vùng, một tỉnh, thậm chí
một huyện đã có sự khác biệt giữa các xã đồng bằng, trung du, miền núi. Sự 23

hình thành, phân bố các KDC nông thôn ở nớc ta hiện nay chủ yếu theo các
mô hình sau:
- Mô hình dân c phân bố tập trung: bao gồm KDC nông thôn ven nội,
ven thị hay KDC truyền thống vùng đông dân của ĐBSH, đồng bào Khơ me
Nam Bộ. ở mô hình này đất KDC nông thôn tập trung thành khu riêng biệt,
phần lớn dành cho việc làm nhà và các công trình phục vụ cho sinh hoạt. Đất
dành cho các hoạt động kinh tế gia đình (làm chuồng trại, vờn...) có rất ít. C
dân sống thành cộng đồng, tình làng nghĩa xóm đợc xác lập và trở thành nét
đẹp văn hoá của ngời Việt Nam. Tuy nhiên với đặc thù của sản xuất nông
nghiệp, nếu mức độ tập trung quá cao, trong điều kiện kinh tế còn thấp sẽ dẫn
đến khả năng phát triển kinh tế gia đình bị hạn chế, đặc biệt việc xây dựng các
công trình phụ sẽ dẫn đến môi trờng sinh thái bị ô nhiễm.
- Mô hình dân c phân bố phân tán: ở dạng này tồn tại ở hai thái cực
khác nhau. Thái cực thứ nhất mang tính phổ biến, nhng tự phát của các c dân
đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc. Do điều kiện đất nông nghiệp
ít, do tập quán du canh, du c nên ở một số nơi dân c không sống tập trung
thành làng bản mà sống rải rác trên các triền núi.
Thái cực thứ hai tuy không mang tính phổ biến, nhng mang tính tự giác
và chắc chắn ngày một tăng, đó là mô hình dân c theo kiểu làng vờn, kiểu
kinh tế trang trại, lâm trại, vờn rừng. Với mô hình dân c theo kiểu làng vờn,
do đặc thù của các loại cây trồng (hoa, rau, cây ăn quả, cây cảnh...) nhà cần xây

trên cọc bảo đảm an toàn trong mùa lũ. Mọi sinh hoạt của dân c (giáo dục, y
tế, văn hoá, xã hội...) không bị lũ gây cản trở, tạo đợc các cơ sở phúc lợi công
cộng hoạt động bình thờng ngay cả trong mùa lũ.
- Đối với vùng trung du, miền núi đang tiếp tục công tác định canh, định
c, đồng thời xây dựng các trung tâm cụm xã nhằm xây dựng CSHT kinh tế, xã
hội và từng bớc nâng cao mức sống của dân c [13].
Trong những năm qua, nhờ có chính sách đổi mới Đảng và Nhà nớc đã
quan tâm đầu t với phơng thức thực hiện Nhà nớc và nhân dân cùng làm 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status