Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN NGỌC QUYẾN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI XÃ ĐÔNG CAO, HUYỆN PHỔ YÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN, GIAI ĐOẠN 2011 - 2013 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá học : 2010 - 2014


Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Dương Văn Sơn Thái Nguyên - 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một luận văn nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 11 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Ngọc Quyến
LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau
khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã
Đông Cao - huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên với đề tài: “Nghiên cứu thực
trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao,
huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013”.
Khóa luận được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn, quan tâm giúp đỡ, tạo
điều kiện của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường.

1.2.1. Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3

1.3. Yêu cầu của đề tài 3

1.4. Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông thôn 4

2.2. Cơ sở thực tiễn 11

2.2.1. Tình hình kinh tế xã hội của một số nước trên thế giới 11

2.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam 13

2.2.2.1. Tình hình kinh tế 14
2.2.2.2. Tình hình xã hội 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 25
3.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 25

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 25

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 25

3.3. Nội dung nghiên cứu 25

năm 2011 - 2013 43
4.2.2.1. Giáo Dục 43
4.2.2.2. Y tế 45
4.2.2.3. Dân số kế hoạch hoá gia đình và việc làm 48
4.2.2.4. Văn hoá 48
4.2.2.5. Môi trường 49
4.2.2.6. Những chính sách tác động đến quá trình phát triển kinh tế
nông thôn 49
4.2.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển KT - XH của xã qua 3 năm
2011-2013 51

4.2.4. Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp và thu nhập về
nông nghiệp của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu 52

4.3. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển KT - XH của xã Đông Cao 57

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1. Kết luận 62

5.2. Kiến nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Đông Cao năm 2011 -2013 31
Bảng 4.2. Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động xã Đông Cao

CSHT Cơ sở hạ tầng
BCHTƯ Ban chấp hành trung ương
PTNT Phát triển nông thôn
KT-XH Kinh tế - xã hội
KT Kinh tế
VHXH Văn hóa xã hội
ANQP An ninh quốc phòng
CN Công nghiệp
TTCN Tiểu thủ công ngiệp
DV Dịch vụ
KHKT Khoa học kĩ thuật
ANCT An ninh chính trị
TTATXH Trật tự an toàn xã hội
SL Sản lượng
CC Cơ cấu
GTSX Giá trị sản xuất
SP Sản phẩm
HS Học sinh
GV Giáo viên
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
UBND Uỷ ban nhân dân
TH Trường hợp
Tr. Đ Triệu đồng
CB Cán bộ
BHYT Bảo hiểm y tế
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

diện. Tuy vậy nhưng thực tế cho thấy nông thôn nước ta vẫn còn những yếu
kém cần phải sớm khắc phục như: Tình trạng lạc hậu về khoa học công
nghệ, ruộng đất ngày càng bị thu hẹp, đặc biệt là những ruộng nhất đẳng
điền, những bờ xôi, ruộng mật bị lấy đi để xây dựng các khu công nghiệp,
khu chế xuất, sân golf hoặc xây các khu nhà để kinh doanh, ngoài ra vấn đề
chất lượng nông sản khi xuất khẩu còn chưa cao, hiệu quả kinh tế từ sản
xuất nông nghiệp còn thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm (Nguyễn Lân
Dũng, 2008) công nghiệp chế biến kém phát triển, mức sống và dân trí
nhiều vùng nông thôn rất thấp, CSHT, trình độ quản lý, quan hệ sản xuất
chậm đổi mới.
Để sớm khắc phục những tồn tại còn bộc lộ trong nông thôn Việt
Nam, trong văn kiện hội nghị lần thứ V của BCHTW khoá IX chỉ rõ: “Xây
dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ
cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã
hội phát triển ngày càng hiện đại. Từ nay đến năm 2010 tập trung mọi
nguồn lực để thực hiện một bước cơ bản mục tiêu tổng quát và lâu dài đó”
(Nguyễn Lân Dũng, 2008).
Xã Đông Cao nằm ở phía Đông Nam của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên. Ngoài nông nghiệp ra thì xã còn phát triển những ngành nghề
khác như tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ đã góp phần tăng thu
nhập cho người dân và đẩy mạnh nền kinh tế xã. Tuy vậy các nguồn lực
như đất đai, lao động của xã vẫn đang còn là tiềm năng chưa được khai
thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả
Để góp phần giải quyết những vấn đề trên em tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển
kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên,, tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2011 - 2013”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế -

sống cho người dân trong xã hội nói riêng, góp phần ổn định xã hội nói chung.

4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông thôn
* Kinh tế - xã hội:
- KT-XH là một vấn đề rộng lớn, bao trùm mọi mặt trong hoạt động
của một quốc gia nói chung và một tỉnh, một huyện, một đơn vị hành chính xã
nói riêng. Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học.
- KT-XH là một phạm trù bao gồm các vấn đề: KT-VHXH-ANQP.
Các vấn đề được nghiên cứu cụ thể là: tình hình sản xuất nông-lâm-thuỷ sản;
CN-TTCN, DV; cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, ), y tế giáo dục,…
Tất cả những vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau. Chúng tác động tạo
thành mối quan hệ hai chiều. Mỗi một vấn đề giữ một vị trí quan trọng riêng
không thể thiếu.
* Tăng trưởng và phát triển:
- Tăng trưởng là sự gia tăng cơ sở vật chất được biểu hiện bằng sự gia
tăng của một hoặc nhiều chỉ tiêu kinh tế, hoặc của cả nền kinh tế quốc dân
trong một thời gian, được đánh giá bằng chỉ số % tăng thêm của tổng thu
nhập hàng năm hay từng thời kỳ.
- Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng
mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng
trưởng trong xã hội,…
* Tăng trưởng kinh tế và Phát triển kinh tế:
- Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay gia tăng về quy mô sản lượng
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.

nông thôn. Bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém.
Nền kinh tế nhìn chung vẫn mang tính thuần nông, cơ cấu kinh tê nông - công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, năng suất thấp, khoa học công nghệ
còn lạc hậu, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn nhất là miền núi và
vùng dân tộc thiểu số.
Vấn đề đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước là xoá bỏ
sự lạc hậu, nâng cao đời sống, nâng cao trình độ dân trí nhằm phát triển bền
vững toàn diện. Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm về phát
triển bền vững trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước đến năm
2010 “phát triển nhanh hiệu quả và bền vững. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với
6
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”, gắn sự phát triển
kinh tế với giữ vững, ổn định chính trị xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng.
Chủ trương của Đảng ta đề ra đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ
bản thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với lực lượng sản xuất.
Nhưng trước mắt nước ta vẫn là một nước có cơ cấu nông - công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ.
Nông nghiệp vẫn là một ngành sản xuất vật chất chủ yếu và quan trọng
của nền kinh tế quốc dân. Thực tế đã chứng minh điều này, ngay từ những
buổi sơ khai của loài người, nông nghiệp đã là ngành chủ yếu phục vụ cho
cuộc sống của loài người và là cơ sở nền tảng cho các ngành nghề khác phát
triển. Hầu hết các nước dựa vào sản xuất nông nghiệp tạo ra một lượng lương
thực thực phẩm cần thiết để nuôi sống dân tộc mình, tạo điều kiện cho các
ngành kinh tế thương nghiệp phát triển. Nông nghiệp thường gắn với những
vùng quê đặc trưng cho vùng nông thôn. Sản xuất Nông nghiệp bao gồm:
trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản. Tuỳ theo thế mạnh của từng vùng
mà có chiến lược phát triển khác nhau.
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản là khu vực chủ đạo trong nền
kinh tế quốc dân. Hoạt động công nghiệp bao gồm; Khai thác, chế biến và sửa chữa.

đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng; áp dụng công nghệ mới
vào công tác bảo quản và chế biến để nâng cao giá trị hàng hoá của sản phẩm.
Phát triển kinh tế có tác động rất mạnh tới các mặt của xã hội, cả chiều
thuận và chiều nghịch. Do vậy để tạo ra sự phát triển toàn diện và bền vững thì
phải phát triển toàn diện của kinh tế đồng thời phải phát triển toàn diện của xã hội.
Phát triển xã hội là tập chung vào phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn
hoá, thể dục thể thao, an ninh chính trị, góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo
ra môi trường an toàn, tiến bộ công bằng xã hội.
Tóm lại: Phát triển kinh tế - xã hội là phải song song, đồng thời, toàn
diện và bền vững. Tức phát triển kinh tế phải gắn liền với xã hội. Hai lĩnh vực
này luôn tác động qua lại với nhau, tồn tại song song nhau mà chúng ta không
thể coi nhẹ mặt nào hơn.
* Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế nông thôn.
Tùy theo điều kiện cụ thể của từng vùng nông thôn và từng thời gian,
mà mỗi nội dung có mức độ và phạm vi khác nhau. Nội dung phát triển kinh
tế nông thôn mang tính toàn diện, bao gồm nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với
8
nhau và không thể thay thế nhau. Phát triển kinh tế nông thôn chủ yếu tập
trung vào các vấn đề: Kinh tế nông nghiệp nông thôn, kinh tế công nghiệp
nông thôn, kinh tế dịch vụ nông thôn, phát triển cơ sở cơ sở hạ tầng ở nông
thôn, chính sách để phát triển kinh tế nông thôn
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có thực mới vực được đạo, phải làm cho
nhân dân ta ngày càng ấm no, ”. Nông nghiệp và các ngành kinh tế khác có
mối quan hệ chặt chẽ. Kinh tế nông nghiệp là ngành cơ bản, ngành gốc, là
lĩnh vực bao trùm cả kinh tế nông thôn, giữ vai trò quyết định sự phát triển
kinh tế nông thôn, kinh tế nông nghiệp có những quy luật kinh tế khách quan
liên quan vấn đề kinh tế nông nghiệp.
Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp

luôn phải thích ứng với thị trường và khách hàng đó là đặc trưng chung nhất
của kinh tế dịch vụ. Theo quan niệm hiện đại, các ngành kinh tế dịch vụ nông
thôn là một bộ phận của các ngành kinh tế dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân.
Hoạt động dịch vụ trong khu vực nông thôn bao gồm: Cung ứng điện cho sản
xuất ở nông thôn; bưu điện, điện thoại và thông tin liên lạc ở nông thôn;
thương nghiệp nông thôn hoạt động mua bán hàng hóa chủ yếu ở nông thôn
như: Buôn bán vật tư, kỹ thuật, nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ nông thôn, buôn bán hàng tiêu dùng (cả sản phẩm nông
nghiệp và hàng công nghiệp tiêu dùng) cho nông dân nông thôn; mua hàng
nông sản và hàng công nghiệp, máy móc và công cụ sản xuất trong nông thôn
[Nguyễn Đình Nam,1996].
Riêng đối với nông, lâm, ngư nghiệp còn có các dịch vụ giống cây trồng,
giống gia súc, dịch vụ về phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng, dịch vụ khám chữa
bệnh cho gia súc, dịch vụ bảo quản, chế biến, đóng gói nông sản phẩm,
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ nông thôn, thị trường hóa nông thôn, trong đó nông thôn
cần phát triển nhiều ngành kinh tế dịch vụ, thực sự làm cho các ngành kinh tế
dịch vụ càng phong phú và đa dạng, chiếm cơ cấu ngày càng lớn trong kinh tế
nông thôn để thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế nông thôn.
* Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế nông thôn
Các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu thời
tiết, các nguồn tài nguyên khác như: nguồn nước, rừng, khoáng sản, nguồn lao
10
động, Đây là những nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển
kinh tế nông thôn. Nơi có điều kiện tự nhiên như đất đai tốt, khí hậu ôn hòa,
nguồn lao động dồi dào thì thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn. Nơi có
điều kiện tự nhiên không thuận lợi như đất xấu, thiếu nước, lụt bão thường
xuyên xảy ra thì gây nhiều khó khăn cho sự phát triển kinh tế nông thôn.
Các nhân tố kinh tế-xã hội: Cơ cấu kinh tế nông thôn, các thành phần
kinh tế nông thôn, thị trường, vốn, cơ sở hạ tầng nông thôn, cơ cấu dân tộc,

- Tình hình chăm sóc sức khoẻ.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên.
- Tình hình giáo dục.
- Tình hình an ninh chính trị.
- Các chỉ số khác về phát triển kinh tế xã hội.
d, Các chỉ số cải thiện môi trường.
- Môi trường sản xuất nông nghiệp.
- Môi trường đô thị.
- Môi trường sản xuất công nghiệp.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình kinh tế xã hội của một số nước trên thế giới
* Nước Mỹ
Nền kinh tế lớn nhất thế giới tăng trưởng khá ì ạch trong năm 2012 và
dự đoán chưa có sự cải thiện đáng kể trong năm 2013 và 2014. Theo Liên hợp
quốc kinh tế Mỹ sẽ chỉ tăng trưởng 1,7% năm 2013 và 2,7% năm 2014. Trên
quan điểm kinh tế Mỹ cần sự hỗ trợ của các chương trình nới lỏng chính sách
tiền tệ, Washington đã thực thi gói nới lỏng định lượng tới lần thứ ba, giữ lãi
suất ở mức cực thấp 0 - 0,25%, tiến hành chương trình hoán đổi trái phiếu và
giữa tháng 12/2012 triển khai chương trình mua trái phiếu mới trị giá 45 tỷ đô
la/tháng thay cho chương trình đáo hạn vào cuối năm. Mỹ vẫn kiên trì với
chính sách tiền tệ này mặc dù về cuối năm, kinh tế Mỹ xuất hiện những “điểm
sáng” trên thị trường nhà đất, chi tiêu tiêu dùng và thị trường lao động, để hỗ
trợ tăng trưởng kinh tế mà Mỹ cho là vẫn còn yếu.
* Trung Quốc
Tình hình sản xuất lương thực của Trung Quốc tổng GDP năm 2012 là
8.249 tỷ đô la. Sản lượng lương thực năm 2012 đạt 589,55 triệu tấn, liên tục
trong vòng 5 năm đều đạt mức trên 500 triệu tấn, đặc biệt là sản lượng lương
thực như thóc gạo, ngô, tiểu mạch đều có sự tăng trưởng toàn diện, trong đó
12
sản lượng thóc gạo đạt 204,3 triệu tấn, tăng 33 triệu tấn (bằng 1,6%), thị

cho tính mạng, tài sản của nhân dân cũng như kinh tế Thái Lan, song dưới sự
13
cố gắng của Chính phủ mới và nhân dân cả nước Thái Lan, kinh tế Thái Lan
đang dần dần bước ra khỏi vùng lầy lũ lụt và khôi phục bình thường một cách
toàn diện, tình hình kinh tế vĩ mô năm 2012 có xu hướng phát triển tốt đẹp.
Theo thống kê của ngành hữu quan Thái Lan, mức tăng kinh tế trong năm
2011 của Thái Lan chỉ đạt 1,1-1,8%, thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu xác
định vào đầu năm 2011 là 4,5%. Khi phát biểu tại cuộc hội thảo phân tích tỷ
lệ tăng trưởng kinh tế năm 2012 diễn ra mới đây, thủ tướng Thái Lan Dinh-
lắc nói, xét về cơ sở kinh tế quốc dân ngày một hùng hậu và chính phủ không
ngừng áp dụng biện pháp thúc đẩy, tin tưởng rằng kinh tế quốc dân sẽ được
phục hồi toàn diện trong quý hai năm nay, hy vọng mức tăng kinh tế cả năm
có thể đạt tới 5%. Thủ tướng Dinh-lắc nói, “biện pháp thúc đẩy phục hồi kinh
tế của chính phủ chủ yếu bao gồm ba nội dung: Một là dốc sức thúc đẩy xuất
nhập khẩu.hai là đẩy mạnh phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng trong nước và
trong khu vực. Ba là tăng cường sức mua của người dân, kích cầu trong nước,
thúc đẩy sự lưu thông của sản phẩm doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Bên cạnh đó,
tổng vốn đầu tư cho dự án xây dựng cơ sở hạ tầng năm nay của cả nước Thái
Lan đạt 2,3 nghìn tỷ bạt Thái Lan. Chuyên gia kinh tế Thái Lan nêu rõ, kinh
tế Thái Lan năm nay có tương lai phát triển sáng sủa, song vẫn phải theo dõi
chặt chẽ các vấn đề quan trọng trong và ngoài nước có thể ảnh hưởng tới phát
triển kinh tế quốc dân, trong đó kể cả phương án và tiến triển giải quyết
khủng hoảng nợ công, xu hướng và chính sách kinh tế trong tương lai của các
nền kinh tế chủ yếu trên thế giới, phát triển và sâu sắc hợp tác kinh tế khu vực
châu -Thái Bình Dương, khí hậu toàn cầu thất thường, thiên tai, nhân tố bất
lợi gây tác động tới sự ổn định của tình hình chính trị trong nước Thái Lan.
2.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Kinh tế - xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn
của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu
Âu chưa được giải quyết. Suy thoái trong khu vực đồng euro cùng với khủng

quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, các Nghị quyết của Chính phủ
và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm duy trì ổn định kinh tế-xã hội.
2.2.2.1. Tình hình kinh tế
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước
tính tăng 5,03% so với năm 2011, trong đó quý I tăng 4,64%; quý II tăng
4,80%; quý III tăng 5,05%; quý IV tăng 5,44%. Mức tăng trưởng năm nay tuy
15
thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011 nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới
gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý và thể hiện xu
hướng cải thiện qua từng quý, khẳng định tính kịp thời, đúng đắn và hiệu quả
của các biện pháp và giải pháp thực hiện của Trung ương Đảng, Quốc hội và
Chính phủ. Trong 5,03% tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào
mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%, đóng
góp 1,89 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,42%, đóng góp 2,7 điểm
phần trăm.
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 theo giá so sánh 1994
ước tính đạt 255,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm 2011, bao gồm: Nông
nghiệp đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8%; lâm nghiệp đạt 8,3 nghìn tỷ đồng,
tăng 6,4%; thuỷ sản đạt 63,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5%.
+ Nông nghiệp
Sản lượng lúa cả năm 2012 ước tính đạt 43,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn
so với năm trước do diện tích và năng suất đều tăng, trong đó diện tích gieo
trồng ước tính đạt 7753,2 nghìn ha, tăng 97,8 nghìn ha; năng suất đạt 56,3
tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha. Nếu tính thêm 4,8 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương
thực có hạt năm 2012 ước tính đạt 48,5 triệu tấn, tăng 2,6% so với năm 2011.
Sản xuất cây vụ đông ở các tỉnh phía Bắc bị ảnh hưởng của thời tiết xấu

nào có dịch bệnh trên gia súc, gia cầm chưa qua 21 ngày.
Sản lượng thịt hơi các loại năm 2012 ước tính đạt 4,3 triệu tấn, tăng
2,5% so với năm trước, trong đó sản lượng thịt trâu tăng 0,8%; sản lượng thịt
bò tăng 2,4%; sản lượng thịt lợn tăng 2%; sản lượng thịt gia cầm tăng 4,8%.
Sản lượng trứng tăng 5,8%; sữa tươi tăng 10,5%; mật ong tăng 4,8%; kén tằm
tăng 6,5%.
+ Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trong năm gặp một số khó khăn do điều kiện thời
tiết không thuận lợi nên việc triển khai các dự án trồng rừng chậm tiến độ, đặc
biệt đối với rừng trồng phòng hộ và đặc dụng. Mặc dù vậy, kết quả các hoạt
động lâm nghiệp khác vẫn tăng khá do một số yếu tố tích cực như: Sự ổn định
của thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ và lâm sản khác trong những năm qua đã
kích thích người dân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng, đặc biệt là rừng trồng sản
17
xuất; các hoạt động lâm sinh khác như chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái
sinh rừng tiếp tục được chú trọng để tăng độ che phủ rừng; diện tích rừng sản
xuất được quy hoạch ổn định và đầu tư hợp lý Diện tích rừng trồng tập
trung cả năm đạt 187 nghìn ha, bằng 88,2% năm 2011; số cây lâm nghiệp
trồng phân tán đạt 169,5 triệu cây, tăng 0,3%; diện tích rừng trồng được chăm
sóc tăng 34,8%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ tăng 12,6%; sản lượng
gỗ khai thác đạt 5251 nghìn m
3
, tăng 11,9%, trong đó gỗ khai thác từ rừng
trồng chiếm trên 80%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao
là: Đồng Nai tăng 64,1%; Bắc Kạn tăng 51,6%; Thái Nguyên tăng 48,6%;
Quảng Bình tăng 48%; Yên Bái tăng 47,2%; Kon Tum tăng 42,5%; Thanh
Hóa tăng 42%; Lâm Đồng tăng 25,6%; Lào Cai tăng 17,6%; Bắc Giang tăng
14%. Sản lượng củi khai thác đạt 27,4 triệu ste, tăng 3%.
Do thời tiết trong năm nắng nóng, khô hạn kéo dài nên xảy ra hiện
tượng cháy rừng ở một số địa phương, chủ yếu là các tỉnh thuộc khu vực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status