ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ GẤM Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRUNG THÀNH
HUYỆN VỊ XUYÊN – TỈNH HÀ GIANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp Đại
học, ngoài sự cố gắng của bản thân, em còn nhận được sự quan tâm giúp
đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài trường.
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô
giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cùng toàn thể các thầy cô
giáo trong trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã dìu dắt, dạy dỗ em
trong quá trình học tập ở trường.
Để đạt được kết quả này em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS
Dương Văn Sơn – Giảng viên khoa Kinh tế và PTNT – Giáo viên hướng dẫn
em trong quá trình thực tập. Thầy đã quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo, tháo gỡ
những vướng mắc, hướng dẫn tận tình cho em để em có thể hoàn thành báo
cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất. Thầy luôn theo dõi sát sao quá
trình thực tập và cũng là người truyền động lực giúp em hoàn thành tốt đợt
thực tập của mình.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Trung Thành -
huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang, các cán bộ và bà con trong xã đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt nội dung đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm, động
viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
TRẦN THỊ GẤM
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH Ban chấp hành
BT Bê tông
Bảng 4.6: Các tuyến đường liên xã trên địa bàn xã Trung Thành năm 2013
47
Bảng 4.7: Các tuyến đường liên thôn trên địa bàn xãTrung Thành năm
2013 47
Bảng 4.8 Tình hình sử dụng điện trên địa bàn xã Trung Thành năm 2013
49
Bảng 4.9: Thực trạng trường học trên địa bàn xã Trung Thành năm 2013
50
Bảng 4.10: Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất so với tiêu chí Quốc
gia, tiêu chí tỉnh Hà Giang 54
Bảng 4.11: Thu nhập bình quân của xã 55
Bảng 4.12: Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường so với bộ tiêu chí 58
Bảng 4.13: Thực trạng hệ thống chính trị so với Bộ tiêu chí 62
Bảng 4.14. Mức độ hiểu biết của người dân về chương trình nông thôn
mới 67
Bảng 4.15: Mức độ tham gia của người dân trong chương trình xây dựng
nông thôn mới 68
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Ý nghĩa khoa học của khóa luận 2
2.2.3. Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới 31
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 32
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 32
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 32
3.2. Nội dung nghiên cứu 32
3.3. Câu hỏi nghiên cứu 32
3.4. Phương pháp nghiên cứu 33
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 33
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 34
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Trung Thành 35
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên 35
4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 37
4.1.3. Đánh giá chung 41
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nông nghiệp nông thôn luôn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, là nền tảng của xã hội Việt Nam
trong quá trình lịch sử. Từ xưa đến nay, đại đa số dân cư nước ta sống ở nông
thôn và cuộc sống phụ thuộc chủ yếu vào nông nghịêp. Nước ta là một nước
nông nghiệp truyền thống, do lịch sử quá trình đấu tranh dựng nước và giữ
nước nên phần lớn dân cư nước ta sống quần tụ theo từng dòng họ và theo
phạm vi làng, xã. Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ
nhưng vẫn còn hơn 70% dân số sinh sống và hơn 54% lao động làm việc ở
nông thôn.
Từ khi thực hiện chính sách “Đổi mới”, nông thôn nói chung, nông
nghiệp và nông dân nói riêng đã và đang là những vấn đề được Đảng và Nhà
nước hết sức quan tâm. Đã có nhiều chính sách được ban hành trong thời gian
vừa qua để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội và nâng cao mức sống
người dân khu vực nông thôn. Nhiều mô hình nông thôn mới của các nước
tiên tiến trong khu vực cũng đã được giới thiệu và áp dụng thành công ở mức
độ nhất định tại một số địa phương trong toàn quốc. Tuy nhiên, đây chỉ là các
mô hình điểm, quy mô nhỏ và chưa phù hợp hoàn toàn với hoàn cảnh và điều
kiện thực tiễn của Việt Nam.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay và ngày càng được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt chú trọng và quan tâm. Muốn phát triển nông thôn bền vững, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn đòi hỏi phải có sự đột
phá trên tất cả các lĩnh vực như: Kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Chính vì
thế ngày 04/06/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của xã Trung
Thành – huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang.
- Nghiên cứu thực trạng mô hình nông thôn mới tại xã Trung Thành –
huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang và so sánh với Bộ tiêu chí Quốc gia và Bộ
tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới của tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây
dựng nông thôn mới ở địa phương trong những năm tới.
1.3. Ý nghĩa khoa học của khóa luận
3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp bản thân có thể vận dụng được những kiến thức đã học để viết
khóa luận tốt nghiệp phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học. Nâng cao
được năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, vận dụng được những kiến thức
đã học được ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến thức
còn thiếu và những kỹ năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học
cho bản thân.
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo nghiên cứu và học tập trong lĩnh
vực nông thôn mới. Các khuyến nghị và dự báo có thể dùng làm tài liệu tham khảo
cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách tại địa phương.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất khi thực hiện chương trình
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã, từ đó có thể làm tài liệu tham khảo
cho đội ngũ cán bộ ủy ban nhân dân xã và các ban ngành có liên quan, đặc
biệt là những người học tập, nghiên cứu và những người quan tâm đến xây
dựng nông thôn mới.
1.4. Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 5 phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [3].
2.1.2. Khái niệm phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với nhiều
quan điểm khác nhau. Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật
ngữ này ở các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam thuật ngữ phát triển nông
thôn được đề cập đến từ lâu và có sự thay đổi qua các thời kì khác nhau. Tuy
nhiên, nhìn duới góc độ lý luận quản lý, chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận
5
hệ thống về thuật ngữ này. Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận
dụng thuật ngữ này ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1975 đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển
nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và
xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp
những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn
được hưởng lợi ích từ sự phát triển”. Chiến lược này cũng nhằm mở rộng
phúc lợi của quá trình phát triển cho những dân cư nông thôn, những người
đang tìm kiếm sinh kế ở nông thôn.
Một số quan điểm khác cho rằng, phát triển nông thôn là hoạt động
nhằm nâng cao vị thế về kinh tế và xã hội cho nguời dân nông thôn qua việc
sử dụng hiệu quả các nguồn lực địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài
lực. Phát triển nông thôn sẽ thành công khi chính người dân nông thôn tham
gia tích cực vào quá trình phát triển. Điều đó đòi hỏi chiến lược phát triển
nông thôn phải xây dựng trên nền tảng của cộng đồng người dân nông thôn.
Giúp hộ biết cách tự duy trì bền vững cuộc sống của mình về tài chính, sự độc
lập về kinh tế, có khả năng tiếp cận các hàng hóa, dịch vụ vật chất và tinh
thần ngày càng nhiều hơn. Qua đó, tự người dân nông thôn sẽ nâng cao vị thế
của bản thân họ trong xã hội và trong quá trình phát triển của đất nước.
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau. Đây là
một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển,
bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông
thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc
văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ
vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao;
theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [3].
Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về
chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Nông thôn là
phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn,
được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Nông thôn Việt
Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống.
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ,
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng
cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.
7
b. Khái niệm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được
đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã
hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp,
dân chủ, văn minh [2].
2.1.4. Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, kết hợp xây dựng công
nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp”
(Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IV, tháng 12 năm 1976, tr 68). Đại hội đã xác định kế hoạch
5 năm 1976 - 1980 là: “Tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các
ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, nhằm
giải quyết vững chắc nhu cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm và một
phần hàng tiêu dùng thông thường, ”
Để thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển, trong giai đoạn này
Đảng đã đề ra nhiều chính sách để đầu tư làm thủy lợi, làm giao thông nông
thôn, xây dựng trường học, trạm xá và cơ giới hóa nông nghiệp. Nhờ đó, mặc
dù hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề, nhưng nông thôn cả nước đã có
những biến đổi to lớn.
- Đại hội Đảng lần thứ V (năm 1982)
Từ thực tiễn 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và những
năm sau thống nhất đất nước, Đảng ta ngày càng thấy rõ vai trò của sản xuất
nông nghiệp. Đại hội V đã chỉ rõ: “Trong 5 năm 1981 - 1985 và những năm
80 cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức
đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công
nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và
công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý”.
9
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, Đại hội đã xác định áp dụng nhiều giải
pháp, trong đó coi trọng khai thác lực lượng lao động và tài nguyên thiên nhiên.
“ Cái vốn quý nhất của chúng ta là lao động, lực lượng tiềm tàng lớn nhất có thể
phát huy trước tiên, cũng là đối tượng lao động có khả năng thu hút lực lượng
đông đảo nhất, là đất đai (kể cả rừng và biển), có điều kiện phát triển mạnh và
sử dụng nhiều lao động sớm tạo ra một lực lượng sản xuất mới”.
hội VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
Đại hội VII đã chỉ rõ: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn
mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế- xã hội”
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Xem xét việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và quá trình 10 năm đổi
mới, Đại hội VIII đã nhận định rằng nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển
mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời khẳng định:
“Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII đã ra Nghị quyết về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại
hóa, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000”. Nghị
quyết đã xác định các những nội dung cần đẩy mạnh trong phát triển nông
nghiệp và nông thôn, đó là: Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
gắn với phân công lao động ở nông thôn; giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ
nông sản; phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới các hoạt
động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển
các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa [13].
Ngày 10 tháng 11 năm 1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ra Nghị
quyết số 06 - NQ/TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn.
Nghị quyết đã nêu 4 quan điểm:
“Một là, coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông
nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản
hội, tăng cường các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa nông
nghiệp, nông thôn.
12
Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Nghị
quyết về “Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
thời kỳ 2001 - 2010”. Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung tổng quát công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là: “ là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi
hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh
học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông
nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của
nông sản hàng hóa trên thị trường”.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động
các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông
thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản
xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng văn minh, không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn” [15].
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã đề ra 5 quan điểm trong xây dựng
nông thôn. Đó là:
+ Coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu.
+ Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản
xuất hàng hóa quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường,
phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông
thôn bền vững.
+ Tăng cường đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao
động nông thôn.
+ Xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông
thôn. Tổ chức chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm xây dựng các làng,
xã, ấp, bản có cuộc sống văn minh, sạch đẹp, gắn với việc hình thành các khu
dân cư đô thị hóa [16].
Ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã
ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
14
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đánh giá thành tựu và hạn chế
trong vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn sau hơn 20 năm đổi mới,
đồng thời nêu 4 quan điểm về các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông
thôn, đó là:
+ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở
và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn
định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.
+ Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết
đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông
thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới
gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy
hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.
+ Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, khai thác tốt các điều kiện thuận lợi
trong hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư
của Nhà nước và xã hội,
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng:
Đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó đã xác
định những định hướng lớn về phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại là: Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp
nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi
thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao,
chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 đã xác định rõ định
hướng trong xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với
phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ
và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình nông thôn mới
phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng
giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt
16
Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi
để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động. Triển khai có hiệu quả
Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm. Thực hiện
tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách,
chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ, bố trí hợp lý dân cư, bảo đảm an
toàn ở những vùng ngập úng, lũ lụt, sạt lở núi, ven sông, ven biển.
Như vậy, kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, quan
điểm, chủ trương, biện pháp về xây dựng nông thôn mới của Đảng ta ngày
càng rõ và đến Đại hội X thì hoàn chỉnh và thống nhất chỉ đạo trên phạm vi
toàn quốc. [2]
2.1.5. Phân biệt giữa nông thôn và nông thôn mới
Về cơ bản nông thôn và nông thôn mới không khác nhau nhưng xét
trên những tiêu chí cụ thể thì 2 khái niệm này có nhiều điểm khác nhau. Khác
màu sắc thôn quê này đã được sản sinh trong một hoàn cảnh đặc biệt. Các
phương thức sản xuất, sinh sống cũng như cơ cấu tổ chức mang tính đặc thù
của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn hoá mang đậm màu
sắc Việt Nam. Quy tắc hành vi của xã hội là những phong tục tập quán đã
được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy
phạm phong tục tập quán đó và quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan
trọng nhất. Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc
phục được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân
chống chọi với thiên tai, đại hạn. Và cũng chính văn hoá quê hương đã sản
sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ,
giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương,… tất cả được sản sinh
trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù. Các truyền thống văn hoá quý báu
này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi
trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao,
vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông
thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc mới là môi
trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương. Việc xây dựng
NTM nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được
hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của
nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này không những hạn
18
chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ
gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống.[1]
2.1.5.3. Chức năng sinh thái
Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt
giữa thành thị với nông thôn. Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ
những tích lũy trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng
với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn
đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên.