Đánh giá thực trạng môi trường nông thôn và đề xuất một số giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ THU HIỀN ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG NÔNG THÔN
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỊNH HƢỚNG, QUY
HOẠCH VỀ MÔI TRƢỜNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI TẠI XÃ DIỄN THỌ - HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Thanh Vân THÁI NGUYÊN - 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

LỜI CAM ĐOAN

Trong thời gian thực tập tại xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ
An, tôi đã chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định của cơ quan.
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài:“ Đánh giá
thực trạng môi trường nông thôn và đề xuất một số giải pháp định hướng, quy
hoạch về môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Diễn Thọ, huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” đều được được thu thập, điều tra, khảo sát thực tế
một cách trung thực, đánh giá đúng thực trạng của địa phương nơi nghiên cứu.
Diễn Thọ, ngày 30 tháng 09 năm 2012
Học viên Hoàng Thị Thu Hiền


Thanh Vân đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cấp ủy chính quyền cán bộ các
ban, ngành xã và bà con nhân dân xã Diễn Thọ nơi tôi nghiên cứu đề tài, đã
tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập.
Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng
như là hạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khỏi sai sót. Tôi rất
mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 09 năm 2012
Học viên Hoàng Thị Thu Hiền

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học 4

Châu, tỉnh Nghệ An. 34
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 34
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
3.2. Đánh giá thực trạng môi trường xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu theo
mô hình Động lực – Áp lực – Trạng thái – Tác động – Đáp ứng (DPSIR).
40
3.2.1 Gia tăng dân số 41
3.2.2 Hoạt động phát triển kinh tế 51
3.2.3. Trình độ nhận thức 57
3.3. Đánh giá hệ thống tiêu chí môi trường đã được định ra trong xây
dựng nông thôn mới. 63
3.4. Các giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trong xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh
Nghệ An. 64
3.4.1. Về cấp nước: 64
3.4.2. Về thoát nước thải và vệ sinh môi trường 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
1. Kết luận 72
2. Đề nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 77
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
BCH
Ban chấp hành

SXKD
Sản xuất kinh doanh
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thong
TT – BTNMT
Thông tư Bộ tài nguyên môi trường
UBND
Ủy ban mặt trận
UBMTTQ
Ủy ban mặt trận tổ quốc
VSMT
Vệ sinh môi trường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

Bảng 1.1. Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng 13
Bảng 1.2. Tình trạng phát sinh chất thải rắn 16
Bảng 3.1: Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong xã: 42
Bảng 3.2: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng loại cống thải 43
Bảng 3.3. Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 45
Bảng 3.4: Các hình thức đổ rác của xã 47

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay phát triển nông thôn không còn là việc riêng của các nước
đang phát triển mà là sự quan tâm của cả cộng đồng thế giới. Việt Nam là
nước đông dân, với 80% dân số, 70% lao động nông nghiệp đang sinh sống
ở vùng nông thôn. Nông thôn chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát
triển đất nước.[3]. Thực trạng nông thôn Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn
đề bất cập, so sánh với thành thị, trình độ văn hóa, đời sống vật chất, văn
hóa tinh thần và khả năng tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật của người
dân nông thôn thấp hơn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, kém hơn cả về số lượng
và chất lượng.[1]. Tuy nhiên, nông thôn có tiềm năng đất đai, tài nguyên
khoáng sản phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, đây là điều kiện thuận lợi
thúc đẩy sự phát triển. Xây dựng, quy hoạch phát triển nông thôn mới nhằm
sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên, nhanh chóng thay đổi bộ mặt
nông thôn, phát triển nông thôn toàn diện, bền vững là nhiệm vụ cần thiết
của nước ta trong giai đoạn mới.
Xây dựng nông thôn mới là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa
và hiện đại hóa. Hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa X đã ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề
nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây
dựng nông thôn mới đến năm 2020. Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ
đã có quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm
19 tiêu chí) về nông thôn mới. Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình
nông thôn mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
Mục tiêu của việc xây dựng nông thôn mới ngoài việc phát triển kinh tế
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư thì việc bảo vệ

- Giải pháp định hướng, quy hoạch về môi trường trên địa bàn xã Diễn Thọ.
3. Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường tại
xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đánh giá các tác động của môi trường đối với đời sống, kinh tế và xã
hội xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
- Đề xuất các giải pháp về môi trường trong quy hoạch nông thôn mới
trên địa bàn xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người
dân về việc bảo vệ môi trường.
+ Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền
giáo dục nhận thức của người dân về môi trường.
+ Xác định thực trạng môi trường nông thôn tại xã Diễn thọ, huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho địa phương nói riêng và
khu vực nông thôn thuộc tỉnh Nghệ An nói chung.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Chƣơng 1


5
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Phát
triển nông thôn là qua trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông
thôn,nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng
dụng khoa học và công nghệ. Đồng thời đây là quá trình thu hút mọi người dân
tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng
cuộc sống của các cư dân nông thôn.
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền
vững về môi trường. Vì vậy trong điều kiện của Việt Nam , được tổng kết từ
các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu:
“Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền
vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và
các tổ chức khác” [3].
- Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát
triển cả về nông nghiệp và nông thôn, mô hình nông thôn mới là những kiểu
mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại
mà vẫn giữ đựơc nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam. Nhìn
chung: mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa.
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu
cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt
hiệu quả cao nhất trên tấ cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ
hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận
dụng trên cả nước.
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm,
cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu
mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây

Ví dụ: Xả thải khí, nước đã bị ô nhiễm, chất thải rắn, chất thải độc hại vào
môi trường . . .
- State (S), có nghĩa là tình trạng. Tình trạng môi trường tại một thời
điểm hoặc thời gian nhất định. Ví dụ tình trạng không khí, nước, đất, tài
nguyên khoáng sản, đa dạng sinh học . . .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
- Impact (I), có nghĩa là tác động. Tác động tiêu cực hoặc tích cực của tình
trạng đó đối với con người cũng như điều kiện sinh sống, hoặt động sản
xuất của con người.
- Response (R), có nghĩa là đáp ứng. Con người có những hoạt động gì
để đáp ứng nhằm khắc phục các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích
cực nêu trên.
Mô hình DPSIR nói lên rằng để hiểu tình trạng, môi trường tại một địa
bàn, có thể là trên toàn cầu, tại một quốc gia, một tỉnh hay một địa phương ta
phải biết.
* Theo thông tư 09/2009/TT – BTNMT ngày 11/8/2009 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường được định nghĩa như sau: Mô hình DPSIR là mô hình
mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động lực - D (phát triển kinh tế - xã hội,
nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường) - Áp lực - P (các nguồn thải
trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường) - Hiện trạng - S (hiện trạng chất
lượng môi trường) - Tác động - I (tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức
khoẻ cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái) -
Đáp ứng - R (các giải pháp bảo vệ môi trường). [8]
1.1.2. Cơ sở pháp lý
+ Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường
trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
+ Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng

vào năm 1993 quỹ đất cho toàn nhân loại là 13.041,7 triệu ha, trong đó trồng
trọt chiếm khoảng 20,6 %, đồng cỏ chiếm 69,6 %. Diện tích đất bình quân
loài người trên toàn thế giới là 2,432 ha, ở châu Á là 0,81 ha, châu Âu là 0,91
ha. Phần lớn đất trồng trọt tăng lên là lấy từ đất rừng, gây nên những hậu quả
xấu về môi trường.
* Đô thị hoá mạnh mẽ:
Quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng trên toàn Thế
giới, với tốc độ là 3% hàng năm cho toàn thế giới và 3 - 5% cho khu vực
châu Á - Thái Bình Dương. Năm 1995, 45% dân số thế giới sống ở các đô thị.
Dự báo đến năm 2020, tại các nước đang phát triển trong khu vực 50 % dân
số sống ở các đô thị và tại các nước phát triển tỉ lệ này là 75 %.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
* Hình thành các siêu đô thị:
Xu thế đô thị hoá này sẽ dẫn đến sự hình thành các siêu đô thị, hiện nay
trên Thế giới đã có khoảng 20 siêu đô thị với số dân trên 10 triệu người.
Sự hình thành các siêu đô thị tại tất cả các nước đều gây nên những khó
khăn và phức tạp về chất lượng môi trường sông như: Ô nhiễm do công
nghiệp, giao thông vận tải, tiêu tốn nhiều vật liệu năng lượng, xử lí rác thải và
các vấn đề về xã hội. Tại các nước đang phát triển, những vấn đề môi trường
lại càng trở nên phức tạp do sự hình thành các nhóm dân cư nghèo khổ phải
sống trong các khu "ổ chuột", thiếu thốn điều kiên vệ sinh, tiện nghi, dịch vụ
đời sống vật chất, văn hoá xã hội, hoặc nhiều người lớn thất nghiệp, trẻ em
lang thang cơ nhỡ, hình thành các nhóm dân cư " hè phố" với cuộc sống thiếu
thốn bất định.
* Mất cân đối dân số đô thị và nông thôn:
Dân số nông thôn trên thế giới hiện nay đang tăng nhanh với tốc độ là
1%. Tại các khu vực châu Á - Thái Bình Dương tốc độ là 1 – 2,5%. Với xu
thế này sự phân bố dân cư đô thị và nông thôn ngày càng mất cân bằng. Một

Hiện nay nhu cầu về thực phẩm đang chuyển từ các nước phát triển sang các
nước đang phát triển. Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu chính sách
thực phẩm thế giới cho biết: nhu cầu về thịt bình quân hàng năm/người của
thế giới sẽ tăng từ 6-23 kg vào năm 2050. Những sự thay đổi về nhu cầu
lương thực của thế giới sẽ tạo nên sự khó khăn về sản xuất thực phẩm, gây ra
những bất lợi về an ninh lương thực và ô nhiễm môi trường
* Sản xuất lương thực tăng chậm và bước vào thời kì suy giảm:
Báo cáo mới nhất của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) về triển
vọng mùa vụ và tình hình lương thực cho thấy, sản lượng lương thực toàn cầu
năm 2009 dự kiến sẽ sụt giảm so với năm 2008. Nguyên nhân do thời tiết bất
lợi làm sản lượng lương thực suy giảm tại hầu hết các nước sản xuất lương
thực lớn trên thế giới.
Tại các nước thu nhập thấp và bị thiếu hụt về lương thực, dự đoán sản
lượng lương thực năm 2009 sẽ thấp hơn năm 2008. Các nước khu vực Nam
Phi sẽ có sản lượng ngô ở mức thấp hơn. Dựa trên sản lượng lương thực năm
2008, FAO dự đoán lượng lương thực thế giới dự trữ cho vụ mùa 2009-2010
sẽ là 496 triệu tấn, mức cao nhất kể từ năm 2002.
Mặt khác, theo FAO, giá cả lương thực, thực phẩm tại một số nước
phát triển vẫn ở mức cao, làm giảm khả năng tiếp cận lương thực thực phẩm
của nhóm dân số thu nhập thấp. Khủng hoảng lương thực hiện vẫn đang tiếp
diễn ở 32 nước trên thế giới. (Ngân Tuyền, 2009) [24].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
* Gia tăng sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu:
Nhìn chung trên toàn thế giới lượng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu,
diệt cỏ sử dụng vào nông nghiệp đang tiếp tục tăng thêm, tại một số nơi tăng
thên theo cấp độ số nhân. Tổ chức WHO ước lượng hàng năm có khoảng 3%
lao động trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển (25 triệu người) bị
nhiễm độc thuốc trừ sâu. Tuy nhiên trong những năm gần đây, các tổ chức

trường và khí hậu toàn cầu [6].
* Rác thải rắn cũng tăng lên:
Rác thải rắn bình quân vào khoảng 0,4 - 1,5 kg/người/ngày, ngày càng
tăng lên đồng biến với thu nhập quốc dân. Thành phần của rác cũng thay đổi
theo hướng tăng lên của bộ phận rác không thể chế biến thành phân hữu cơ
được. Hoa Kì mỗi năm phải xử lí, chôn vùi 150 triệu tấn rác thải.
Ở các đô thị và khu công nghiệp, rác thải rắn cũng trở thành vấn đề
nghiêm trọng. trong hơn 20.000 m
3
rác thải/ngày của các đô thị thì 50% số
này được thu gom và xử lí thô sơ. Trong rác thải rắn có cả những chất độc hại
như kim loại nặng, nguổn dịch bệnh nguy hiểm.
1.2.2. Các vấn đề môi trƣờng nông thôn ở Việt Nam
Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn
do Bộ y tế và tổ chức UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/03/2008 cho
thấy VSMT và vệ sinh cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình,
11,7% trường học, 36,6 trạm y tế xã 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến
xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế (Quyết định 08/2005/QĐ-BYT);
Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp 7,8% khu
chợ nông thôn; 11,7% dân cư nông thôn; 14,2% trạm y tế xã; 16,1% UBND
xã; 26,4% trường học có tiếp cận sử dụng nước máy; Ngoài ra, kiến thức của
người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn rất hạn chế, thái độ của người
dân còn rất bàng quang về vấn đề này [7].
Vấn đề nước sạch và môi trường:
Vấn đề phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các
vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và
VSMT nông thôn. Nếu như chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giản là
nước mưa, nước giếng khoan qua xử lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải
nước sạch được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ người dân nông thôn nhất là
khu vực miền núi còn rất thấp. Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông qua bảng

Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được
sử dụng nước sạch. Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía Bắc, chỉ có 15% dân
số được cấp nước sạch.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là
nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán… Các
bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu sắt, thiếu máu, kém phát triển, gây tử
vong nhất là trẻ em. Có 88% trường hợp tiêu chảy là do thiếu nước sạch,
VSMT kém. Có thể thấy, nguyên nhân gây tình trạng ô nhiễm môi trường và
nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau:
+ Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hoá chất trong nông nghiệp
như phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có
kiểm soát.
Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng còn ở mức
trung bình cho 1ha gieo trồng, bình quân 80-90 kg/ha (cho lúa là 150-
180kg/ha), so với Hà Lan 758kg/ha, Hàn Quốc 467kg/ha, Trung Quốc
390kg/ha. Tuy nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến môi trường nông
nghiệp và nông thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực
phân bón thấp; Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm; Chất
lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón N-P-K, hữu cơ vi sinh,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không
đảm bảo chất lượng đăng kí, nhẵn mác, bao bì nhái, đóng gói không đúng
khối lượng đang là áp lực chính cho nông dân và môi trường đất [4].
+ Ngoài ra miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập tục sử dụng phân người,
phân chuồng tươi vào canh tác. Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), phân
tươi được coi là thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh hưởng
sức khoẻ con người.
+ Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm;

Công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hoá học (năm 2004), trong khoảng
hơn 300 tấn thuốc BVTV tồn đọng có nhiều chất nằm trong số 12 chất ô
nhiễm hữu cơ khó phá huỷ. Và cuối cùng là việc bảo quản thuốc BVTV còn
rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều hộ để thuốc BVTV trong nhà,
trong bếp, trong chuồng nuôi gia súc [4].
Theo Phạm Ngọc Quế (2003) hiện tại số hộ ở nước ta chăn nuôi gia súc
gia cầm là rất phát triển nhưng phương thức chăn nuôi lạc hậu (thả rông, làm
chuồng dưới nhà sàn, phân để trong chuồng lâu không được xử lý hoặc dọn
rửa chuồng xả bừa bãi vào các nguồn nước…) đã làm cho môi trường nông
thôn ngày càng ô nhiễm. Ngoài lượng phân, còn có nước tiểu, thức ăn thừa
cũng chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng số chất thải do chăn nuôi đưa
đến. Rõ ràng nếu lượng phân này không được xử lý tốt chắc chắn sẽ tạo ra
một sự ô nhiễm đáng kể đối với vệ sinh môi trường [7].
Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải
rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện nay cả nước có khoảng
1450 làng nghề, phân bố trên 58 tỉnh thành và đông đúc nhất ở đồng bằng sông
Hồng, vốn là cái nuôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472 làng nghề
các loại tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Thái
Bình, Bắc Ninh…Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất
thấp, thiết bị cũ và công nghệ sản xuất lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%). Do
đó đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác động xấu đến
môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ của người dân làng nghề [4].
Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là
than. Do đó lượng bụi và các lượng khí CO, CO
2
, SO
2
và NO
2
thải ra trong

Bảng 1.2. Tình trạng phát sinh chất thải rắn
Các loại chất thải rắn
Toàn quốc
Đô thị
Nông
thôn
Tổng lượng phát sinh chất thải sinh
hoạt (tấn/ năm)
12.800.000
6.400.000
6.400.000
Chất thải nguy hại từ nông nghiệp
(tấn/năm)
128.400
125.000
2.400
Chất thải nguy hại từ công nghiệp
(tấn/năm)
2.510.000
1.740.000
770.000
Chất thải y tế lây nhiễm (tấn/năm)
21.000
-
-
Tỷ lệ thu gom trung bình (%)
-
71
20
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status