1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay phát triển nông thôn không còn là việc riêng của các nước
đang phát triển mà là sự quan tâm của cả cộng đồng thế giới. Việt Nam là
nước đông dân, với 80% dân số, 70% lao động nông nghiệp đang sinh sống ở
vùng nông thôn. Nông thôn chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển
đất nước. Thực trạng nông thôn Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập,
so sánh với thành thị, trình độ văn hóa, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần và
khả năng tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật của người dân nông thôn thấp
hơn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, kém hơn cả về số lượng và chất lượng…Tuy
nhiên, nông thôn có tiềm năng đất đai, tài nguyên khoáng sản phong phú,
nguồn nhân lực dồi dào…Là điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển. Xây
dựng, quy hoạch phát triển nông thôn mới nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả
nguồn tài nguyên, nhanh chóng thay đổi bộ mặt nông thôn, phát triển nông
thôn toàn diện, bền vững là nhiệm vụ cần thiết của nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
Xây dựng nông thôn mới là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa
và hiện đại hóa. Hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành trung ương Đảng khóa
X đã ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng
nông thôn mới đến năm 2020. Ngày 16/4/2009 Thủ Tướng Chính phủ đã có
quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu
chí) về nông thôn mới. Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn
mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới sẽ được triển khai
trên địa bàn cấp xã trong phạm vi cả nước nhằm phát triển nông thôn toàn
diện; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và
các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
mới vào năm 2015.
2
2
3
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập
- Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, áp
dụng kiến thức đó vào thực tiễn.
- Giúp hiểu sâu sắc thêm về một trong những chương trình lớn thể hiện
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân.
- Rèn luyện kỹ năng thu thập và xử lý số liệu, viết báo cáo.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Nhận thấy được những gì đã làm được và chưa làm được khi thực
hiện xây dựng mô hình nông thôn mới.
- Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng
nghiên cứu.
3
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1. Nông thôn
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn. Có
quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa
vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan
điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát
triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường. Một số quan điểm khác nêu ra,
vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn
sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng
nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở
các vùng nông thôn được hưởng lợi từ sự phát triển.
Trong điều kiện của Việt Nam tổng hợp các quan điểm từ các chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu như
sau: Phát triển nông thôn là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về
kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ
chức khác [5].
2.1.1.3. Nông thôn mới
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: Xây dựng nông
thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo
quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân
tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự xã hội được giữ
vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng nâng cao;
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
5
5
6
Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là
thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay,
có thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản sau: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ
tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa;
đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng
cao; bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ và phát triển; xã hội nông thôn an
ninh tốt, quản lý dân chủ [3].
Nông thôn mới chính là nông thôn tiến bộ, cơ sở hạ tầng đồng bộ, đời
sống văn hóa phong phú. Song, có điều không bao giờ thay đổi là nông thôn
- Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc.
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống
chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường.
- Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân
- trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa [1].
Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-
TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm
19 tiêu chí áp dụng riêng cho từng vùng của Việt Nam. Bộ tiêu chí cụ thể hóa
đặc tính của xây dựng NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH.
Bộ tiêu chí cũng là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu
quốc gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để xác lập kế hoạch phấn đấu đạt
19 tiêu chí nông thôn mới. Ngoài ra nó còn là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá
kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh
giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới.
* Nội dung xây dựng mô hình nông thôn mới tại các xã vùng Bắc
Trung Bộ.
7
7
8
Bảng 2.1: Các tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã vùng
Bắc Trung Bộ [6]
TT
Tên
tiêu chí
Nội dung tiêu chí
Chỉ tiêu
chung của
BTB
2.4 Tỷ lệ Km đường trục chính nội đồng được cứng
hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện
70%
3 Thủy lợi
3.1 Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản
xuất và dân sinh
Đạt
3.2 Tỷ lệ Km kênh mương do xã quản lý được kiên cố
hóa
85%
4 Điện
4.1 Hệ thống điện được đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của
ngành điện
Đạt
4.2 Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ
các nguồn
98%
5
Trường
học
Tỷ lệ trường học các cấp: Mầm non, mẫu giáo, tiểu
học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
80%
6
Cơ sở vật
chất văn
hóa
6.1 Nhà văn hóa và khu thể thao đạt chuẩn của Bộ
VH-TT-DL
Đạt
11 Hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo 5%
12 Cơ cấu lao động
Tỷ lệ lao động trong
độ tuổi làm việc
trong lĩnh vực nông
lâm, ngư nghiệp
35%
13 Hình thức sản xuất
Có tổ hợp tác hoặc
hợp tác xã hoạt
động có hiệu quả
Có
14
Giáo dục
14.1 Phổ cập giáo
dục trung học
Đạt
14.2 Tỷ lệ học sinh
tốt nghiệp THCS
được tiếp tục học
trung học (phổ
thông, bổ túc, học
nghề)
85%
14.3 Tỷ lệ lao động
qua đào tạo
> 35%
15
Y tế
15.1 Tỷ lệ người
hoạt động gây suy
giảm môi trường và
có các hoạt động
phát triển môi
trường xanh, sạch,
đẹp
Đạt
17.4 Nghĩa trang
được xây dựng theo
quy hoạch
Đạt
17.5 Chất thải, nước
thải được thu gom
và xử lý theo quy
định
Đạt
18
Hệ thống tổ chức
chính trị xã hội
vững mạnh
18.1 Cán bộ xã đạt
chuẩn
Đạt
18.2 Có đủ các tổ
chức trong tổ chức
chính trị theo quy
định
Đạt
18.3 Đảng bộ, chính
quyền xã đạt tiêu
tỉnh Thanh Hóa về việc thành lập ban chỉ đạo chương trình xây dựng NTM
tỉnh Thanh Hóa.
- Quyết định số 2005/QĐ-UBND ngày 07/06/2010 của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt đề án xây dựng NTM tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030.
- Kế hoạch số 157/KH-UBND ngày 25/02/2011 của Uỷ ban nhân dân
huyện Tĩnh Gia về việc triển khai chương trình xây dựng NTM huyện Tĩnh
Gia giai đoạn 2011-2015.
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tĩnh Gia nhiệm kỳ 2010-
2015 và nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Phú Lâm nhiệm kỳ 2010-2015.
- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ ngành Trung ương,
UBND tỉnh Thanh Hóa, huyện Tĩnh Gia, liên quan đến chương trình xây dựng
nông thôn mới.
2.2.Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình xây dựng nông thôn mới trên thế giới
2.2.1.1. Trung Quốc
Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng. Trung
Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn. Đến năm 2009, thu
nhập bình quân của cư dân nông thôn lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT
tăng 8,5% so với năm trước. Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm
mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu
người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về
bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn [11].
11
11
12
Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng theo kiểu mệnh lệnh hành
chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng. Sau đó, việc thực hiện xây dựng
NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa
phương). Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội,
chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư
hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị
trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn. Cùng đó, Trung Quốc cũng
tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là
lao động trẻ. Ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung
Quốc còn có chủ trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã,
thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản. Đồng thời, thúc đẩy việc mua
đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng
giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm (do nhà nước định hướng).
2.2.1.2. Hàn Quốc
Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa,
đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ. Trong khi đi
thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung
Hy nhận ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không
nghĩ cách tự cứu lấy mình. Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác
và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn.
Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaulundong”
được đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970. “Saemaul”
theo nghĩa tiếng Hàn là “sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với
“undong” có nghĩa là một phong trào và cụm từ “Saemaulundong” có nghĩa
là phong trào đổi mới cộng đồng. Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên
“Saemaulundong” được hiểu là “phong trào đổi mới nông thôn”. Sự ra đời
kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ
trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết quả khả quan đạt
được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước. Tới năm 1974, chỉ sau 4
năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc
lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng
trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn
won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won
tương đương 537 USD). Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn
định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình. Năm 1971, Chính
phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng. Năm 1972 lựa
chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép.
14
14
15
Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân
làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án.
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập. Khi kết cấu hạ tầng phục
vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật,
giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật
nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa. Chính phủ xây dựng nhiều nhà
máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín
dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất. Từ năm 1972 đến năm 1977 thu
nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần.
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác
định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào “làng mới” là đội ngũ
cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu. Hàn Quốc đã xây dựng
3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở
địa phương. Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để
trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án,
phát triển cộng đồng.
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn. Hàn Quốc thành lập
hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của Chính phủ trên cơ sở
công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của
địa phương. Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự
quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình.
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc
đã thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của
dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn. Phong trào “làng mới” là bước ngoặt đối
nhân tạo để nuôi cá [14].
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh
nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn
của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại. Kinh
doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ
cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các
tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn
hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng. Cũng giống
như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo
16
16
17
ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có
quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn.
Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi
nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ
cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho
linh hoạt hơn. Sự thật, ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành
“kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất
tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện
đại. Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và
các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho
đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất
đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng. Sự
ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang
trại hơn nhưng các trang trại có quy mô lớn hơn nhiều. Đôi khi được sở hữu
bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng
nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn. Vào năm 1940, có 6 triệu
trang trại và trung bình mỗi trang trại khoảng 67 hecta. Đến cuối thập kỷ
1990, chỉ có khoảng 2,2 triệu trang trại nhưng trung bình mỗi trang trại có
trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới
cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền [15].
Các xã điểm được chọn bao gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc
Giang), Hải Đường (Nam Định), Thụy Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng
Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân
Thông Hội (TP. Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hòa
(Kiên Giang).
Ở Thái Nguyên: Ngay sau khi có Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày
5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết số 24/2008/NQ
- CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn,
Thái Nguyên đã xây dựng chương trình hành động cụ thể và ra chỉ thị về xây
dựng NTM. Theo đánh giá năm 2011, công tác xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã được triển khai sâu rộng và tương đối đồng bộ.
Thái Nguyên đã kiện toàn ban chỉ đạo ở cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã; đã thực hiện
tốt công tác tham mưu cho ban chỉ đạo thông qua việc ban hành các văn bản,
18
18
19
tài liệu phục vụ cho công tác chỉ đạo và tuyên truyền về chương trình xây
dựng nông thôn mới; Thái Nguyên đã làm tốt công tác thông tin tuyên truyền
đến với người dân về mục đích, ý nghĩa, trách nhiệm trong công tác xây dựng
nông thôn mới [13].
Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện, cơ cấu kinh tế nội ngành tiếp tục
có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình
quân 5,04% một năm. Sản lượng lương thực 3 năm qua tăng vững chắc, đảm
bảo an ninh lương thực trên địa bàn, góp phần quan trọng vào phát triển nông
thôn và ổn định xã hội (bình quân lương thực đầu người năm 2008 đạt 366,1
kg/người/năm, đến năm 2010 đạt 369,5 kg/người/năm). Sản lượng chè tăng
bình quân 8,2%/năm; sản lượng các cây trồng khác có mức tăng 5 - 9%. Tuy
nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức trong sản xuất còn chậm,
nghiệp, nông dân, nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới chưa
thường xuyên và hiệu quả; một số đơn vị và nhân dân chưa nhận thức đầy đủ
về tầm quan trọng, nội dung và ý nghĩa của chương trình, chưa xem chương
trình xây dựng nông thôn mới là cuộc vận động lớn, sâu rộng đến các cấp uỷ,
chính quyền và nhân dân, còn tâm lý trông chờ; nhiều địa phương còn lúng
túng trong việc lựa chọn phương pháp, cách làm; kết quả đạt được còn hạn
chế, chuyển biến chưa đồng đều [18].
Sau ba năm thí điểm, chương trình xây dựng NTM đã thành công bước
đầu và đạt được một số kết quả quan trọng cả về kinh tế, xã hội và kinh
nghiệm tổ chức chỉ đạo của các ngành, các cấp. Những kết quả chủ yếu là:
Mô hình nông thôn mới đã hình thành trên thực tế tại các xã thí điểm của
Trung ương và địa phương. Một số xã thí điểm đạt kết quả khá toàn diện như:
Hải Đường (Nam Định), Tân Thịnh (Bắc Giang), Tân Thông Hội (Tp. Hồ Chí
Minh), Thanh Tân, Bình Định (Thái Bình). Một số xã đạt kết quả một số mặt
như quy hoạch, phát triển sản xuất hàng hóa gắn với quy hoạch cải tạo đồng
ruộng, dồn điền đổi thửa ở Tân Thịnh (Bắc Giang), Thanh Tân, Bình Định
(Thái Bình); mô hình liên kết sản xuất ở Thụy Hương (Hà Nội), Tân Hội
(Lâm Đồng); mô hình thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân
Thông Hội (Tp.Hồ Chí Minh), Tân Lập (Bình Phước)… Hiện, các mô hình
này đang là điểm sáng thu hút sự quan tâm, học hỏi và cũng là căn cứ để Ban
chỉ đạo Trung ương rút kinh nghiệm chỉ đạo cả nước [16].
20
20
21
Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới được thực
hiện thí điểm tại 11 xã trong giai đoạn 2009 - 2011 đã rút ra năm bài học kinh
nghiệm [19]:
- Tiến hành xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã, trước tiên phải
làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng để nâng cao nhận thức trong cộng
đồng dân cư về nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế chính sách của Nhà
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn xã
Phú Lâm - Tĩnh Gia - Thanh Hóa.
- Đánh giá thực trạng nông thôn (các tiêu chí để đánh giá như: quy
hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, cơ sở vật chất, chợ,
trường học, bưu điện, thu nhập, cơ cấu lao động, hộ nghèo, hình thức tổ chức
sản xuất, y tế, văn hóa, môi trường, an ninh, giáo dục, hệ thống tổ chức chính
trị xã hội…). So sánh thực trạng nông thôn xã Phú Lâm với 19 tiêu chí do
Thủ tướng Chính Phủ ban hành.
- Phân tích thuận lợi, khó khăn của xã khi xây dựng nông thôn mới.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đưa xã Phú Lâm thành xã nông thôn
mới vào năm 2015.
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Các số liệu sơ cấp và thứ cấp có liên quan đến nội dung nghiên cứu sẽ
được điều tra, thu thập trong quá trình thực hiện đề tài.
Thu thập số liệu thứ cấp:
Trong đề tài sử dụng số liệu đã công bố của các cơ quan thống kê, các
sách báo tài liệu, báo cáo tổng kết đã được công bố của xã và huyện để thu
thập các tài liệu có liên quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh, hạ tầng kinh tế
xã hội, văn hóa, môi trường của khu vực nghiên cứu.
Thu thập số liệu sơ cấp:
22
22
23
Phương pháp PRA: PRA là một loạt các biện pháp tiếp cận và phương
pháp khuyến khích lôi cuốn người dân tham gia cùng chia sẻ thảo luận, phân
tích kiến thức của họ về đời sống, điều kiện nông thôn để họ lập kế hoạch
thảo luận cũng như thực hiện và giám sát, đánh giá. Đề tài này đã sử dụng
Sau đó tiến hành tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp này
để tổng hợp các số liệu thu thập được sau đó xử lý trên bảng tính Excel, phân
tích đánh giá tình hình thực hiện.
- Phương pháp đối chiếu so sánh: Phương pháp này xác định xu hướng,
mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng
nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng
đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan,
phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu.
24
24
25
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
* Về vị trí địa lý: Theo bản đồ Việt Nam năm 2000 Phú Lâm nằm:
- Từ 21
0
44’00’’ đến 21
0
48’30” vĩ độ Bắc.
- Từ 105
0
67’81” đến 105
0
76’30” kinh độ Đông.
* Giáp giới:
- Phía Đông giáp xã Trúc Lâm huyện Tĩnh Gia;