1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MTQG
NTM
CNH - HĐH
KHKT
GTVT
BỘ VH - TT - DL
NN - PTNT
THCS
UBND
Mục tiêu quốc gia
Nông thôn mới
Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
Khoa học kỹ thuật
Giao thông vận tải
Bộ văn hóa - thông tin - du lịch
Nông nghiệp - phát triển nông thôn
Trung học cơ sở
Ủy ban nhân dân
3
16/4/2009 ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Quyết định 008/
5
QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG)
về xây dựng nông thôn mới 2010- 2020.
Ngay sau khi có quyết định 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, nhiều nơi ngoài 11 xã
được chọn làm thí điểm thì các xã khác cũng tiến hành thực hiện xây dựng mô
hình NTM với các tiêu chí đã đề ra.
Yên Bái là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía bắc phần lớn
người dân sống ở nông thôn. Do vậy phát triển nông thôn có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Yên Bái nói riêng và phát
triển Đất nước nói chung.
Hiện nay chương trình xây dựng nông thôn mới đang được tiến
hành trên địa bàn xã Tân Lập - huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái, để vận dụng
một cách có chọn lọc các phương pháp, kế thừa bài học kinh nghiệm của một
số nước trên thế giới nhằm cụ thể hóa một cách chi tiết, mô phỏng nó thành
phương pháp để thực hiện có tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với tình hình
thực tế tại địa phương. Xuất phát từ những yêu cầu về xây dựng nông thôn
mới với tình hình trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích thực trạng
và đề xuất một số giải pháp thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 tại xã Tân Lập - huyện Lục
Yên - tỉnh Yên Bái”.
1.2. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng nông thôn và từ đó đưa ra một số giải
pháp chủ yếu và thiết thực, nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới tại địa
phương theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
1.3. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng nông thôn và so sánh mức độ đạt được của
2.1.1.1. Khái niệm về nông thôn
Vùng nông thôn được quan niệm ở mỗi nước khác nhau vì điều kiện
kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau. Cho đến nay chưa
có một quan niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn. Để có
được định nghĩa nông thôn, người ta so sánh nông thôn với thành thị. Trong
khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư.
Có ý kiến dùng chỉ tiêu trình độ phát triển kết cấu hạ tầng để phân biệt
thành thị và nông thôn.
Có ý kiến dùng chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hóa, tiếp cận thị trường
để phân biệt thành thị và nông thôn.
Có ý kiến lại cho rằng vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đó làm
nông nghiệp là chủ yếu.
Qua một số ý kiến trên nếu dùng chỉ tiêu riêng lẻ thì chỉ thể hiện từng
mặt của vùng nông thôn mà chưa thể hiện vùng nông thôn một cách đầy đủ.
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra
khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau:
Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là
nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém
phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất
hàng hóa kém hơn.[1]
Tuy nhiên khái niện trên cần đặt trong điều kiện thời gian và không
gian nhất định của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục nghiên
cứu để có khái niệm chính xác và hoàn chỉnh hơn.
Nông thôn trải dài trên địa bàn khá rộng, chịu ảnh hưởng nhiều
bởi điều kiện tự nhiên, mang tính chất đa dạng về qui mô, về trình độ phát
triển, về các hình thức tổ chức và quản lý. Tính đa dạng đó diễn ra không chỉ
8
giữa nông thôn của các nước khác nhau, mà ngay cả các vùng nông thôn khác
9
điểm trên, quan điểm của Ngân hàng Thế giới được nhiều người chấp nhận
-
nhất và được coi như một quan niệm chung về phát triển nông thôn.
Như vậy từ các quan điểm trên cho thấy phát triển nông thôn là sự phát
triển tổng hợp liên ngành kinh tế - xã hội trên một số nước hoặc một vùng
lãnh thổ trong thời gian và không gian nhất định.
Phát triển nông thôn không chỉ đơn thuần là phát triển về mặt kinh tế
mà gồm cả phát triển về mặt xã hội nông thôn. Nói cách khác là vừa nâng cao
đời sống vật chất vừa nâng cao đời sống tinh thần cho người dân nông thôn.
Phát triển nông thôn không chỉ là phát triển sản xuất nông nghiệp mà phải kết
hợp với phát triển sản xuất công nghiệp và du lịch nông thôn, tạo thành cơ
cấu nông thôn hợp lý. Trong phát triển nông nghiệp phải chú trọng tới cả lâm
nghiệp và thủy sản…
Xét trên mặt kinh tế, xã hội, môi trường thì nông thôn là vùng hết sức
quan trọng để phát triển của mỗi nước. Nhận thức đầy đủ về sự phát triển là
phát triển kinh tế bao gồm cả phát triển về con người và nhu cầu cơ bản của
họ. Chính vì vậy phương hướng, mục tiêu phát triển là phải thay đổi trong
phát triển nông thôn.
Thực tế ở Việt Nam những năm qua cũng đã có những sự thay đổi về
quan điểm và cách nhìn nhận về phát triển, đã có sự thay đổi mới về chính
sách và chương trình hành động sửa chữa những sai lầm đã mc phải và chú ý
hơn đến sự phát triển toàn diện cho con người.
Khái niệm Phát triển bền vững của Brundtland “Phát triển bền vững là
sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới khả năng
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” .
Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn
với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn. Phát
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được
tăng cường.
* Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới
- Cần phát huy sức mạnh cộng đồng: Thực hiện nghị quyết của Trung
ương, của tỉnh Uỷ về “ nông nghiệp, nông thôn, nông dân”. Đây là một đề án
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm phát triển nông thôn một cách toàn diện,
nâng cao đời sống người dân về mọi mặt và được thực hiện chủ yếu theo
phương châm dựa vào sức lực của cộng đồng.
11
- Rất cần thể chế, chính sách “ thông minh”: Để xây dựng nông thôn
mới là một vấn đề phước tạp vì liên quan đến nhiều nghành nghề, nhiều chính
sách và hoạt động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khu vực nông thôn
mới và đời sống của người dân. Các xã cũng cần lựa chọn các tiêu chí để
được ưu tiên thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề còn gây bức xúc trong việc
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, hoàn thành sớm các tiêu chí có điều
kiện thuân lợi để thực hiện.
- Khơi dậy tinh thần đoàn kết, ý thức vươn lên của người dân: Người
dân nông thôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn ổn
định và phát triển bền vững. Ngoài phần đầu tư của Trung ương và địa
phương, nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới cấp xã đã được xây dựng theo
phương châm là dựa vào sức mạnh cộng đồng là chính. Do vậy, việc khơi dậy
tinh thần đoàn kết, ý thức vươn lên của người dân là hết sức cần thiết trong
quá trình triển khai tiến hành đề án.
Theo đó, người dân tham gia đầu tư vào phát triển sản xuất, xây dựng
nhà ở, tham gia vào xây dựng những công trình công ích như giao thông, thủy
lợi…., tham gia vào các hoạt động y tế, giáo dục, môi trường.
- Điều quan trọng là các ngành, địa phương cần tập chung tuyên truyền,
xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ.
- Dân trí được nâng cao,bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn
và phát huy.
- An ninh tốt, quản lý dân chủ.
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.
Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính Phủ đã kí Quyết định số
49/QĐ-TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, kèm
theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí áp dụng riêng cho
từng vùng của Việt Nam. Bộ tiêu chí cụ thể hóa đặc tính của xã NTM thời kì
đẩy mạnh CNH-HĐH.
Bộ tiêu chí cũng là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch
phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới. Ngoài ra nó còn là căn cứ để chỉ đạo
đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới của các địa phương trong từng thời
kỳ, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới.
Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình
MTQG, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình dự án khác đang
triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết
có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh
13
tế, huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư. Chương trình được thực hiện
gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc
phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ sở đảm bảo
cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do
các bộ chuyên ngành ban hành).
2.1.2.3. Nội dung xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã trung du miền núi
phía bắc
Bảng 2.1: Các tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới tại
chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng
văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp.
Đạt
2.1 Tỷ lệ Km trục đường liên xã được nhựa hóa bê
tông đạt tiêu chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ
GTVT
100%
2.2 Tỷ lệ Km đường trục thôn, xóm được cứng
2
Giao thông
hóa đạt tiêu chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ
GTVT
50%
2.3 Tỷ lệ Km dường ngõ, xóm sạch và không lầy 100% (50%
lội vào mùa mưa
cứng hóa)
2.4 Tỷ lệ Km đường trục chính nội đồng được
3
Thủy lợi
4
Điện
của ngành điện
Đạt
4.2 Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn
từ các nguồn
95%
Tỷ lệ trường học các cấp: Mầm non, Mẫu giáo,
5
Trường học Tiểu Học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn
quốc gia
Cơ sở vật
6
chất văn
hóa
7
8
Chợ nông
thôn
Đạt
9.2 Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây
11
13
Đạt
Đạt
Thu nhập
động
100%
8.1 Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông
10
12
Đạt
6.2 Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu dân cư thể
8.2 Có Internet đến thôn
Nhà ở cư
học trung học ( phổ thông, bổ túc, học nghề)
70%
14.3 Tỷ lệ lao động qua đào tạo
>20%
15.1 Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo
15
Y tế
hiểm y tế
15.2 Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
20%
Đạt
Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chẩn
16
Văn hóa
làng văn hóa theo tiêu chuẩn làng văn hoá theo
quy định của Bộ VH-TT-DL
17.1 Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo
tiêu chuẩn Quốc gia
17.2 Các cơ sở sản xuấtSX kinh doanhKD đạt tiêu
chuẩn về MT
An ninh trật
19
tự xã hội
An ninh trật tự xã hội được giữ vững
(nguồn Nguồn: Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 16/4/2009)
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
16
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình thực hiện mô hình nông thôn mới trên thế giới
* Xây dựng mô hình nông thôn mới ở Hàn Quốc
Vào những năm 1960, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu, đời
sống nhân dân còn gặp vô vàn khó khăn. Trong cả nước có 34% dân số
thuộc vào nhóm nghèo đói và chỉ có 20% dân số có thể tiếp cận với điện.
Dù đã đình chiến những hai miền Nam - Bắc vẫn đang còn căng thẳng,
không có đủ kinh phí để đầu tư phát triển nông thôn. Trước hoàn cảnh đó,
bước vào những năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu thực hiện mô
cán bộ chính quyền địa phương.
Trước khi tiến hành hỗ trợ cho các làng, cán bộ dự án tiến hành các điều
tra xã hội học đối với ba nhóm đối tượng là : Cán bộ địa phương, cán bộ làng
và người dân. Các điều tra này cho biết được đích xác nhu cầu hiện tại của
người dân trong các làng, suy nghĩ và trình độ nhận thức của lãnh đạo làng.
Dự án tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo cán bộ cấp làng và chính quyền
cấp địa phương. Tại các lớp tập huấn, sẽ có các buổi thảo luận nhóm về vấn
đề: “Làm thế nào để người dân hiểu và thực hiện các chính sách của nhà
nước?”. Với chủ đề này, lãnh đạo làng và các chính quyền địa phương đã đưa
ra những ý kiến, giải pháp cho hoàn cảnh cụ thể ở làng mình.
Để sự tham gia của người chủ động và hiệu quả, các cán bộ làng sẽ
thực hiện quá trình trao đổi ý kiến với dân làng, tiếp thu ý kiên của nhân dân
để điều chỉnh và phát triển dự án.
Dự án Nông thôn mới trả lương cho cán bộ làng thay cho nhân dân
như trước đây, cho nên đã khuyến khích cả cán bộ làng và nhân dân cùng
tham gia.
Nâng cao chất lượng cán bộ, lãnh đạo và tiếp thu ý kiến từ trong nhân
dân là hai biện pháp mang lại hiệu quả cao cho các dự án hỗ trợ trong mô
hình “Nông thôn mới”
- Thành tựu của mô hình “Nông thôn mới”
Kết quả của việc thực hiện mô hình nông thôn mới được thể hiện rất
nhanh chóng tại các làng mà các dự án đã triển khai. Sau 7 năm thực hiện
tổng chiều dài đường giao thông nội làng đã tăng lên 42.000 km, đường giao
thông nối các làng với nhau là 43.000 km. Hệ thống cầu cống, các công trình
cung cấp nước sạch đã được hoàn thành đồng bộ.
Thay đổi lớn nhất là vật liệu làm nhà chuyển từ rơm rạ sang các vật
liệu xây dựng công nghiệp (xi măng, thép). Các nguồn năng lượng phục vụ
cho sinh hoạt của cư dân nông thôn đã thay đổi theo hướng hiện đại, thay
rất nặng nề. Không có xã hội khá giả ở nông thôn thì không thể có xã hội khá
giả cho cả nước.
19
Tình trạng nghèo ở nông thôn TQ: nông dân nghèo với diện tích ruộng
đất họ có không đủ nuôi cả gia đình, phải tìm thêm công việc ngoài nông
nghiệp để tăng thu nhập.
Thu nhập trung bình của nông dân TQ làm nông nghiệp (chiếm 77,5 %
nông dân) là 30 nguyên năm 1998, 57- 1999, 43 -2000.
Thu nhập của dân nông thôn chỉ bằng một phần ba của dân đô thị.
23,65 triệu người sống dưới mức nghèo, có thu nhập không quá 573 nguyên.
Năm 1978 thu nhập của dân đô thị là 343,4 nguyên, nông thôn là 133,6, mức
chênh lêch là 1:2,57
Trước sức ép của dư luận Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã phải thay
đổi chính sách đối với nông thôn nhằm giải quyết đồng thời vấn đề nông
nghiệp nông thôn và nông dân, gọi là Tam nông. [9]
Về cơ sở hạ tầng: Thuế vào việc sử dụng đất canh tác sẽ tăng lên và
nhiều thứ thuế mới sẽ được áp dụng trong phát triển nông thôn. Sẽ có các quy
định để bảo đảm và điều tiết thu nhập thuế đất cho việc phát triển đất nông
nghiệp. Phí thu từ sử dụng đất sẽ được dùng chủ yếu vào các dự án phát triển
đất nông nghiệp nhỏ và bảo vệ nước.
Chính phủ sẽ ưu tiên xây dựng các hạ tầng cơ sở cần cấp thiết cho đời
sống nông dân. Chương trình nước sạch sẽ được thực hiện nhanh hơn, trước
hết ở các vùng nước bị ô nhiễm. Năng lượng sạch sẽ được áp dụng rộng rãi.
Mạng lưới điện nông thôn sẽ được nâng cấp. Xây dựng đường nông thôn sẽ
được xúc tiến.
Về chính sách: Hệ thống hỗ trợ nông nghiệp và nông dân sẽ được bảo
đảm và củng cố bằng cách tăng hỗ trợ trực tiếp. Hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất
lương thực ở các vùng trồng lương thực sẽ được tăng lên 50 % của quỹ rủi ro
dân và doanh nghiệp.
Về chức năng chính phủ: Chính quyền cấp xã sẽ được phát triển để tạo
điều kiện cho việc đầu tư, sản xuất. Cải tiến chế độ thuế ở nông thôn. Đặt tài
chính của các huyện dưới sự kiểm soát của chính quyền huyện.
Về môi trường: Cần chú ý hơn vào quy hoạch làng và khu dân cư.
Hiện nay có nhu cầu phải quy hoạch lại nông thôn để xây dựng một xã hội
khá giả. Phải bảo vệ đất xây dựng ở nông thôn. Nhà nước sẽ giúp nông dân
miễn phí trong việc bố trí lại nhà cửa.
21
Bảo đảm quyền lợi cho nông dân ra đô thị làm thuê: Hiện nay ở nông
thôn TQ có 320 triệu lao động nông nghiệp, trồng trọt cần 150 tiệu, các ngành
nông nghiệp khác cần 20 triệu, còn thừa 150 triệu. Tiền do lao động làm thuê
ở đô thị rất quan trọng đối với thu nhập ở nông thôn. Chính phủ đã giao cho
các bộ giải quyết các vấn đề hợp đồng lao động, mức lương, môi trường lao
động, giáo dục của con em họ, bảo hiẻm y tế cho lao động ra đô thị.
Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn làm nức lòng nhân dân
trong nước và được cả thế giới ngưỡng mộ. Nền kinh tế-xã hội Trung Quốc
giữ vững xu thế phát triển tốt đẹp. Thực lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp và địa
vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao rõ rệt. Trung Quốc đã khống chế có
hiệu quả những nhân tố không ổn định trong quá trình phát triển, chiến thắng
những thách thức của dịch bệnh và thiên tai lớn.,
Nền kinh tế Trung Quốc đã liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất
thế giới. Giá trị tổng sản lượng quốc nội (GDP) tăng trung bình 8,8%/ năm.
GDP bình quân đầu người từ mức 856 USD của năm 2000 tăng lên tới
khoảng 1.380 USD của năm 2005. Hiệu quả kinh tế được nâng cao rõ rệt. Lợi
nhuận xí nghiệp công nghiệp từ mức 439,3 tỷ Nhân dân tệ (NDT- 1 NDT
bằng khoảng 1.900 VND), tăng lên mức 1.134,2 tỷ NDT.
Về mặt công nghệ, tiến trình công nghiệp hoá, tin học hoá được đẩy
thôn mới đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng. Mô
hình nông thôn mới theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy
xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu
chí nông thôn mới là phù hợp.
Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới được
thực hiện tại 11 xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang),
Hải Đường (Nam Định), Thuỵ Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam),
Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông
Hội (TP. Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hoà (Kiên Giang).
Mục tiêu của chương trình nhằm thử nghiệm các nội dung, phương pháp, cách
làm, cơ chế, chính sách, xác định trách nhiệm và mối quan hệ chỉ đạo giữa
các cấp trong việc xây dựng nông thôn mới; hình thành các mô hình trên thực
tiễn về nông thôn mới để rút kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu
Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên diện rộng.
23
Theo kết quả đánh giá của các địa phương, đến nay đã có 7/11
xã đạt được 10 tiêu chí trở lên, gồm Thuỵ Hương; Tân Thịnh; Hải Đường; Gia
Phố; Tân Thông Hội; Mỹ Long Nam; Định Hoà; trong đó có 3 xã đạt 14/19
tiêu chí trở lên là Thuỵ Hương 13, Tân Thịnh 14, Tân thông Hội 14. Có 3 xã
đạt từ 8-10 tiêu chí, gồm Tân Lập, Tân Hội, Tam Phước. Riêng xã Thanh
Chăn (Điện Biên) tuy là xã khó khăn nhất, nhưng đã đạt 7/19 tiêu chí. Một số
xã đạt kết quả tương đối toàn diện như: Hải Đường, Tân Thịnh, Tân Thông
Hội... Một số xã đạt được mô hình tốt ở một số mặt như: quy hoạch và thực
hiện tốt quy hoạch ở Hải Đường; phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ở Mỹ
Long Nam; huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và Định Hoà; phát triển sản
xuất gắn với quy hoạch đồng ruộng và cơ sở hạ tầng ở Tam Phước; phong trào
cải tạo điều kiện sống của các hộ dân cư ở Tân Thịnh; liên kết sản xuất giữa
nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội; thu hút doanh nghiệp
* Về thời gian:
- Thời gian thực tập: từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 5 năm 2012.
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên
cứu.
- Đánh giá thực trạng nông thôn của xã Tân Lập, huyện Lục Yên,
tỉnh Yên Bái, so sánh mức độ đạt được với Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn của địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng hoàn thành các
tiêu chí NTM trong thời gian tới, sớm đưa xã trở thành xã nông thôn mới
đúng với mục tiêu quốc gia.
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp:
Thông qua các sách báo tài liệu, đề án xây dựng nông thôn, báo
cáo tổng kết đã được công bố của xã để thu thập các tài liệu có liên quan về
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, văn hóa, môi trường trên địa
bàn nghiên cứu.
- Thu thập số liệu sơ cấp:
25
Phương pháp PRA: PRA là phương pháp nghiên cứu phát triển nông
thôn, tập hợp một hệ thống các công cụ nghiên cứu. Thông qua các công cụ
này, cán bộ nghiên cứu và người dân cùng phát hiện các vấn đề, nghiên cứu
và đề xuất các hướng giải quyết, phối hợp thực hiện và cùng rút ra bài học
kinh nghiệm phổ cập. Qua PRA cán bộ nghiên cứu, phổ cập có thể học hỏi từ
người dân, đồng cảm vời người dân, là người cộng tác nòng cốt giúp cộng
đồng phát triển.[4]