ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
******
NGUYỄN TIẾN DŨNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở NÔNG THÔN
(Nghiên cứu trường hợp hai tỉnh Thanh Hóa và Bình Phước)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS VŨ HÀO QUANG HÀ NỘI - 2007 MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………………… 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ……………………………………………………… 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………….….…5
4. Đối tƣợng khách thể và phạm vi nghiên cứu…………………………………… 5
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………… …7
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết……………………………………………23
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
3.1.5 Tham giám sát xây dựng và duy tu bảo dưỡng công trình ……………… …………80
3.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự tham gia………………………………… …….84
3.2.1 Các yếu tố về nhân khẩu xã hội của cộng đồng………………………………… ….84
3.2.2 Vai trò của trưởng thôn…………………………………………………… …89
3.2.3 Chính quyền cấp xã……………………………………………………………………… 92
3.2.4 Các tổ chức trung gian/xã hội dân sự…………………………………………….… 95
3.2.5 Các yếu tố về cơ chế chính sách…………………………………………………….….99
3.2.5.1 Quá trình phân cấp quản lý đầu tư cho cấp xã………………………… …………99
3.2.5.2 Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở……………………………… … … 103
3.3 Tiểu kết ………………………………………………………………… ……….105
PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận …… ………………………………………………………………………107
2. Khuyến nghị…………………………………………………………………………109
2.1 Những khuyến nghị chung……………………………………………………………… 109
2.2 Các khuyến nghị cụ thể………………………………………………………………… 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
XĐGN:
Xóa đói giảm nghèo
VDP:
Kế hoạch phát triển thôn bản
PPA:
Đánh giá nghèo có sự tham gia
ĐPDA:
Điều phối dự án
ODA:
Hỗ trợ phát triển chính thức
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khâm phục
trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. Năm 1993 Việt Nam vẫn còn khoảng 58% dân
số sống trong nghèo đói, năm 1998 con số này là là 37% và năm 2002 đã giảm
xuống 29%
1
. Những con số này thể hiện một cách tập trung những nỗ lực cải cách
của Việt Nam kể từ khi tiến hành đổi mới vào năm 1986. Trên cơ sở không ngừng
nâng cao khả năng tiếp cận với các dịch vụ giáo dục và y tế, Việt Nam đã và đang
tiếp tục đạt được những thành quả đáng kể trong quá trình thực hiện các Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ. Ngoài ra, Việt Nam đang ngày càng hội nhập vào nền kinh
tế toàn cầu và đóng một vai trò tích cực hơn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế
của khu vực và toàn cầu.
Khu vực nông thôn có diện tích đất chiếm 92% diện tích lãnh thổ Việt Nam với
75% dân số sinh sống đang trở thành một trong những trọng tâm của các chính sách
phát triển ở Việt Nam. Hiện nay, khu vực này mặc dù đã được đầu tư nhiều và đã có
tham gia nhiều hơn vào quy trình ra quyết định, từ việc lập kế hoạch đến giám sát,
đánh giá, vận hành bảo dưỡng công trình đầu tư. Có như vậy, hiệu quả của công
trình đầu tư mới được đảm bảo và có tính bền vững.
Hiện nay Chính phủ Việt Nam đang thực hiện nhiều chương trình cải cách theo
hướng đảm bảo việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ với chất lượng tốt hơn cho người
dân. Nhìn chung, Việt Nam đang thí điểm áp dụng một hệ thống lập kế hoạch, lập
ngân sách và thực hiện các chương trình, dự án phát triển được phân cấp nhiều hơn
cho các cấp địa phương. Cụ thể là theo tinh thần của Nghị định số 29 (Ban hành
năm 1998) của Chính phủ về “phát huy dân chủ cấp cơ sở” thì các cấp chính quyền
đã có cam kết rõ ràng hơn về trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và đẩy mạnh sự
tham gia của người dân vào những công việc quản lý chung ở địa phương.
Quá trình phân cấp cùng với nó là sự tham gia mạnh mẽ từ phía người dân đang là
một trong những chủ trương đang được triển khai từng bước trong nhiều lĩnh vực
như quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển, ngân sách nhà nước, v.v. ở các
cấp chính quyền địa phương khác nhau và là một nội dung quan trọng của Chương
trình Cải cách hành chính công của Chính phủ giai đoạn 2001-2010. Phân cấp quản
lý các hoạt động đầu tư phát triển cấp xã cũng đã được từng bước triển khai trong
hệ thống quản lý nhà nước cũng như các dự án phát triển nông thôn sử dụng nguồn
vốn trong nước và nguồn tài trợ. Việc phân cấp này góp phần thúc đẩy việc thực
hiện dân chủ ở cơ sở và tăng cường hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động
đầu tư.
Ở một khía cạnh khác, xu hướng hội nhập toàn cầu cùng với sự gia tăng những ảnh
hưởng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã đặt ra những yêu cầu về sự phát
triển bền vững về mặt xã hội. Điều đó đã quy định cho khoa học Xã hội học những
nhiệm vụ nghiên cứu mang tính thực tiễn về sự phát triển bền vững ở Việt Nam.
Phát triển bền vững là một khái niệm mang tính học thuật khá phức tạp, mặc dù nó
đã và đang gây nhiều tranh cãi, nhưng mục tiêu cuối cùng mang tính khái quát hơn
của sự phát triển bền vững lại mang tính xã hội và nhân văn, như được nêu trong
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các lý thuyết, các khái niệm xã hội học vào
việc tìm hiều và mô tả sự tham gia của cộng đồng dân cư qua đó đưa ra được một
thực trạng về sự tham gia của người dân trong các lĩnh vực thuộc về cơ sở hạ tầng
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
4
nông thôn.Qua đó tiến hành giải thích thực tế về sự tham gia dưới giác độ xã hội
học và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng.
Thông qua quá trình nghiên cứu, các khái niệm liên quan đến cộng đồng và sự tham
gia sẽ được làm sáng tỏ hơn, đồng thời phát hiện ra một số quy luật mang tính xã
hội của quá trình tham gia của người dân.
Trên cơ sở vận dụng tri thức xã hội học vào nghiên cứu, các khái niệm và các lý
thuyết thuộc xã hội học đại cương có điều kiện va chạm và cọ sát với thực tiễn xã
hội, qua đó góp phần nhìn nhận lại các khái niệm và lý thuyết và rút ngắn khoảng
cách giữa lý luận và thực tiễn cuộc sống.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua mô tả và giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tham gia của
người dân, nghiên cứu sẽ khuyến nghị các giải pháp mang tính thực tiễn cho các
nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách. Cụ thể, nghiên cứu sẽ khuyến nghị
những giải pháp tăng cường hiệu quả của sự tham gia của người dân trong việc lập
kế hoạch phát triển thôn bản, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, trong
phát triển cơ sở hạ tầng ở cơ sở.
Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở tham khảo cho việc huy động sự tham gia của
người dân ở các vùng nông thôn, qua đó tạo điều kiện cải thiện toàn diện chất lượng
cuộc sống và phúc lợi xã hội cho các cộng đồng dân cư nông thôn. Ngoài ra kết quả
nghiên cứu cũng sẽ làm cơ sở tham khảo cho các cơ quan thiết kế chương trình, dự
án đầu tư hướng vào phát triển toàn diện lĩnh vực nông thôn. Đặc biệt là trong lĩnh
vực giảm nghèo và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Với ý nghĩa này, đề tài sẽ
góp phần vào việc hoàn thiện các phương pháp tiếp cận và các công cụ để huy động
luận nghiên cứu vấn đề sự tham gia của cộng đồng.
Khái quát một số nghiên cứu về sự tham gia của người dân và quá trình
phân cấp trên thế giới và Việt Nam.
Phân tích thực trạng về sự tham gia của người dân trong phát triển cơ sở hạ
tầng thông qua việc làm rõ nội dung, hình thức và hiệu quả của sự tham
gia. Phân tích các nguyên nhân thành công và thất bại trong quá trình huy
động sự tham gia của người dân.
Phân tích và làm rõ vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của
người dân trong phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, qua đó dự báo xu
hướng về sự tham gia.
Đưa ra các kết luận, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, các khuyến nghị
cho việc huy động sự tham gia của người dân đạt hiệu quả cao.
4. Đối tƣợng khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc
phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn.
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
6
4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là những người dân nông thôn tại hai tỉnh Thanh
Hóa và Bình Phước.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: nghiên cứu được tiến hành tại xã Bù Gia Mập - Phước Long -
Bình Phước và xã Thành Minh - Thạch Thành – Thanh Hóa.
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2006.
4.4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc phát triển cơ sở
hạ tầng. Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng dân cư là một quá trình rộng lớn và
đề tài này sẽ không đề cập đến phạm vi rộng lớn đó. Đề tài chỉ đề cập đến những
tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ khía cạnh bên ngoài, không
bản chất của các hiện tượng xã hội đến khía cạnh sâu hơn của chúng. Điều đó cũng
có nghĩa rằng nhận thức xã hội cần phải bắt đầu từ những nghiên cứu thực nghiệm,
song không dừng lại ở đó. Nói cách khác, không chỉ nên dừng lại ở việc mô tả, quan
sát, phân loại các sự kiện mà phải tiếp tục đi xa hơn, sâu hơn vào bản chất của sự
kiện xã hội để chỉ ra được tính quy luật xã hội học, để tạo ra các giả thuyết mới, các
quan điểm và nhận định khoa học mới cũng như các lý thuyết mới và chính từ các
giả thuyết mới này xuất hiện sự cần thiết các cuộc nghiên cứu xã hội học mới để
kểm tra và khẳng định giả thuyết đó. Quá trình này được tiếp tục sẽ giúp chúng ta
nhận thức được ngày càng sâu sắc về bản chất của thực tế xã hội [23; 60].
Mặt khác, trong các nghiên cứu xã hội học, phương pháp luận triết học Mác xít yêu
cầu không được xem xét các hiện tượng xã hội một cách siêu hình, mà phải xem xét
chúng một cách biện chứng. Có nghía là các hiện tượng xã hội cần phải được xem
xét một cách hệ thống, chúng cần phải được đặt trong tương quan liên hệ với các sự
vật hiện tượng xã hội khác; và chúng cần phải được xem xét trong mối quan hệ có
tính quy luật, có sự phục thuộc và quyết định lẫn nhau.
Các sự kiện,hiện tượng xã hội không thể được nghiên cứu như những vật thể bất
động, hoặc chỉ có sự thay đổi về số lượng; mà chúng cần phải được nghiên cứu và
xem xét như là đang trong trạng thái vận động có tính quy luật, trong đó nhìn nhận
sự phát triển bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng Các sự vật hiện tượng cần
phải được xem xét ở cả mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài để từ đó có
thể thấy được nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
Các nghiên cứu xã hội học cũng cần phải được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Có
nghĩa là ki phân tích một sự vật hiện tượng xã hội thì cần phải xuất phát từ thực tế
lịch sử xã hội cụ thể chứa đựng sự vật hiện tượng đó. Thực tế lịch sử cần được xem
xét như cơ sở, mục tiêu, tiêu chuẩn của thông tin thực nghiệm [23; 61].
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
8
Vì vậy, đề tài sẽ xem xét sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển cơ sở
công bằng xã hội.
- Củng cố các thiết chế/ tổ chức để tạo điều kiện cho chuyển biến xã hội và
tăng trưởng.
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
9
- Thu hút sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình phát triển.
Hai khái niệm then chốt của phát triển cộng đồng là tăng cường năng lực và tạo
quyền lực được coi là hai trọng tâm của phát triển cộng đồng, để tạo được điều này,
phát triển cộng đồng phải là một quá trình luôn tiếp diễn. Mục tiêu cuối cùng của
một chương trình phát triển cộng đồng là giúp cho cộng đồng đi từ một tình trạng
kém phát triển, không tự mình giải quyết các vấn đề của riêng mình tới tự lực [27;
50].
Phát triển cộng đồng là một quá trình diễn ra theo các bước tuần tự từ thấp đến cao
bao gồm bước chính là thức tỉnh (nhận diện vấn đề), tăng cường năng lực (chuẩn bị
nguồn lực - tập luyên) và tự lực (tự giải quyết các vấn đề của mình). Trong đó, thức
tỉnh là giai đoạn cộng đồng nhận diện về tình trạng phát triển của mình, xác định
các khó khăn thuận lợi và xác lập những vấn đề ưu tiên. Sau đó cộng đồng sẽ được
tăng cường năng lực thông qua những hỗ trợ từ phía bên ngoài và kết hợp với khả
năng của bản thân để khắc phục những hạn chế và tăng cường kiến thức và kỹ năng
để hành động. Tăng cường hoạt động liên kết, khả năng tổ chức, lãnh đạo và quản
lý để hành động tập thể có hiệu quả hơn. Các hoạt động trong 2 bước nêu trên sẽ
giúp cộng đồng trở nên tự lực. Mục đích cuối cùng không phải là mọi khó khăn,
khủng hoảng không còn nữa, mà mỗi lần gặp khó khăn, cộng đồng có thể tự huy
động nguồn lực từ bên trong và bên ngoài để giải quyết vấn đề [27; 51].
Phát triển cộng đồng tuân thủ những định hướng nhất định, đó là phát triển cộng
đồng phải dựa trên phương pháp luận từ dưới lên (bottom – up) xuất phát từ nhu
cầu của chính người dân. Muốn tự phát triển chính người dân phải tự ý thức cũng
như tự tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình. Phát triển cộng đồng phải đồng bộ
trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội: kinh tế, xã hội, văn hóa…phải cùng được
chí và nội lực từ bên trong. “Làm thay, “nghĩ hộ” là những tư duy và hành động xa
lạ với phát triển cộng đồng. Mọi chương trình hành động phải do cộng đồng tự
quyết nhằm bảo đảm tính tự chịu trách nhiệm của họ. Trong phát triển cộng đồng,
cần chú ý và đảm bảo tính dân chủ và công bằng xã hội trên cơ sở tôn trọng lợi ích
chung của cộng đồng. Tuy nhiên, dân chủ đòi hỏi một quá trình làm quen, trong đó
hình thức dân chủ nhất chính là tính tổ chức và tính kỷ luật. Hoạt động phát triển
cộng đồng là các hoạt động mang tính nhân - quả, muốn tạo ra hiệu quả mang tính
tổng thể phải có một chuỗi các hoạt động liên quan và phụ thuọc lẫn nhau. Bên cạnh
đó, phát triển cộng đồng cần ưu tiên các hoạt động mang tính đột phá cũng như các
mục tiêu ưu tiên trên cơ sở đặt trong một cách nhìn mang tính tổng thể. Phát triển
cộng đồng bao gồm các đối tượng ưu tiên là người nghèo và người thiệt thòi.
Nghèo, dân trí thấp…là các vấn đề của phát triển cộng đồng. Các hình thức hợp tác
là cơ sở để phát huy tinh thần trách nhiệm và tinh thần cộng đồng trong phát triển
cộng đồng. Song song với nó, cần xây dựng và củng cố khả năng hợp tác để cộng
đồng có khả năng ứng phó trong các tình huống nảy sinh khó khăn. Việc xác định
những hỗ trợ từ bên ngoài từ chuyên môn đến các nguồn lực vật chất – tài chính là
rất cần thiết đối với công tác phát triển cộng đồng. Tuy nhiên, các vấn đề đó chỉ
được coi là chất xúc tác. Điều quan trọng là “cách nghĩ” và “cách làm” của người
dân đã thay đổi đến mức độ nào [27; 53].
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
11
5.1.2.2 Lý thuyết về Xã hội dân sự/ xã hội công dân (civil society)
Hiện nay ở Việt Nam đang diễn ra các cuộc luận đàm về các hiện tượng và thực tế
hoạt động của các hiệp hội; người ta nhận thấy ngày càng có nhiều quan tâm tới các
tổ chức ở trong nước với thực tế là con số các tổ chức ngày càng tăng lên trong hầu
hết các lĩnh vực của cuộc sống. Thậm chí nhà nước cũng ngày càng quan tâm hơn
tới các tổ chức và làm sao để cho các tổ chức này đóng một vai trò hữu ích hơn
trong việc phát triển xã hội và hạn chế tham nhũng. Mặc dù hầu hết mọi người dân
cho rằng các tổ chức quần chúng là các tổ chức phổ biến chủ yếu ở Việt Nam, Kế
Từ giữa thập niên 90, một số ít học giả Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu các tổ chức
nhân dân. Vào đầu những năm 2000, một nghiên cứu về các tổ chức công dân đã
được khởi xướng. Các học giả nước ngoài cũng đã bắt đầu viết về đề tài này từ giữa
thập niên 90, nhưng hầu hết các học giả này không xem các tổ chức quần chúng là
một bộ phận của XHDS, đúng hơn, các tổ chức này được xem là một phần của hệ
thống Đảng.
Hiện trạng của các NGO Việt Nam mới nổi cũng gây tranh cãi, do các tổ chức này
không có cơ sở hội viên và lãnh đạo của các tổ chức này đa phần xuất phát từ các cơ
quan Nhà nước hoặc cơ quan Đảng. Hầu hết các tổ chức này không được xếp loại tổ
chức độc lập. Theo tiêu chí nổi bật nhất (tân-tự do), cơ bản ở Việt Nam là không có
XHDS, cho dù một vài tổ chức có tiềm năng phát triển thành một XHDS
2
.
Một trong những thách thức căn bản để hiểu XHDS ở Việt Nam là đương đầu với
thực tế là các tổ chức không độc lập với Nhà nước và Đảng mà ngược lại gắn kết
chặt chẽ với nhau và với Nhà nước. Kể từ sau cuộc cách mạng, nhà nước đã xem
khu vực nhà nước là quan trọng bậc nhất ở Việt Nam, và theo như các học thuyết
Mác-xit Lê-nin-nít, Nhà nước trở thành một cơ quan định ra khuôn khổ cho các tổ
chức công dân hoặc XHDS. Tuy nhiên, kể từ sau công cuộc Đổi mới, các tổ chức
và các hiệp hội đã diễn ra ở các hình thức, chức năng và mục tiêu hoàn toàn khác
nhau, và không nghi ngờ gì, trong thập niên 90, họ đã có được một vai trò quan
trọng.
2
Mark Sidel là một trong những học giả đầu tiên chỉ ra số lượng lớn các tổ chức ở Việt Nam trong Sidel (1995). Sự nổi lên của khu
vực phi lợi nhuận và từ thiện tại nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong: Tadashi Yomamoto ed. (1995) Xã hội Dân sự
mới nổi trong Cộng đồng Châu á Thái Bình Dương. Singapore, ISEAS.
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
có trụ sở tại các thành phố nhưng lại thực hiện các dự án tập trung hơn vào một vài
lĩnh vực trên toàn quốc và thường trú trọng vào các dự án về phát triển, giới, y tế và
phát triển cộng đồng. Cuối cùng, các CBO đang phát triển nhanh chóng, trú trọng
vào các dịch vụ dân sinh ở cấp cơ sở tại nhiều tỉnh thành. Sự vững mạnh của xã hội
dân sự được thể hiện qua việc gia tăng về số lượng và tính đa dạng của các tổ chức
xã hội dân sự ở các cấp, sự tham gia tích cực vào các Đánh giá Nhiều bên của hàng
ngàn dự án trên cả nước và các cuộc thảo luận công khai trên báo chí.
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
14
Đối với các tổ chức chính thống hơn thì vai trò của nhà nước là tối quan trọng, vì
chính nhà nước thiết lập khuôn khổ chính thức cho các tổ chức này. Nếu như các tổ
chức quần chúng có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, thì hiện nay số lượng các tổ
chức dân sự thậm chí còn lớn hơn và rộng hơn về hoạt động, và đã vượt ra ngoài
tầm kiểm soát của nhà nước. Tuy nhiên, hiện có thể chưa thích hợp khi gọi các tổ
chức này là tự quản, vì vẫn có sự liên kết và sự chồng chéo về đặc tính hoạt động
với các tổ chức được nhà nước bảo trợ. Nhà nước không cấm các tổ chức, điều này
được minh chứng bằng số lượng lớn các hội viên. Mặt khác, nhà nước tham gia vào
việc lãnh đạo của Đảng nhiều hơn là trong xã hội dân sự. Dự thảo Luật về Hội đã
cho thấy nhà nước vẫn đang cân nhắc việc quản lý xã hội dân sự, điều này ngược
với tính chất của hội và tổ chức là dựa trên các sáng kiến của nhân dân.
Cho dù có sự chồng chéo giữa nhà nước, Đảng và xã hội dân sự tại Việt nam, động
lực của xã hội dân sự không thể được hiểu một cách đơn giản là vì nhà nước chống
lại xã hội dân sự. Đã có nhiều thay đổi liên quan đến các hoạt động trong phạm vi
của nhà nước. Tuy nhiên, cũng có các hoạt động diễn ra bên ngoài hoặc, ít nhất là
tại phần rìa ngoài phạm vi của nhà nước, trong các nhóm được hình thành ở cấp cơ
sở - thậm chí là cả trong các tổ chức quần chúng. Các nhóm này gồm các nhóm tôn
giáo, nhóm dân tộc thiểu số, các nhóm văn hoá nghệ thuật và các hình thức khác
nhau của hoạt động dân sinh. Điều này hoàn toàn khác với ý tưởng về các dự án của
CSI, trong đó tính tự chủ là điều quan trọng đối với các hội.
những người bất hạnh. Trong khi đó, nhà nước có thể hỗ trợ và khuyến khích xã
hội dân sự thông qua nhiều hình thức hợp tác khác nhau. Nhà nước là người có
trách nhiệm sau cùng đối với người dân bằng cách đảm bảo giải quyết các thách
thức mới theo cách mà có thể giúp tăng cường phúc lợi cho nhân dân, nhưng nhà
nước có thể phối hợp với xã hội dân sự, và xã hội dân sự cũng có thể đóng góp bằng
cách tăng cường trách nhiệm giải trình của nhà nước.
5.1.2.3 Luận điểm về phát triển nông thôn bền vững
Một định nghĩa được nêu ra ở đây là: Phát triển Nông thôn là…một quá trình thay
đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao
chất lượng đời sống của người dân địa phương.
Phát triển nông thôn bền vững nhấn mạnh vào quá trình có chủ ý và bền vững. Phát
triển nông thôn không phải là một công việc làm trong một thời gian ngắn. Nó cần
phải được theo đuổi trong một thời gian dài nhiều năm và có chủ ý. Nó cũng nhấn
mạnh vào nâng cao đời sống của người dân địa phương. Một số phát triển “địa
phương” (hoặc “khu vực”) trước đây được khuyến khích do nhu cầu quốc gia (như
điện, nước hoặc quốc phòng), hơn là nhu cầu của bản thân người dân địa phương.
Nhu cầu quốc gia tất nhiên có thể được đáp ứng thông qua phát triển nông thôn, và
bất cứ sự đáp ứng thành công nào nhu cầu địa phương sẽ đóng góp gián tiếp cho sự
phồn thịnh của quốc gia. Nhưng khái niệm hiện đại về phát triển nông thôn nhấn
mạnh hàng đầu vào việc đáp ứng nhu cầu của người dân nông thôn. Phát triển nông
thôn đang được theo đuổi ở hầu hết các nước trên thế giới. Rất nhiều người tham
gia trong lĩnh vực này cho rằng phát triển nông thôn có một số đặc điểm, đó là một
sự phát triển toàn diện, dựa vào cộng đồng và mang tính bền vững.
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
16
Toàn diện nghĩa là sự phát triển đó phải là cả “từ trên xuống” và “từ dưới lên”. Nó
phải bao trùm chính sách, tiền tệ và hỗ trợ của Chính phủ (ở mọi cấp) và năng lực,
tài nguyên và sự tham gia của người dân. Quá trình đó cũng phải có sự tham gia của
mọi khu vực (nhà nước, tư nhân, tình nguyện viên) và phải dựa trên tinh thần hợp
1987) .
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
17
Một định nghĩa khác về phát triển bền vững cũng được sử dụng thường xuyên là
"Phát triển tạo ra dòng chảy liên tục các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường"
Các định nghĩa trên có thể là một điểm xuất phát có ích để suy nghĩ về sự bền vững
có ý nghĩa gì trong phát triển nông thôn. Nhưng chúng ta không đưa ra cơ sở để
đánh giá một chương trình hoặc một dự án cụ thể có thực sự bền vững hay không.
Chúng ta cần một định nghĩa có thể hỗ trợ cho việc đánh giá đó, và phản ánh tầm
quan trọng của cách tiếp cận toàn diện và phát triển dựa vào cộng đồng.
Quan điểm
3
của Chính phủ Việt Nam cũng cho rằng, “Phát triển nông thôn là một
công tác phức tạp. Nó đòi hỏi sự đóng góp của toàn dân, của tất cả các tổ chức
cũng như sự hỗ trợ của Nhà nước. Đó là sự cộng tác giữa Chính phủ và nhân
dân.Phát triển nông thôn là công việc chính của người dân nông thôn với sự giúp
đỡ tích cực của Chính phủ”.
Cụm từ thứ ba nêu trên là vô cùng quan trọng. Nó đặt sự chủ động trong phát triển
nông thôn với “nhân dân, với sự giúp đỡ của Chính phủ”. Tuy vậy, Chính phủ đóng
vai trò quan trọng với tư cách là người hỗ trợ cơ bản cho quá trình lớn và rộng khắp
mang tính quốc gia này. Chương trình Phát triển Nông thôn nêu rằng vai trò của
Chính phủ trong phát triển nông thôn là tổ chức, chỉ đạo và phối hợp các hoạt
động”, đồng thời công nhận vai trò chủ chốt của bản thân người dân nông thôn.Sự
cần thiết giao trách nhiệm, ở nơi thích hợp, cho các chính quyền tỉnh và cơ sở. Vai
trò của các tổ chức quần chúng, các nhóm tự giúp đỡ nhau và các hợp tác xã kiểu
mới; và hoạt động đang phát triển của khu vực tư nhân. Vai trò của Chính phủ trong
phát triển nông thôn là vai trò lãnh đạo, nhưng không phải chỉ là vai trò diễn xuất.
Chính phủ tổ chức, chỉ đạo và phối hợp hành động của hàng loạt các cơ quan, tổ
chức và các lợi ích, những người đóng góp cho quá trình phát triển nông thôn to lớn
cần dựa vào các lợi ích và sự tham gia của cộng đồng sống trong khu vực. Bởi,
“cộng đồng”, chúng tôi muốn nói tới tất cả những người sống ở vùng nông thôn nào
đó, bao gồm đại bộ dân và tất cả các dân tộc thiểu số, người già và thanh niên, đàn
ông và phụ nữ, người giàu và người nghèo v.v…
5.1.2.4 Lý thuyết về vai trò xã hội
Vai trò xã hội của các nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng.
Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì nó luôn luôn biến đổi trong các xã hội
khác nhau, thậm chí trong các nhóm xã hội khác nhau.
Để thực hiện những quyền và nghĩa vụ của từng vị thế xã hội, mỗi cá nhân cần phải
thực hiện những hành động nhất định; và tương ứng với mỗi vị thế sẽ có một loạt
các mô hình hành vi được xã hội mong đợi. Chính mô hình hành vi được xã hội
mong đợi là vai trò tương ứng của vị thế đó.
Trong xã hội nông thôn hiện nay, người dân nông thôn luôn đóng một vai trò nhất
định đối với cộng đồng mà họ sinh sống. Khi nào những người dân này đáp ứng
được các mong muốn mà xã hội kỳ vọng ở họ thì lúc đó họ đã góp phần vào đảm
bảo sự ổn định và phát triển của hệ thống xã hội đó. Ngược lại, khi nào những
người dân này không đáp ứng được những mong đợi từ phía xã hội thì tất nhiên sẽ
dẫn đến xung đột về vai trò.
Với vai trò là những cá nhân tạo thành cộng đồng xã hội đặc thù, từ trong lịch sử
của mình, những người dân nông thôn đã có vai trò nhất định trong bảo vệ và phát
Nguyễn Tiến Dũng Luận văn Thạc sỹ Xã hội học
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn
19
triển đất nước. Ngày nay, vai trò của người dân nông thôn trở thành trung tâm của
các mục tiêu phát triển nông thôn. Trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn,
người dân vừa là người tham gia, vừa là người giám sát chính quá trình thực hiện
các mục tiêu đó. Do vậy, song song với những vai trò đã được xác lập một cách lâu
bền từ trong quá khứ, người dân nông thôn ngày nay còn được xã hội kỳ vọng thêm
những vai trò mới và cụ thể. Và mức độ cụ thể về vai trò này đến đâu thì trong từng
giai đoạn phát triển nhất định xã hội hiện đại sẽ xác lập.
20
triển cấp hai, và phát triển kinh tế là phát triển cấp một. Bản chất của sự phát triển
con người thực chất là làm gia tăng giá trị của con người về các mặt: tinh thần, thể
chất, đạo đức, kinh tế kỹ thuật, nghệ thuật, tình cảm xã hội, trí tuệ, pháp lý…Trong
phát triển bền vững hiện nay, phát triển con người được coi là nguyên tắc hạt nhân
để dẫn đến sự thành công.
Con người được coi là một nguồn nhân lực, do đó phát triển nguồn nhân lực là
phương hướng cụ thể để phát triển con người. Tuy nhiên, phát triển con người
không đồng nghĩa với phát triển nguồn nhân lực. Phát triển con người làm gia tăng
các giá trị nói chung của con người, còn phát triển nguồn nhân lực làm gia tăng giá
trị sử dụng con người. Phát triển nguồn nhân lực chủ yếu phát triển mặt công cụ của
con người, như là một nguồn lực tài nguyên, một nguồn vốn và một động lực trong
quá trình phát triển.
Lý thuyết vốn xã hội tập trung vào nguồn lực trong xã hội cũng như cách thức tiếp
cận và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ nhu cầu lợi ích cho hành động của cá
nhân. Cụ thể, Lý thuyết vốn xã hội tập trung vào các nguồn lực được tạo ra bởi các
mạng lưới xã hội. Nguồn lực ở đây được xem xét như là những hàng hóa có giá trị
trong xã hội và sự sở hữu nó có thể giúp cá nhân duy trì, cải thiện sự tồn tại và phát
triển của chính họ. Đối với hầu hết các xã hội, nguồn lực được đề cập đến là của cải,
uy tín và quyền lực. Lý thuyết vốn xã hội tập trung vào những hành động của con
người để đạt được và duy trì các nguồn lực này [14].
Khi nói về nguồn lực, người ta thường đề cập đến ba loại nguồn lực chính là: nguồn
lực gán cho, nguồn lực giành được và nguồn lực kế thừa. Nguồn lực gán cho là
nguồn lực được gắn liền với cá nhân đó từ khi sinh ra, như giới và chủng tộc chẳng
hạn. Nguồn lực giành được là những nguồn lực có được do sự nỗ lực phấn dấu của
cá nhân, như học vấn, nghề nghiệp, tài sản…Còn nguồn lực kế thừa là nguồn lực có
được do các cá nhân được kế thừa từ dòng họ, đẳng cấp, tôn giáo hay gia đình. Khi
những nguồn lực này được đầu tư nhằm mục đích trao đổi trong thị trường thì nó
trở thành vốn xã hội.
Người ta cũng phân chia vốn ra làm hai loại là vốn con người và vốn xã hội. Trong