Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn (nghiên cứu trường hợp hai tỉnh thanh hóa và bình phước) (tt) - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC

------******------

NGUYỄN TIẾN DŨNG

SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở NÔNG THÔN
(Nghiên cứu trường hợp hai tỉnh Thanh Hóa và Bình Phước)

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2007


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC

------******------

NGUYỄN TIẾN DŨNG

SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở NÔNG THÔN
(Nghiên cứu trường hợp hai tỉnh Thanh Hóa và Bình Phước)

1.3. Một số khái niệm công cụ………………………………………………………......37
1.3.1. Khái niệm sự tham gia của cộng đồng………………………………………………...37
1.3.2. Khái niệm về phân cấp ……………………………………………………………..…...39
1.3.3. Khái niệm về phát triển lấy cộng đồng làm định hướng……………………..……...41
1.3.4. Khái niệm cộng đồng………………………………………………………………..…...42
1.3.5 Khái niệm cơ sở hạ tầng nông thôn……………………………………………..…......43
CHƢƠNG II:
VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH THAM GIA CỦA NGƢỜI DÂN Ở VIỆT NAM


2.1 Lập kế hoạch có sự tham gia .....................................................................................45
2.2 Lập ngân sách/kiểm toán tham gia ............................................................................50
2.3 Giám sát có sự tham gia .............................................................................................57
2.4 Đơn thƣ khiếu nại và tố cáo ……………………………………………….....…......61
2.5 Tiểu kết ……………………………………………………………………...……...62
CHƢƠNG III:
SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN CSHT NÔNG THÔN
3.1 Các nội dung tham gia trong phát triển CSHT ……………………….......................64
3.1.1. Quá trình tiếp nhận thông tin ………………………………………………………..…64
3.1.2 Tham gia trong các cuộc họp lựa chọn công trình……………………………...…….69
3.1.3 Sự tham gia trong Ban điều phối dự án xã……………………………………….…….74
3.1.4 Tham gia đóng góp các nguồn lực ……………………………………...............……..77
3.1.5 Tham giám sát xây dựng và duy tu bảo dưỡng công trình ………………..…………80
3.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự tham gia…………………………………..........…….84
3.2.1 Các yếu tố về nhân khẩu xã hội của cộng đồng…………………………………...….84
3.2.2 Vai trò của trưởng thôn…………………………………………………….................…89
3.2.3 Chính quyền cấp xã………………………………………………………………………..92
3.2.4 Các tổ chức trung gian/xã hội dân sự…………………………………………….…....95
3.2.5 Các yếu tố về cơ chế chính sách…………………………………………………….….99
3.2.5.1 Quá trình phân cấp quản lý đầu tư cho cấp xã…………………………..…………99

thôn thông qua các chƣơng trình, dự án đầu tƣ. Theo đó, các dự án phát triển nông thôn
tổng hợp đang ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu trong công cuộc xoá đói, giảm
nghèo và phát triển nông thôn ở Việt Nam trong những thập kỷ gần đây. Trong các dự án
phát triển nông thôn tổng hợp thì lĩnh vực cơ sở hạ tầng luôn đƣợc coi là một trong
những khía cạnh đƣợc xem xét đầu tƣ vì nó mang tính quyết định lớn đến sự phát triển
chung của nông thôn. Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ đảm bảo cho ngƣời dân ở nông thôn có
thể tiếp cận nhiều hơn với thị trƣờng đồng thời cũng cải thiện đƣợc tình hình sản xuất và
sinh hoạt trong cộng đồng của mình. Trong công tác quản lý dự án thì hiệu quả quản lý
1

Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 của Nhóm tƣ vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam.


đầu tƣ cơ sở hạ tầng cũng sẽ đóng vai trò quyết định đến hiệu quả chung của đầu tƣ và
chất lƣợng của công trình xây dựng.
Trong những năm trƣớc đây, nhiều chƣơng trình của Chính phủ đã sử dụng phƣơng pháp
tiếp cận từ trên xuống thiếu sự tham gia của ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời nghèo và các
nhóm dễ bị tổn thƣơng, nên đã làm hạn chế tính hiệu quả của các sáng kiến giảm nghèo
và kết quả là thiếu sự cam kết, sự đóng góp và tinh thần làm chủ của ngƣời dân đối với
những công trình cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động giảm nghèo. Kinh nghiệm của
nhiều dự án trong vòng 5 năm qua cho thấy một nhu cầu bức thiết phải xây dựng những
cơ chế phù hợp để các nhóm mục tiêu dự án tham gia nhiều hơn vào quy trình ra quyết
định, từ việc lập kế hoạch đến giám sát, đánh giá, vận hành bảo dƣỡng công trình đầu tƣ.
Có nhƣ vậy, hiệu quả của công trình đầu tƣ mới đƣợc đảm bảo và có tính bền vững.
Hiện nay Chính phủ Việt Nam đang thực hiện nhiều chƣơng trình cải cách theo hƣớng
đảm bảo việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ với chất lƣợng tốt hơn cho ngƣời dân. Nhìn
chung, Việt Nam đang thí điểm áp dụng một hệ thống lập kế hoạch, lập ngân sách và
thực hiện các chƣơng trình, dự án phát triển đƣợc phân cấp nhiều hơn cho các cấp địa
phƣơng. Cụ thể là theo tinh thần của Nghị định số 29 (Ban hành năm 1998) của Chính
phủ về “phát huy dân chủ cấp cơ sở” thì các cấp chính quyền đã có cam kết rõ ràng hơn

cho con ngƣời, thúc đầy phát triển con ngƣời, đảm bảo các nhu cầu cơ bản trong cuộc
sống của họ, (ii) cải thiện điều kiện sống, cơ sở hạ tầng thiết yếu của nhóm ngƣời nghèo,
đặc biệt là nhóm xã hội nhạy cảm dễ bị tổn thƣơng, (iii) huy động sự tham gia rộng rãi
và có hiệu quả của cộng đồng và mọi ngƣời dân vào quá trình phát triển, và (iv) tăng
cƣờng về mặt thể chế các quá trình địa phƣơng của xã hội dân sự.
Đây cũng chính là những nhiệm vụ xuyên suốt mà Đảng và Nhà nƣớc giao phó và yêu
cầu đối với khoa học xã hội nói chung và Xã hội học nói riêng.
Từ những vấn đề đã nêu, có thể khẳng định rằng, sự tham gia của cộng đồng là một
trong những chủ đề đang đƣợc quan tâm cả về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình
phát triển hiện nay.
Trên tinh thần "Phát triển nông thôn là công việc của chính người dân nông th ôn, với sự
giúp đỡ tích cực của Chính phủ”, sự tham gia của cộng đồng đã và đang là nhân tố quan
trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của công cuộc phát triển nông thôn và
đất nƣớc. Với ý nghĩa đó, đề tài nghiên cứu "Sự tham gia của Cộng đồng dân cư trong
việc Phát triển cơ sở hạ tầng Nông thôn" hy vọng sẽ góp phần vào việc nhận thức thực
trạng sự tham gia cũng nhƣ một số nhân tố ảnh hƣởng đến sự tham gia của cộng đồng
trong phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay.
2. Ý nghĩa khoa học và thực ti ễn
2.1 Ý nghĩa khoa học


Đề tài nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các lý thuyết, các khái niệm xã hội học vào việc
tìm hiều và mô tả sự tham gia của cộng đồng dân cƣ qua đó đƣa ra đƣợc một thực trạng
về sự tham gia của ngƣời dân trong các lĩnh vực thuộc về cơ sở hạ tầng nông thôn.Qua
đó tiến hành giải thích thực tế về sự tham gia dƣới giác độ xã hội học và tìm hiểu các yếu
tố ảnh hƣởng đến sự tham gia của cộng đồng.
Thông qua quá trình nghiên cứu, các khái niệm liên quan đến cộng đồng và sự tham gia
sẽ đƣợc làm sáng tỏ hơn, đồng thời phát hiện ra một số quy luật mang tính xã hội của
quá trình tham gia của ngƣời dân.
Trên cơ sở vận dụng tri thức xã hội học vào nghiên cứu, các khái niệm và các lý thuyết

Cuối cùng, trên cơ sở toàn bộ kết quả nghiên cứu, đề tài cũng mong muốn sẽ đóng góp
đƣợc một phần đối với chính quyền địa phƣơng trong việc quản lý đời sống kinh tế xã
hội ở nông thôn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm chỉ ra thực trạng về sự tham gia của ngƣời dân trong việc phát
triển cở sở hạ tầng ở nông thôn.
Qua đó phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến sự tham gia, dự báo xu hƣớng của việc ngƣời
dân tham gia trong tƣơng lai.
Nghiên cứu sẽ đƣa ra một số kết luận và khuyến nghị cho việc huy động sự tham gia của
cộng đồng vào phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn.
Dựa vào mục đích đã nêu, nghiên cứu sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu


Làm rõ những khái niệm, những cơ sở lý luận và thực tiễn, phƣơng pháp luận
nghiên cứu vấn đề sự tham gia của cộng đồng.



Khái quát một số nghiên cứu về sự tham gia của ngƣời dân và quá trình phân
cấp trên thế giới và Việt Nam.



Phân tích thực trạng về sự tham gia của ngƣời dân trong phát triển cơ sở hạ tầng
thông qua việc làm rõ nội dung, hình thức và hiệu quả của sự tham gia. Phân
tích các nguyên nhân thành công và thất bại trong quá trình huy động sự tham
gia của ngƣời dân.


Đƣờng giao thông nông thôn (bao gồm cả cầu và đập tràn);
Trƣờng học;
Trạm y tế;
Nhà sinh hoạt cộng đồng/ nhà văn hóa;
Chợ nông thôn;
Công trình thủy lợi nhỏ; và
Công trình nƣớc sạch.
Nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích sự tham gia của ngƣời dân ở việc tiếp nhận thông tin,
họp lựa chọn công trình, tham gia vào Ban điều phối dự án xã, tham gia vào tổ giám sát
và vận hành bảo dƣỡng công trình và tham gia đóng góp các nguồn lực cho việc xây
dựng các công trình. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ tiến hành phân tích một số yếu tố ảnh


hƣởng đến quá trình tham gia nhƣ đặc điểm nhân khẩu xã hội, vai trò của chính quyền cơ
sở, của các tổ chức trung gian và một số yếu tố về thể chế chính sách. Sự tham gia của
cộng đồng trong nghiên cứu này đƣợc xem xét nhƣ một quá trình, từ giai đoạn lựa chọn
công trình cho đến khi công trình hoàn thiện và bàn giao cho cộng đồng quản lý và sử
dụng. Thông qua quá trình đó, sự tham gia của cộng đồng sẽ đƣợc biểu hiện ra ở nhiều
khía cạnh mang tính xã hội nhƣ: hình thức tham gia, mức độ tham gia, hiệu quả tham gia
và các tác động về mặt xã hội của sự tham gia đó đối với việc cải thiện đời sống của họ.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghhiên cứu
5.1 Phương pháp luận
5.1.1 Phương pháp luận Mác – Lênin
Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật Lịch sử cho rằng, thực tế xã hội có
thể nhận thức đƣợc; và quá trình nhận thức này phải đi từ đơn giản đến phức tạp, từ trực
quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng, từ khía cạnh bên ngoài, không bản chất của các
hiện tƣợng xã hội đến khía cạnh sâu hơn của chúng. Điều đó cũng có nghĩa rằng nhận
thức xã hội cần phải bắt đầu từ những nghiên cứu thực nghiệm, song không dừng lại ở
đó. Nói cách khác, không chỉ nên dừng lại ở việc mô tả, quan sát, phân loại các sự kiện
mà phải tiếp tục đi xa hơn, sâu hơn vào bản chất của sự kiện xã hội để chỉ ra đƣợc tính

5.1.2.1 Lý thuyết phát triển cộng đồng
Phát triển cộng đồng nhƣ một khái niệm lý thuyết và thực hành xuất hiện vào những năm
1940 tại các nƣớc thuộc địa của Anh. Năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm
phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này nhƣ một công
cụ để thực hiện các chƣơng trình phát triển quốc gia với nhiều chƣơng trình việc trợ quy
mô lớn về kỹ thuật, phƣơng pháp và tài chính vào thập kỷ 50 – 60 của thế kỷ trƣớc.
Lý thuyết phát triển cộng đồng dựa trên nguyên lý cho rằng mục tiêu cuối cùng của
PTCĐ là tạo ra sự chuyển biến xã hội trong đó tăng cƣờng năng lực tổ chức, khả năng
đoàn kết xã hội, hƣớng tới khả năng nâng cao tính cộng đồng.
Trọng tâm của PTCĐ là con ngƣời (thành viên của cộng đồng) và phát triển con ngƣời vì
con ngƣời. Điều này có nghĩa thƣớc đo của phát triển đƣợc hiểu theo nghĩa rộng của khái
niệm này, tăng trƣởng kinh tế chỉ là một trong những khía cạnh của phát triển. Những
tiến bộ về vật chất không kèm theo sự phát triển của khả năng con ngƣời và định chế xã
hội chỉ là những thành công có tính thời hạn và không bền vững. Do vậy, mục tiêu bao
trùm của PTCĐ là góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức và hành động có tính
chất hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản cộng đồng. Mục tiêu tổng
quát trên đƣợc thể hiện dƣới 4 khía cạnh sau:
-

Hƣớng tới cải thiện chất lƣợng cuộc sống của cộng đồng, với sự cân bằng về vật
chất và tinh thần, qua đó, tạo những chuyển biến xã hội trong cộng đồng.


-

Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng, kể cả các
nhóm thiệt thòi nhất đều có quyền nêu lên nguyện vọng của mình và đƣợc tham
gia vào các hoạt động phát triển, qua đó, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội.

-

vào một khía cạnh thì không thể nào phá vỡ đƣợc cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, dốt
nát và bệnh tật. Nguồn lực thì có hạn nhƣng tính đồng bộ của sự phát triển luôn đòi hỏi
các chƣơng trình phải có tính toán các điểm đột phá khẩn, từ đấy tìm ra chìa khóa của sự
phát triển. Ngoài ra, cần phải đẩy mạnh sự tham dự của quần chúng và coi đó là đƣờng
lối phát triển cộng đồng. Yếu tố tổ chức là hết sức quan trọng. Các tổ chức thuộc chính


quyền địa phƣơng phải đƣợc điều chỉnh để thực hiện chƣc năng phát triển, cũng nhƣ phải
hỗ trợ để xây dựng và củng cố các tổ chức của ngƣời dân tại cộng đồng. Sự tham gia của
chính quyền phải đƣợc coi nhƣ một nhân tố bên trong, nó không phải là một lực lƣợng
đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng, mà là một thành phần quan trọng của cộng
đồng [27; 49].
Yêu cầu đối với phát triển cộng đồng là phải tạo đƣợc những chuyển biến xã hội. Đó là
sự thay đổi nhận thức, hành vi của ngƣời dân nhằm mục đích phát triển. Đó là việc tạo
đƣợc chuyển biến trong cơ cấu tổ chức và các mối tƣơng quan lực lƣợng trong chính
cộng đồng đó. Ngoài ra, phát triển cộng đồng cũng yêu cầu một sự phát triển năng lực
trên cơ sở không “làm thay”, “làm cho” ngƣời dân. Ngƣời dân không thể hành động nếu
thiếu năng lực. Họ cũng không thể hành động đơn phƣơng, riêng lẻ mà phải kết hợp với
các cá nhân, tổ chức cùng một chí hƣớng và quyền lợi để tạo thành quyền lực chung.
Muốn cho ngƣời dân tự làm thì tổ chức thông qua đào tạo, huấn luyện là then chốt.
Ngoài ra hoạt động đánh giá cũng là một bƣớc quan trọng để “đo lường” hiệu quả xã hội
của các dự án phát triển cộng đồng và mở ra những vấn đề mới cho cộng đồng. Từ đó
tăng cƣờng tính hiệu quả của các dự án [27; 49].
Phát triển cộng đồng phải tuân thủ theo những quy tắc hành động nhất định trên cơ sở
niềm tin rằng mọi ngƣời dân và các cộng đồng hoàn toàn có khả năng giải quyết các vấn
đề của họ trong cuộc sống. Năng lực tự quản là một năng lực tự có và tiềm ẩn trong các
cộng đồng, vấn đề của phát triển cộng đồng là cần đánh thức hoặc củng cố năng lực đó.
Phát triển cộng đồng chỉ có thể thành công trên cơ sở xuất phát từ ý chí và nội lực từ bên
trong. “Làm thay, “nghĩ hộ” là những tƣ duy và hành động xa lạ với phát triển cộng
đồng. Mọi chƣơng trình hành động phải do cộng đồng tự quyết nhằm bảo đảm tính tự

Hình 1. Ranh giới mờ nhạt của vũ đài xã hội dân sự


[Nguồn: Irene Norlund, Khỏa lấp sự cách biệt: Xã hội dân dự mới nổi tại Việt Nam, Hà
Nội – 2007].
Nhƣ đã đƣợc trình bày bằng hình vẽ nêu trên, điểm quan trọng về định nghĩa này là rộng
và mở, và nó nhấn mạnh vào các ranh giới mờ nhạt giữa các khu vực khác nhau, đây là
một vấn đề vô cùng quan trọng ở một đất nƣớc nhƣ Việt Nam, nơi mà xã hội dân sự có
mối quan hệ qua lại mật thiết với nhà nƣớc và không tách khỏi nhà nƣớc, nhƣ một số
định nghĩa khác đƣa ra. Định nghĩa này cũng nhằm mục đích đề cập đến trong định
nghĩa của mình các chức năng hơn là các hình thái của các tổ chức đó, hay có thể nói là
định nghĩa này bao hàm mọi nỗ lực nhằm hỗ trợ các hoạt động và các giá trị để cải thiện
phúc lợi của ngƣời dân thông qua các hoạt động từ thiện, nhân đạo và các phƣơng thức
khác.
Luận điểm này coi các tổ chức và các hiệp hội nhƣ là cốt lõi của xã hội dân sự, do các
nhóm không chính thức và các liên minh không đƣợc tính đến. Việc này mở rộng định
nghĩa về xã hội dân sự vƣợt ra khỏi giới hạn chỉ là lĩnh vực hiệp hội đoàn thể để tăng
cƣờng các hoạt động nhằm thúc đẩy các quyền lợi chung. Định nghĩa này hàm chứa đầy
đủ và đủ linh hoạt để điều chỉnh đối với các quốc gia riêng biệt, bởi vì tiêu chí riêng cho
việc định nghĩa xã hội dân sự phụ thuộc vào quan điểm quốc gia.
Từ giữa thập niên 90, một số ít học giả Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu các tổ chức
nhân dân. Vào đầu những năm 2000, một nghiên cứu về các tổ chức công dân đã đƣợc
khởi xƣớng. Các học giả nƣớc ngoài cũng đã bắt đầu viết về đề tài này từ giữa thập niên
90, nhƣng hầu hết các học giả này không xem các tổ chức quần chúng là một bộ phận
của XHDS, đúng hơn, các tổ chức này đƣợc xem là một phần của hệ thống Đảng.
Hiện trạng của các NGO Việt Nam mới nổi cũng gây tranh cãi, do các tổ chức này
không có cơ sở hội viên và lãnh đạo của các tổ chức này đa phần xuất phát từ các cơ
quan Nhà nƣớc hoặc cơ quan Đảng. Hầu hết các tổ chức này không đƣợc xếp loại tổ
chức độc lập. Theo tiêu chí nổi bật nhất (tân-tự do), cơ bản ở Việt Nam là không có
XHDS, cho dù một vài tổ chức có tiềm năng phát triển thành một XHDS2.

Xã hội dân sự đƣợc định nghĩa trong tài liệu này là vũ đài bên ngoài gia đình, nhà nƣớc
và thị trƣờng và là nơi mà ngƣời dân tụ hợp lại với nhau để thúc đẩy những quyền lợi
chung. Định nghĩa này chỉ đúng với Việt Nam với một thực tế là ranh giới giữa nhà nƣớc
và xã hội dân sự là rất không rõ ràng. Ngƣời ta lập luận rằng nếu xét trong bối cảnh toàn
diện của xã hội dân sự, tất cả các tổ chức phải đƣợc coi là một bộ phận của xã hội dân
sự, các tổ chức này bao gồm cả các tổ chức quần chúng, mô hình tổ chức phổ biến nhất,
ở tất cả các cấp và tại hầu hết các địa phƣơng (đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ và Hội
Nông dân). Các tổ chức này triển khai các chiến dịch do nhà nƣớc khởi xƣớng, nhƣng họ
cũng thực hiện hàng ngàn dự án và chƣơng trình tín dụng cho ngƣời nghèo, và các chi
nhánh cơ sở của các tổ chức quần chúng này có mức độ độc lập đáng kể để đáp ứng
đƣợc các nhu cầu của cộng đồng. Thứ hai, có các hiệp hội nghề nghiệp tập hợp những
ngƣời có cùng lợi ích nghề nghiệp trong nhiều lĩnh vực tại hầu hết các tỉnh thành. Thứ
ba, các NGO Việt Nam, đa số là có trụ sở tại các thành phố nhƣng lại thực hiện các dự
án tập trung hơn vào một vài lĩnh vực trên toàn quốc và thƣờng trú trọng vào các dự án


về phát triển, giới, y tế và phát triển cộng đồng. Cuối cùng, các CBO đang phát triển
nhanh chóng, trú trọng vào các dịch vụ dân sinh ở cấp cơ sở tại nhiều tỉnh thành. Sự
vững mạnh của xã hội dân sự đƣợc thể hiện qua việc gia tăng về số lƣợng và tính đa
dạng của các tổ chức xã hội dân sự ở các cấp, sự tham gia tích cực vào các Đánh giá
Nhiều bên của hàng ngàn dự án trên cả nƣớc và các cuộc thảo luận công khai trên báo
chí.
Đối với các tổ chức chính thống hơn thì vai trò của nhà nƣớc là tối quan trọng, vì chính
nhà nƣớc thiết lập khuôn khổ chính thức cho các tổ chức này. Nếu nhƣ các tổ chức quần
chúng có quy mô lớn nhất từ trƣớc đến nay, thì hiện nay số lƣợng các tổ chức dân sự
thậm chí còn lớn hơn và rộng hơn về hoạt động, và đã vƣợt ra ngoài tầm kiểm soát của
nhà nƣớc. Tuy nhiên, hiện có thể chƣa thích hợp khi gọi các tổ chức này là tự quản, vì
vẫn có sự liên kết và sự chồng chéo về đặc tính hoạt động với các tổ chức đƣợc nhà nƣớc
bảo trợ. Nhà nƣớc không cấm các tổ chức, điều này đƣợc minh chứng bằng số lƣợng lớn
các hội viên. Mặt khác, nhà nƣớc tham gia vào việc lãnh đạo của Đảng nhiều hơn là

tham gia tích cực hơn để xác định nhu cầu và hỗ trợ cho những nơi có nhu cầu lớn nhất.
Bằng việc tạo cho xã hội dân sự một tiếng nói rõ ràng hơn trong mọi khía cạnh của cuộc
sống, không chỉ trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ mà còn trong việc nâng cao năng lực và
các hoạt động ủng hộ ở các cấp, một quốc gia sẽ đạt đƣợc sự phát triển kinh tế và xã hội
đồng đều hơn. Ngoài ra, xã hội dân sự có một vai trò tiềm tàng rất quan trọng trong việc
tăng cƣờng tính minh bạch và chống tham nhũng.
Sức mạnh của xã hội dân sự là tính chất đa dạng dựa trên hoạt động và tính sáng tạo của
con ngƣời. Việt Nam vẫn là một nƣớc nghèo và phải đối mặt với nhiều rào cản để vƣợt
qua đói nghèo và sự bất bình đẳng đang gia tăng. Việt Nam cũng phải phát huy hết tiềm
năng kinh tế xã hội và giải phóng tiềm năng con ngƣời để giúp đỡ những ngƣời bất hạnh.
Trong khi đó, nhà nƣớc có thể hỗ trợ và khuyến khích xã hội dân sự thông qua nhiều
hình thức hợp tác khác nhau. Nhà nƣớc là ngƣời có trách nhiệm sau cùng đối với ngƣời
dân bằng cách đảm bảo giải quyết các thách thức mới theo cách mà có thể giúp tăng
cƣờng phúc lợi cho nhân dân, nhƣng nhà nƣớc có thể phối hợp với xã hội dân sự, và xã
hội dân sự cũng có thể đóng góp bằng cách tăng cƣờng trách nhiệm giải trình của nhà
nƣớc.
5.1.2.3 Luận điểm về phát triển nông thôn bền vững
Một định nghĩa đƣợc nêu ra ở đây là: Phát triển Nông thôn là…một quá trình thay đổi
bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng
đời sống của người dân địa phương.
Phát triển nông thôn bền vững nhấn mạnh vào quá trình có chủ ý và bền vững. Phát triển
nông thôn không phải là một công việc làm trong một thời gian ngắn. Nó cần phải đƣợc
theo đuổi trong một thời gian dài nhiều năm và có chủ ý. Nó cũng nhấn mạnh vào nâng
cao đời sống của ngƣời dân địa phƣơng. Một số phát triển “địa phƣơng” (hoặc “khu
vực”) trƣớc đây đƣợc khuyến khích do nhu cầu quốc gia (nhƣ điện, nƣớc hoặc quốc


phòng), hơn là nhu cầu của bản thân ngƣời dân địa phƣơng. Nhu cầu quốc gia tất nhiên
có thể đƣợc đáp ứng thông qua phát triển nông thôn, và bất cứ sự đáp ứng thành công
nào nhu cầu địa phƣơng sẽ đóng góp gián tiếp cho sự phồn thịnh của quốc gia. Nhƣng


Phát triển nông thôn bền vững. Chính phủ Việt Nam đã cam kết theo đuổi những nguyên
tắc của phát triển bền vững, đã đƣợc thông qua tại "Hội nghị thƣợng đỉnh về Trái đất" tổ
chức tại Rio de Janeiro năm 1992. Những nguyên tắc này nhấn mạnh vào một cách nhìn
lâu dài về xã hội con ngƣời và việc con ngƣời sử dụng tài nguyện thiên nhiên của Thế
giới. Trong bối cảnh đấy, phát triển bền vững đƣợc định nghĩa nhƣ sau: "Phát triển
nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm hại đến khả năng đáp ứng
nhu cầu của các thế hệ tương lai" (Báo cáo Brundtland 1987) .
Một định nghĩa khác về phát triển bền vững cũng đƣợc sử dụng thƣờng xuyên là "Phát
triển tạo ra dòng chảy liên tục các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trƣờng"
Các định nghĩa trên có thể là một điểm xuất phát có ích để suy nghĩ về sự bền vững có ý
nghĩa gì trong phát triển nông thôn. Nhƣng chúng ta không đƣa ra cơ sở để đánh giá một
chƣơng trình hoặc một dự án cụ thể có thực sự bền vững hay không. Chúng ta cần một
định nghĩa có thể hỗ trợ cho việc đánh giá đó, và phản ánh tầm quan trọng của cách tiếp
cận toàn diện và phát triển dựa vào cộng đồng.
Quan điểm3 của Chính phủ Việt Nam cũng cho rằng, “Phát triển nông thôn là một công
tác phức tạp. Nó đòi hỏi sự đóng góp của toàn dân, của tất cả các tổ chức cũng như sự
hỗ trợ của Nhà nước. Đó là sự cộng tác giữa Chính phủ và nhân dân.Phát triển nông
thôn là công việc chính của người dân nông thôn với sự giúp đỡ tích cực của Chính
phủ”.
Cụm từ thứ ba nêu trên là vô cùng quan trọng. Nó đặt sự chủ động trong phát triển nông
thôn với “nhân dân, với sự giúp đỡ của Chính phủ”. Tuy vậy, Chính phủ đóng vai trò
quan trọng với tƣ cách là ngƣời hỗ trợ cơ bản cho quá trình lớn và rộng khắp mang tính
quốc gia này. Chƣơng trình Phát triển Nông thôn nêu rằng vai trò của Chính phủ trong
phát triển nông thôn là tổ chức, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động”, đồng thời công nhận
vai trò chủ chốt của bản thân ngƣời dân nông thôn.Sự cần thiết giao trách nhiệm, ở nơi
thích hợp, cho các chính quyền tỉnh và cơ sở. Vai trò của các tổ chức quần chúng, các
nhóm tự giúp đỡ nhau và các hợp tác xã kiểu mới; và hoạt động đang phát triển của khu
vực tƣ nhân. Vai trò của Chính phủ trong phát triển nông thôn là vai trò lãnh đạo, nhƣng
không phải chỉ là vai trò diễn xuất. Chính phủ tổ chức, chỉ đạo và phối hợp hành động

muốn nói tới tất cả những ngƣời sống ở vùng nông thôn nào đó, bao gồm đại bộ dân và
tất cả các dân tộc thiểu số, ngƣời già và thanh niên, đàn ông và phụ nữ, ngƣời giàu và
ngƣời nghèo v.v…
5.1.2.4 Lý thuyết về vai trò xã hội
Vai trò xã hội của các nhân đƣợc xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tƣơng ứng. Nó
chính là mặt động của vị thế xã hội, vì nó luôn luôn biến đổi trong các xã hội khác nhau,
thậm chí trong các nhóm xã hội khác nhau.
Để thực hiện những quyền và nghĩa vụ của từng vị thế xã hội, mỗi cá nhân cần phải thực
hiện những hành động nhất định; và tƣơng ứng với mỗi vị thế sẽ có một loạt các mô hình
hành vi đƣợc xã hội mong đợi. Chính mô hình hành vi đƣợc xã hội mong đợi là vai trò
tƣơng ứng của vị thế đó.


Trong xã hội nông thôn hiện nay, ngƣời dân nông thôn luôn đóng một vai trò nhất định
đối với cộng đồng mà họ sinh sống. Khi nào những ngƣời dân này đáp ứng đƣợc các
mong muốn mà xã hội kỳ vọng ở họ thì lúc đó họ đã góp phần vào đảm bảo sự ổn định
và phát triển của hệ thống xã hội đó. Ngƣợc lại, khi nào những ngƣời dân này không đáp
ứng đƣợc những mong đợi từ phía xã hội thì tất nhiên sẽ dẫn đến xung đột về vai trò.
Với vai trò là những cá nhân tạo thành cộng đồng xã hội đặc thù, từ trong lịch sử của
mình, những ngƣời dân nông thôn đã có vai trò nhất định trong bảo vệ và phát triển đất
nƣớc. Ngày nay, vai trò của ngƣời dân nông thôn trở thành trung tâm của các mục tiêu
phát triển nông thôn. Trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn, ngƣời dân vừa là ngƣời
tham gia, vừa là ngƣời giám sát chính quá trình thực hiện các mục tiêu đó. Do vậy, song
song với những vai trò đã đƣợc xác lập một cách lâu bền từ trong quá khứ, ngƣời dân
nông thôn ngày nay còn đƣợc xã hội kỳ vọng thêm những vai trò mới và cụ thể. Và mức
độ cụ thể về vai trò này đến đâu thì trong từng giai đoạn phát triển nhất định xã hội hiện
đại sẽ xác lập.
Tuy nhiên, khi cá nhân tham gia vào nhiều quan hệ xã hội thì họ sẽ mang nhiều vị thế, và
do đó họ sẽ có nhiều vai trò xã hội khác nhau. Và mỗi vai trò sẽ có những đòi hỏi riêng
để thực hiện chúng. Nên lúc này có thể có nhiều đòi hỏi khác nhau ở nhiều vai trò khác

hƣớng cụ thể để phát triển con ngƣời. Tuy nhiên, phát triển con ngƣời không đồng nghĩa
với phát triển nguồn nhân lực. Phát triển con ngƣời làm gia tăng các giá trị nói chung của
con ngƣời, còn phát triển nguồn nhân lực làm gia tăng giá trị sử dụng con ngƣời. Phát
triển nguồn nhân lực chủ yếu phát triển mặt công cụ của con ngƣời, nhƣ là một nguồn
lực tài nguyên, một nguồn vốn và một động lực trong quá trình phát triển.
Lý thuyết vốn xã hội tập trung vào nguồn lực trong xã hội cũng nhƣ cách thức tiếp cận
và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ nhu cầu lợi ích cho hành động của cá nhân. Cụ thể,
Lý thuyết vốn xã hội tập trung vào các nguồn lực đƣợc tạo ra bởi các mạng lƣới xã hội.
Nguồn lực ở đây đƣợc xem xét nhƣ là những hàng hóa có giá trị trong xã hội và sự sở
hữu nó có thể giúp cá nhân duy trì, cải thiện sự tồn tại và phát triển của chính họ. Đối
với hầu hết các xã hội, nguồn lực đƣợc đề cập đến là của cải, uy tín và quyền lực. Lý
thuyết vốn xã hội tập trung vào những hành động của con ngƣời để đạt đƣợc và duy trì
các nguồn lực này [14].
Khi nói về nguồn lực, ngƣời ta thƣờng đề cập đến ba loại nguồn lực chính là: nguồn lực
gán cho, nguồn lực giành được và nguồn lực kế thừa. Nguồn lực gán cho là nguồn lực
đƣợc gắn liền với cá nhân đó từ khi sinh ra, nhƣ giới và chủng tộc chẳng hạn. Nguồn lực
giành đƣợc là những nguồn lực có đƣợc do sự nỗ lực phấn dấu của cá nhân, nhƣ học vấn,
nghề nghiệp, tài sản…Còn nguồn lực kế thừa là nguồn lực có đƣợc do các cá nhân đƣợc
kế thừa từ dòng họ, đẳng cấp, tôn giáo hay gia đình. Khi những nguồn lực này đƣợc đầu
tƣ nhằm mục đích trao đổi trong thị trƣờng thì nó trở thành vốn xã hội.


Ngƣời ta cũng phân chia vốn ra làm hai loại là vốn con người và vốn xã hội. Trong đó
vốn con ngƣời bao gồm những nguồn lực mà cá nhân chiếm hữu và họ có thể sử dụng
hay loại bỏ nó một cách tự do mà không quan tâm nhiều đến sự thu hồi. Vốn xã hội bao
gồm các nguồn lực đƣợc sở hữu bởi một mạng lƣới hoặc hiệp hội. Vốn xã hội không
phải là nguồn lực đƣợc sở hữu bởi các cá nhân, nhƣng nguồn lực đó có thể đạt đƣợc
thông qua sự ràng buộc trực tiếp hoặc gián tiếp với cá nhân. Do đó, tiếp cận đến và sử
dụng các nguồn lực này chỉ là nhất thời và có thể vay mƣợn trong phạm vi các nhân
không sở hữu chúng [44; 55 - 56].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status