Một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào phát triển nông thôn của Việt Nam hiện nay - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng và Chính phủ ta luôn theo phương
châm lấy dân làm gốc, mọi vấn đề đều do “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra”. Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng nhằm phát huy sức mạnh của cộng
đồng dân cư, nơi mà người dân có tính gắn kết cao. Ngày nay phát triển nông thôn
chú trọng nhiều hơn đến việc thực hiện dân chủ cơ sở ở địa phương, diễn ra ở tất cả
mọi địa bàn cấp thôn và xã.
Một trong những lĩnh vực cần có sự nghiên cứu nhiều hơn nữa đó là việc tìm
ra các mô hình phát triển nông thôn phù hợp với bối cảnh của nông thôn cấp cơ sở.
Bên cạnh đó, các kinh nghiệm đã có cũng chỉ ra rằng các cộng đồng nông thôn chỉ
có thể phát triển có hiệu quả và bền vững nếu như mô hình phát triển nông thôn
được xây dựng trên cơ sở huy động được nguồn nội lực của bản thân cộng đồng
nông thôn cũng như nhắm đến việc lấy phát triển con người làm trọng tâm.
Qua thời gian tìm tòi thực tế trong thời gian em đi thực tập em xin chọn đề
tài: “ Một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào phát triển
nông thôn của Việt Nam hiện nay ”. Nội dung chuyên đề gồn 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận chung về sự tham gia của cộng đồng và pháp triển nông
thôn
Chương II :Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng vào phát triển nông
thôn của Việt Nam qua thử nghiệm mô hình phát triển nông thôn dựa vào cộng
đồng
Chương III : Một số giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào phát triển
nông của Việt Nam hiện nay
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng Bộ môn
Kinh tế phát triển - đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về phát triển (nông thôn) theo định
hướng cộng đồng, và có một số cách dùng từ khác nhau như phát triển theo định
hướng cộng đồng, phát triển dựa vào cộng đồng, phát triển do cộng đồng làm chủ,
và phát triển lấy người dân làm trung tâm. Phát triển theo các tên gọi khác nhau này
đều có chung bản chất là phát triển theo định hướng cộng đồng.
Phát triển theo định hướng cộng đồng cho rằng các cộng đồng địa phương
khi có được quyền ra các quyết định và quản lý các nguồn lực trong tay sẽ thực hiện
việc phát triển tốt hơn.
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới, phát triển do cộng đồng làm chủ
phụ thuộc vào việc xây dựng mối quan hệ đối tác giữa các tổ chức cộng đồng, các
tổ chức phi chính phủ với các đơn vị cung cấp các dịch vụ tư nhân hay công cộng
(như dịch vụ khuyến nông). Trong điều kiện của Việt Nam, có thể hiều trong điều
kiện khi chính quyền xã, các thôn và các tổ chức cộng đồng đang giữ vai trò chủ
đạo trong việc lựa chọn, lập kế hoạch và quản lý các chương trình, các hoạt động
phát triển địa phương. Điều đó còn bao gồm cả việc chuyển quyền chủ đầu tư và sử
dụng tài chính cho cấp địa phương.
Trong định nghĩa khác thì nhấn mạnh đến việc ra quyết định và thúc đẩy sự
tham gia của người dân như những vấn đề quan trọng nhất. Khi đó phát triển nông
thôn dựa vào cộng đồng là việc tập trung phát triển nguồn nhân lực, phát triển con
người để họ có đủ năng lực đứng ra chủ động tổ chức việc phát triển của bản thân.
Việc nâng cao năng lực được thực hiện qua một quá trình liên tục. Vai trò của các
bên liên quan khác nhau có sự thay đổi. Các tổ chức chính quyền, tổ chức cấp trên
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
từ vị trí lãnh đạo chuyển sang làm người hỗ trợ. Người dân, cộng đồng địa phương
từ vị trí cấp dưới, thực hiện theo định hướng, mệnh lệnh từ trên đưa xuống chuyển
sang người làm chủ, trực tiếp lãnh đạo tổ chức thực hiện các hoạt động. Vấn đề
quan trọng nhất trong phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng liên quan đến sự
tham gia của người dân, cộng đồng địa phương vào các hoạt động tại địa phương.

triển. Tuy vậy khái niệm về sự tham gia của người dân còn tương đối rộng khi ông
cho rằng chỉ cần có sự liên quan cũng được coi như sự tham gia.
- Robert Chambers có rất nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực phát triển ở châu á
và châu phi. Năm 1983, ông đã xuất bản cuốn sách được nhiều người biết tới với cái
tên “Phát triển nông thôn – hãy bắt đầu từ những người cùng khổ” nhằm vào việc
thay đổi nhận thức về những người nghèo ở nông thôn.
Năm 1994, ông đã viết một loạt các bài báo giới thiệu về Đánh giá nông thôn
với sự tham gia của người dân (PRA), trong đó cán bộ của các tổ chức bên ngoài
chỉ hoạt động như những người trợ giúp, trong khi người dân và cộng đồng địa
phương mới là những người thực hiện và quản lý quá trình phát triển của chính họ,
thông qua một loạt các công cụ được liên tục cải biến và hoàn thiện.
Trong các tác phẩm của mình, ông cũng luôn nhấn mạnh rằng quan điểm và
cách hành xử của cán bộ hỗ trợ còn quan trọng hơn nhiều so với kỹ năng của họ
trong việc áp dụng phương pháp này. Cùng với thời gian thì PRA đã trở thành một
phương pháp phát triển nông thôn (Chambers, 1997).
Các lĩnh vực tham gia thay đổi tùy theo mục tiêu của người nghiên cứu. Tuy
nhiên, việc ra quyết định luôn được xem là lĩnh vực quyết định nhất cho bất kì mục
tiêu nào và không đựơc bỏ qua. Cohen và Uphoff (1979) đã đưa ra khung phân tích
để giám sát vai trò của tham gia trong các dự án và chuwong trình phát triển. Họ
thấy có 4 lĩnh vực tham gia: (1) ra quyết định, (2) Thực hiện, (3) Hưởng lợi, (4)
Đánh giá.
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong khi đó, Finsterbusch và Wiclin(1987) nhận thấy dự án có 3 pha và 5
hình thức tham gia là (1) Lập kế hoạch (nguyên gốc và thiết kế), (2) Thực hiện
( thực hiện và thiết kế lại), và (3) bảo dưỡng. Khung phân tích Cohen và Uphoff có
mục tiêu tham gia và khung phân Finsterbusch và Wiclin có mục tiêu dự án, nhưng
chúng tương hợp để phù hợp với thực tế.
Trong nghiên cứu sự tham gia của địa phương về các hoạt động phát triển ở

Đề án điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã. Kết quả thanh
tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, cán
bộ thôn bản...
* Các tiêu chí đánh giá:
+ Tỷ lệ dân cư biết đến dự án.
+ Mức độ tham gia của người dân.
(Lượng hóa sự tham gia của người dân)
4.2.2. Tính công bằng
VD: 1 dự án xóa đói giảm nghèo tính công bằng thể hiện ở chỗ: phải xem
xét đối tượng hưởng thụ của dự án có đúng với mục tiêu của dự án không, những
giải pháp để các đối tượng được hưởng sự công bằng.
4.2.3 Tính hiệu quả
Xem xét việc sử dụng các đầu vào của dự án đã được hiệu quả và hợp lý
chưa?; chí phí để được đầu ra mong muốn; so sánh hiệu quả đạt được và chi phí bỏ
ra
VD : 1 dự án xóa đói giảm nghèo đánh giá hiệu quả qua : bao nhiêu % vốn
được giải ngân; bao nhiêu % người dân được vay vốn giảm nghèo; bao nhiêu %
thoát nghèo nhờ vay vốn giảm nghèo.
4.2.4. Tính bền vững
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tăng năng lực của người dân; chính quyền… Các hoạt động phát triển tiếp
tục phát huy tác dụng khi dự án kết thúc
4.3. Xác định mức độ của sự tham gia
Có các phương pháp khác nhau để xác định phạm vi tham gia. Một số giá trị
được gán cho một chỉ số tham gia, sau đó thông qua các phưong trình tương ứng
phạm vi tham gia trong mỗi lĩnh vực và sau đó là tổng thể đã được xác định. Khi
nghiên cứu tham gia của người dân trong quản lý rừng ở Ấn Độ, Lise (2000) nhận
thấy rằng người dân địa phương đã tham gia vào các hoạt động khác nhau. Các hoạt


=
=
=
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong đó PI
d
là chỉ số tham gia cho dự án phát triển; N là số yếu tố để đo
mức độ tham gia cho dự án phát triển; di là điểm thực tế do những người được hởi
trả lời về từng yếu tố; và Di là điểm cực đại của mỗi yếu tố.
Trong tài liệu nghiên cứu về tổ chức quản lý tài nguyên có sự tham gia trong
quản lý rừng cộng đồng ở Ấn Độ, Seker (2001) đã phân tích sự tham gia gồm có 3
dạng quản lý tài nguyên: thiết lập qui tắc; thực hiện qui tắc; và bảo dưỡng tài
nguyên. Ông đã phát hiện có 7 chỉ số tham gia, trong số đó có 5 biến số tham gia
trực tiếp nư thạm gia vào việc trồng cây, mức độ đóng góp tài chính, và vv... Còn 2
chỉ số còn lại là "bản chất " và "mức độ" tham gia vào các hoạt động trồng rừng.
Chỉ số tham gia này đã đựơc đo bằng thang 5 điểm từ 1 = "không" hoặc không có
gì, đến 5 = cao/rất tốt.
Sự tham gia có thể áp dụng cho rất nhiều các hoạt động để tăng hiệu quả của
các hoạt động hoặc dự án.
Sự tham gia cũng đặc trưng cho quản lý tài nguyên thiên nhiên (Lise 2000;
Dupar 2002; Seker 2001;) . Sự tham gia cũng đóng vai trò đáng kể trong xây dựng
cơ sở hạ tầng, như công trình thủy lợi, giao thông, hệ thống điện, và vv...
( UNCDF; Feachem, 1980; Jogresen et al., 2001; lam 2001). Nó cũng có vai trò tích
cực trong các hoạt động văn hóa xã hội như là các dụ án về y tế, giáo dục ...vv.(Rao
et al., 2004)
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia và mô hình phát triển nông thôn
dựa vào cộng đồng

những hệ quả quan trọng đối với sự tham gia của người dân. Các sự kiện như: lịch
sử di dân và định cư; dòng giống gia đình và nhóm, lịch sử của các tổ chức chính trị
xã hội và các xung đột vv... ( Walter và cộng sự, 1999). các hoạt động phát triển
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong cộng đồng được tổ chức thông qua hoạt động tập thể, ngừơi dân địa phương
tụ họp cùng nhau để làm việc.
Ở các cộng đồng nông thôn, ở mức độ nào đó, người dân luôn duy trì một số
các họat động tập thể.; ví dụ: các hoạt động cộng đồng như là xây dựng nhà, lễ hội
vv...
1.3. Tính cộng đồng
Ý thức cộng đồng có thể tự thể hiện bằng việc tự nguyện tham gia vào các
hoạt động tập thể của cộng đồng. Khái niệm ý thức cộng đồng có tính lý thuyết hơn,
dựa vào quyền lợi của những thành viên và các nhà nghiên cứu( Gardner và Stern,
1996; Zanetell, 2000) trong tương quan giữa ý thức cộng đồng và mức độ tham gia
của dân địa phương trong quản lý phát triển. Cộng đồng là khái niệm có 2 khía cạnh
tự nhiên và tinh thần mà các thành viên cộng đồng đã từng trải. Là nơi mà người
dân cùng sống, cùng chia sẻ các dịch vụ, và xem như là ngôi nhà chung của họ,
cộng đồng như là cấp tổ chức con người cơ bản nhất về thời gian và không gian.
Khái niệm các hoạt động phát triển ở nông thôn dựa vào lãnh thổ, hoặc dưới tên gọi
khác là các hoạt động phát triển ở nông thôn dựa vào cộng đồng, dẫn tới việc phân
cấp các hoạt động phát triển ở cấp địa phương.
Cộng đồng cũng thể hiện những kinh nghiệm được chia sẻ kết nối cuộc sống
của người dân trong cùng một không gian. Điều này dẫn tới tình cảm và sự gắn kết
về tinh thần. Ý thức của từng cá thể cộng đồng ảnh hưởng tới việc tự nguyện tham
gia vào các hoạt động để trợ giúp và hoàn thiện cộng đồng (McMillan,1996; St.
Anne, 1999). Ý thức cộng đồng được hình thành qua lịch sử cộng đồng. Nó bao
gồm sự tự nguyện ở lại cộng đồng, thăm hỏi lẫn nhau, có cùng cảm xúc với các
thành viên cộng đồng, tranh thủ hoặc trao đổi tình cảm với nhauvv... (Zanetell và

(hay là phát triển từ trên xuống), phát triển dựa vào cộng đồng (hay là phát triển từ
dưới lên hoặc kết hợp cả từ trên xuống và dưới lên, với các công cụ điển hình như
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
RRA – đánh giá nhanh nông thôn, PRA – đánh giá nông thôn có sự tham gia của
người dân, PLA – học hỏi và hành động có sự tham gia của người dân).
Trong điều kiện nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển nông thôn còn
hạn chế, hướng tới triển vọng một chương trình xây dựng NTM trên phạm vi cả
nước, có thể thấy phát triển dựa vào nội lực và do người dân làm chủ là cách tiếp
cận phù hợp. Theo cách tiếp cận này, xây dựng nông thôn mới cấp cơ sở đảm bảo
đồng thời phát triển con người và tổ chức cộng đồng, và phát triển kinh tế, xây dựng
bộ mặt mới của địa phương. Trong đó phát triển con người và tổ chức cộng đồng
phải được coi là then chốt, là động lực cho phát triển các lĩnh vực khác.
2.2. Vai trò của cấp thôn và cấp xã
Bản chất và quy mô chương trình phát triển nông thôn sẽ quyết định nội
dung và cách tiếp cận được sử dụng. Chương trình nông thôn mới với bản chất do
cộng đồng địa phương tự thực hiện với sự hỗ trợ kích hoạt của Nhà nước vì vậy sẽ
áp dụng cách tiếp cận dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ. Cộng đồng địa
phương ở khu vực nông thôn thông thường vẫn được xác định là cấp làng xã, tuy
vậy do khác biệt về các điều kiện kinh tế, xã hội và tự nhiên giữa các vùng khác
nhau, nên quy mô và tính chất cộng đồng làng xã cũng rất đa dạng.
Nhìn chung khi sử dụng cách tiếp cận dựa vào nội lực và do cộng đồng làm
chủ có thể chọn đơn vị cộng đồng cấp thôn (bản, làng, ấp-sau đây gọi tắt là thôn)
làm đơn vị cộng đồng cơ sở trực tiếp tổ chức thực hiện các hoạt động phát triển.
Cấp xã giữ vai trò tổng hợp các kế hoạch phát triển của các thôn trong xã, điều phối,
hỗ trợ và làm cầu nối khi được các thôn yêu cầu. Cấp xã cũng xây dựng kế hoạch
phát triển xã bao gồm các hoạt động phát triển chung, liên thôn và các hoạt động
phát triển quy mô lớn, mức độ kỹ thuật phức tạp, vượt quá khả năng tổ chức thực
hiện, vận hành,v.v.. của các thôn.

hỗ trợ cho PTNT, hỗ trợ về phương pháp phát triển nông thôn và chuyển giao tiến
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bộ khoa học kỹ thuật, cung cấp thông tin phù hợp, kịp thời, giúp đỡ hỗ trợ cộng
đồng cư dân nông thôn, khơi dậy phát huy nội lực của người dân để huy động có
hiệu quả cho xây dựng nông thôn mới. Họ cũng tăng cường năng lực cho người dân
để họ có đủ sự tự tin và năng lực để tận dụng và sử dụng các cơ hội phát triển,
nguồn hỗ trợ tài chính cho các hoạt động phát triển một cách có hiệu quả.
Như đã được đề cập ở trên, cấp xã giữ vai trò tổng hợp các kế hoạch phát
triển của các thôn trong xã, điều phối, hỗ trợ và làm cầu nối khi được các thôn yêu
cầu. Cấp xã cũng xây dựng kế hoạch phát triển xã bao gồm các hoạt động phát triển
chung, liên thôn và các hoạt động phát triển quy mô lớn, mức độ kỹ thuật phức tạp,
vượt quá khả năng tổ chức thực hiện, vận hành, v.v.. của các thôn.
Cấp xã còn có vai trò quan trọng là cấp đóng vai trò cầu nối và là điểm giao
thoa của các hỗ trợ từ trên xuống và các nhu cầu về phát triển từ các cộng đồng thôn
đưa lên.
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
15
Cấp xã: Đóng vai trò cầu nối
Cấp hỗ trợ bao gồm:
Địa phương: huyện
Các tổ chức chuyên
môn: nông nghiệp,
xây dựng, vv.
Cầu nối đề xuất hỗ
trợ và thực hiện
hỗ trợ
Cấp thực hiện:
Đóng vai trò chính

xướng từ người dân, do người dân đề xuất, bên ngoài chỉ hỗ trợ và giúp đỡ khi cần
thiết thì sự nghiệp phát triển nông thôn mới mang lại hiệu quả thiết thực và bền
vững.
2.4. Vai trò quan trọng của sự tham gia của cộng đồng thôn
Các mức độ hay là sự biến đổi về chất lượng sự tham gia của người dân
Xây dựng mô hình nông thôn mới được thực hiện thông qua tăng cường
năng lực cho người dân và cộng đồng để họ “tham gia” thực sự vào các hoạt động
phát triển thôn. Tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, văn hoá, điều kiện kinh tế, địa lý
của từng vùng miền khác nhau, mức độ tham gia của người dân vào phát triển thôn
ở các cấp độ khác nhau. Các mức độ tham gia của người dân có thể được coi như
một tiến trình liên tục và chia thành 5 cấp độ khác nhau (xem hình 3) thể hiện chất
lượng sự tham gia.
Tham gia thụ động: Người dân thụ động tham gia vào các hoạt động phát
triển thôn, bảo gì làm đấy, không tham dự vào quá trình ra quyết định, xây dựng kế
hoạch.
Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin: thông qua việc trả lời các câu
hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu. Người dân không tham dự vào quá trình phân
tích và sử dụng thông tin.
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
5
4
Tự nguyện
và chủ động
3
Theo định hướng
từ bên ngoài
2
Theo nghĩa vụ

định được xuất phát điểm hiện tại họ có gì, họ sẽ nhận thấy rằng những mong muốn
sẽ chỉ là viễn cảnh và ước mơ nếu họ không thực sự nỗ lực tìm kiếm giải pháp để
đạt được. Các kế hoạch phát triển là từng bước của một lộ trình thay đổi hiện trạng
thực tế với những nguồn lực hiện có để đạt được tương lai mong muốn.
Phát triển nông thôn nói chung cũng như phát triển của từng thôn cụ thể là
một quá trình liên tục, kéo dài, gồm nhiều nội dung và đi kèm là cách thực hiện
khác nhau do đó được thể hiện qua việc xây dựng kế hoạch phát triển thôn. Kế
hoạch phát triển thôn (viết tắt là KHPT) gồm có mục tiêu hay kế hoạch phát triển
dài hạn và kế hoạch phát triển hàng năm. Xây dựng mục tiêu hay kế hoạch phát
triển dài hạn cho phép cộng đồng xác định và thống nhất được hướng đi của mình
trong một khoảng thời gian trung hạn, từ ba đến năm năm so với hiện tại, tùy thuộc
vào trình độ và khả năng của mỗi cộng đồng, cũng như nội dung phát triển. Nếu
như nội dung xây dựng cơ sở hạ tầng có thể xây dựng kế hoạch tương đối dài hạn (5
năm), thì nội dung phát triển kinh tế, do sự biến đổi liên tục của thị trường, thường
chỉ có thể xây dựng kế hoạch trong thời gian ngắn hơn (3 năm).
Việc xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn giúp cho việc tính toán (hình
dung) nhu cầu phát triển trong tương lai của cộng đồng hay của mỗi loại công trình
nên các hoạt động phát triển hay công trình được thực hiện hiện tại nhưng hoàn toàn
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đáp ứng tốt yêu cầu phát triển trong tương lai. Đó cũng là cơ sở để cộng đồng huy
động một cách tập trung những nguồn lực phù hợp cho việc thực hiện phấn đấu đạt
được mục tiêu đề ra. Trên nền tảng KHPT dài hạn, kế hoạch phát triển hàng năm
của thôn bao gồm các hoạt động ưu tiên sẽ được xây dựng, đó là cụ thể hóa KHPT
dài hạn khi được gắn vào với các điều kiện về nguồn lực và tổ chưc tại địa phương.
Có sự khác nhau giữa KHPT dài hạn cũng như hàng năm khi so sánh với các
kế hoạch và quy hoạch do các đơn vi chuyên môn lập. KHPT dài hạn và hàng năm
do thôn lập sẽ đơn giản, có tính định hướng và linh hoạt nhiều hơn, phù hợp với khả
năng và trình độ của địa phương, giúp thôn có thể chủ động được và thực hành

Gắn với khả năng nhân rộng đại trà: chỉ được xem là mô hình tốt khi có khả
năng nhân rộng đại trà.
Cần ghi nhận các kết quả khác nhau do ảnh hưởng từ các cơ chế mới được
đưa vào áp dụng, các kết quả ngược với mong muốn cần phải được xem xét một
cách khách quan trong tổng hợp kết quả thử nghiệm sau này.
Thông qua việc xây dựng mô hình để xem xét các vấn đề liên quan theo từng
chủ đề như vai trò làm chủ của cộng đồng thôn, cơ chế huy động sự tham gia của
cộng đồng, phát triển tổ chức cộng đồng, vai trò và quy trình lập, tổ chưc thực hiện
kế hoạch phát triển cộng đồng thôn, nội dung hoạt động phát triển, quản lý tài
chính, cơ chế và cách thức hỗ trợ của các cấp liên quan – cấp xã, huyện, vv…
2. Khả năng
Nghiên cứu xây dựng chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở là công
việc khó khăn. Để tìm ra cách thức, mô hình có hiệu quả trong phát triển nông thôn
nói chung và phát triển nông thôn cấp cơ sở nói riêng luôn là công việc khó khăn do
vừa là vấn đề kỹ thuật vừa là vấn đề quản lý, xã hội. Việc xây dựng mô hình thử
nghiệm cần có sự tiếp thu và học hỏi từ các kinh nghiệm và bài học đã có trước đây.
Đến thời điểm hiện nay, số lượng các chương trình, các mô hình thử nghiệm trong
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nước và ngoài nước đã tương đối nhiều có thể đưa ra các kinh nghiệm và bài học
phong phú cho việc thiết kế chương trình xây dựng nông thôn cấp cơ sở. Điều cần
thiết của việc thử nghiệm mới là tiếp tục củng cố các vấn đề đã được khẳng định
tương đối rõ, tìm tòi thử nghiệm các vấn đề mới cho thấy có khả năng thành công.
Bên cạnh đó, để tiết kiệm thời gian và nguồn lực, cũng cần lưu ý tránh lặp lại các
vấn đề, các nội dung và cách làm trước đây đã được khẳng định là không thành
công.
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chưa nhắc đến khoán hộ; gia đình mới chỉ được làm 3 khâu là cấy, chăm sóc và thu
hoạch còn tập thể đảm nhiệm 5 khâu trong quá trình sản xuất cây lúa. Chỉ thị đã tạo
ra một không khí mới trong nông thôn: nông dân đã phấn khởi sản xuất, năng suất
tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, người dân vẫn còn nhiều băn khoăn, không chịu bó buộc
ở “5 khâu” do tập thể đảm nhiệm.
Giai đoạn này, mục tiêu sản xuất vẫn bị áp đặt bởi kế hoạch từ trên xuống,
nông dân vẫn chưa có quyền làm chủ thực sự.
Từ 1986-1991: cơ chế khoán cho nhóm và người lao động:
Nghị quyết 10 (Bộ chính trị ngày 05/08/1988) trong nông nghiệp đã khắc
phục được những tồn tại của chỉ thị 100.
Nét đổi mới của Nghị quyết 10 so với chỉ thị 100 là “một chủ, bốn tự”.
“Một chủ” là xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ. Đó chính là sự đột phá rất
quan trọng của Nghị quyết 10.
“Bốn tự”, nghĩa là hợp tác xã tự xác định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh; tự xác định hình thức, quy mô sản xuất; tự xác định hình thức phân
phối, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm để xã viên tự vào ra hợp tác xã.
Điều đáng nói ở đây là: Đảm bảo tự xác định hình thức, quy mô sản xuất có
nghĩa là xóa bỏ việc chỉ đạo nhất loạt lên hợp tác xã cấp cao, lên quy mô xã to. Đảm
bảo tự xác định hình thức quản lý nghĩa là không nhất thiết “năm khâu, ba khâu”
như Chỉ thị 100 mà khoán theo mức, đơn giá, gia đình làm được khâu nào thì cứ
tính theo đơn giá mà hưởng. Trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm, tư tưởng chính sách
“thuận mua vừa bán” trong nghị quyết là xóa cách bắt buộc bán theo nghĩa vụ đang
thực hiện. Chính sách này chỉ có thể thực hiện được khi đổi mới đồng bộ khâu lưu
thông, phân phối mà trong Chỉ thị 100 đã chưa đề cập đến.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp bằng việc giao đất cho nông hộ:
SVTH: Vũ Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 48B
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Từ 1991 đến nay, đất đai được giao toàn quyền sử dụng cho các nông hộ,
người nông dân được hoàn toàn chủ động sản xuất trên mảnh đất được giao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status