Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong quá trình xây dựng nông mới tại xã phương tiến, huyện vị xuyên, tỉnh hà giang - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐỖ NAM CAO

ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
XÃ PHƯƠNG TIẾN, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐỖ NAM CAO

ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
XÃ PHƯƠNG TIẾN, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Để thực hiện được một cách đồng bộ và có chiến lược phát triển nông thôn
lâu dài nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị thì thủ tướng
chính phủ đã ban hành quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 về
việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Trong thời gian qua việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn


2

mới đã được thực hiện một cách toàn diện và sâu rộng trên phạm vi cả nước
nhằm góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vai trò cho cộng đồng người dân
sống ở nông thôn… Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy hết được
những nguồn lực trong thực hiện các chương trình phát triển nông thôn mới.
Có rất nhiều lý do và lực cản như: trình độ hiểu biết của người dân, năng lực
quản lý, cơ chế, phương pháp triển khai thực hiện và điều kiện cơ sở hạ tầng
thấp kém…
Chính vì vậy để biết được hiệu quả của một chính sách ban hành và
chương trình thực hiện như thế nào thì công tác kiểm tra, đánh giá quá trình
thực hiện có ý nghĩa và vai trò quan trọng. Quá trình xây dựng nông thôn mới
gắn liền với quyền lợi, lợi ích của người dân cho nên việc giám sát, đánh giá
hiệu quả của chương trình có sự tham gia của người dân địa phương là phù
hợp, cần thiết và phát huy được vai trò của người dân khi thực hiện chương
trình. Đó là dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản
lý và dân hưởng lợi.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn và tính cấp thiết của chương trình
trọng điểm quốc gia xây dựng nông thôn mới đang được thực hiện trên địa bàn
xã Phương Tiến. Để chương trình thành công và đem lại lợi ích thật sự cho
người dân địa phương, đồng thời có thể làm cơ sở để đúc rút ra những kinh
nghiệm khi thực hiện xây dựng nông thôn mới tôi đã lựa chọn và tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong

thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.
- Nông thôn: là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều
nông dân. Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và


4

môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ
chức khác [2].
- Phát triển nông thôn: là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời
sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hoá
và môi trường, quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông
thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ và các tổ chức khác.
- Theo tác giả TS. Vũ Thị Bình: Nông thôn mới (NTM) là nông thôn có
kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có
quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí
cao, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững.
- Quy hoạch NTM: là việc tổ chức mạng lưới điểm dân cư nông thôn hệ
thống công trình hạ tầng kỹ thuật (HTKT), hạ tầng xã hội (HTXH) trên địa
bàn xã hoặc liên xã. Quy hoạch NTM bao gồm quy hoạch mạng lưới điểm
dân cư nông thôn trên địa bàn xã hoặc liên xã (còn gọi là quy hoạch chung
xây dựng xã) và quy hoạch điểm dân cư nông thôn (còn gọi là quy hoạch chi
tiết khu trung tâm xã, thôn, làng, xóm...) [1].
- Xây dựng mô hình NTM: là một chính sách về một mô hình phát triển
cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều
lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các
mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán,
cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí.
- Sự tham gia của người dân: là một quá trình bàn bạc cởi mở, bình
đẳng giữa cán bộ, các nhà hoạch định chính sách với người dân địa phương.

người dân thong qua hương ước, lệ làng.
- Hai là: Đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị
những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở
lên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ gắn bó lâu đời. Trước hết, tạo mọi
điều kiện cho người dân có thể làm giàu trên chính quê hương của mình.


6

- Ba là: Nông dân biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực,
tăng cường kinh tế cao và bền vững, môi trường tự nhiên được giữ gìn, khai
thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành nghề truyền thống, ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp.
- Bốn là: Dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất. Người
dân được tham gia tích cực trong quá trình ra quyết định về chính sách phát
triển nông thôn.
- Năm là: Người dân nông thôn có văn hóa, trí tuệ được nâng lên, sức
lao động được giải phóng, nhân dân tích cực tham gia vào quá trình đổi mới.
Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng - xã trong công cuộc xây dựng NTM.
Các tiêu chí này trở thành mục tiêu, yêu cầu trong hoạch định chính sách về
mô hình NTM ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
1.1.4. Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới
- Cần phát huy sức mạnh cộng đồng: Thực hiện Nghị quyết của Trung
ương, của Tỉnh uỷ về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Đây là một đề án
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm phát triển nông thôn một cách toàn diện,
nâng cao đời sống người dân về mọi mặt và được thực hiện chủ yếu theo
phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng.
- Rất cần thể chế, chính sách “thông minh”: Xây dựng NTM là một vấn
phức tạp vì liên quan đến nhiều ngành, nhiều chính sách và hoạt động có tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khu vực nông thôn và đời sống của người

văn hóa, xã hội, môi trường [2], [14], [18].
- Nhóm V: Gồm tiêu chí 18 và tiêu chí 19 là chính trị, an ninh trật tự xã
hội [2], [14], [18].
1.1.6. Nguyên tắc và yêu cầu của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng
đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban
hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và


8

hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở
thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
- Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ
trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông
thôn.
- Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương có quy hoạch và thực hiện các quy hoạch
xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đạt yêu cầu của Bộ tiêu
chí quốc gia một cách bền vững.
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường
phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,
dự án của Chương trình xây dựng NTM.
- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội;
cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng
quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ
thể trong xây dựng NTM.
- Tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan về bảo vệ các công trình
kỹ thuật, công trình quốc phòng, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng

- Thứ hai là: Dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát triển nội lực.
Sau chiến tranh, nước Nhật bị tàn phá rơi vào tình trạng đói kém, ngoại
tệ thiếu hụt, khó nhập khẩu lương thực. Bị dồn vào chân tường, vẫn như
trước, Nhật Bản áp dụng phương châm “dưỡng dân, để dân tự tích lũy, tự khai
thác nội lực tạo phát triển” [31].
Từ năm 1970, Nhật Bản đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa nông
thôn, thu nhập của nhân dân tăng nhanh do chính sách phi tập trung hóa công
nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn. Cơ cấu kinh tế nông thôn
thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu cập cư dân


10

nông thôn ngày càng tăng. Năm 1990, phần thu nhập phi nông nghiệp cao hơn
5,6 lần phần thu từ nông nghiệp. Thu nhập từ nông nghiệp của nông dân tăng
gấp 9 lần so với mức năm 1950 chủ yếu nhờ giá nông sản tăng do Chính phủ
đã trợ giá. Tính cả thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu nhập của
nông dân tính theo đầu người hay bình quân hộ đều cao hơn thu nhập hộ công
nhân đô thị.
- Thứ ba là: Gắn nông nghiệp với công nghiệp, gắn nông thôn với thành
thị.
Một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện thành công CNH HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản là sự liên kết hài hòa giữa nông
nghiệp, nông thôn với công nghiệp và đô thị.
Phát triển kết cấu hạ tầng (thông tin, giao thông, giáo dục, nghiên cứu)
là nhân tố quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển, tạo nên năng suất đất
đai các giai đoạn đầu thời kỳ Duy Tân và tạo điều kiện phát huy tác dụng máy
móc, thiệt bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông
nghiệp, tạo nên năng suất lao động cao cho nông nghiệp Nhật bản giai đoạn
sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Một tác động quan trọng khác của công nghiệp là tạo việc làm cho lao

và đang được trình diễn và phổ biến.
Trong phát triển nông thôn, nổi bật nhất là sự phát triển của công
nghiệp hương trấn - một trong những điều khiến cho cả thế giới phải để tâm.
Công nghiệp hương trấn của Trung Quốc bắt đầu được khởi động từ đầu
những năm 80 của thế kỷ 20, đến cuối những năm 80 bước vào giai đoạn tăng
trưởng nhanh, đầu những năm 90 thực hiện điều chỉnh tối ưu hoá, đến giữa
những năm 90 lại có bước tăng trưởng nhanh, tạo ra nhiều kỳ tích. Công
nghiệp hương trấn đã trở thành trụ cột và là nguồn tăng trưởng chính của kinh
tế nông thôn Trung Quốc. Qua sự thành công trong phát triển KH&CN nông
nghiệp của Trung Quốc có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:


12

- Phát huy tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tập trung nguồn lực vào
những việc lớn. Kết hợp chặt chẽ nhà nước, ngành và địa phương, theo
phương châm: “Nhà nước lập sân khấu, cán bộ KH&CN biểu diễn”, trung
ương đi đầu, địa phương phụ trách liên kết các ngành chuyên môn tập trung
vào những trọng điểm KH&CN để tạo nên hiệu quả và đạt tới mục tiêu cuối
cùng cho nông dân hưởng thụ [31].
- Kiên trì phương hướng phục vụ “Tam nông”: Việc lựa chọn các đề tài
KH&CN nông nghiệp phải bám sát mặt trận chính là kinh tế quốc dân, hướng
vào những yêu cầu của nhà nước, chọn ra những yêu cầu cấp thiết, mấu chốt
của nông thôn, nông nghiệp và nông dân để giải quyết [31].
- Kết hợp giữa sáng tạo và du nhập công nghệ: Cùng với việc tự chủ
sáng tạo công nghệ, cần tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài thông qua hoạt
động hợp tác quốc tế, đẩy mạnh việc nhập các công nghệ tốt và thích hợp của
nước ngoài.
1.2.1.3. Mô hình “Làng mới” ở Hàn Quốc
Hàn quốc vào những năm 1960 vẫn là một nước chậm phát triển, nông

các nông hộ gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng; việc
xây dựng cơ sở vật chất, đường làng nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước,
điện, chuyển giao khoa học công nghệ, tích lũy vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ
môi trường…
Đầu tư phát triển nông thôn là quá trình lâu dài và tốn kém, để tìm ra
biện pháp phát triển rút ngắn được khoảng cách thời gian, đồng thời hạn chế
nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào “Làng mới” là một trong số
những mô hình phát triển nông thôn cần được nghiên cứu và áp dụng một
cách chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tế tại nước ta [31].
1.2.2. Kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.2.2.1. Kinh nghiệm thực hiện
Sau gần 3 năm (2010 - 2013) thực hiện, chương trình thí điểm mô hình


14

NTM đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng. Mô
hình NTM theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm
địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí NTM
là phù hợp.
Chương trình xây dựng thí điểm mô hình NTM được thực hiện tại 11
xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam
Định), Thuỵ Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình
Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP. Hồ
Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hoà (Kiên Giang).
Mục tiêu của chương trình nhằm thử nghiệm các nội dung, phương
pháp, cách làm, cơ chế, chính sách, xác định trách nhiệm và mối quan hệ chỉ
đạo giữa các cấp trong việc xây dựng NTM; hình thành các mô hình trên thực
tiễn về NTM để rút kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia
xây dựng NTM trên diện rộng.

sống văn hoá - xã hội, môi trường ở nông thôn;
- Người dân là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống
chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm an ninh trật tự xã hội ở cơ sở.
1.2.2.3. Kết quả chung đạt được
Theo đánh giá tổng hợp của Ban quản lý chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020, tính đến ngày 16/7/2013 kết quả
thực hiện các tiêu chí của chương trình NTM đã đạt được: 85 xã đạt 19 tiêu
chí chiếm 1,1%; 226 xã đạt 15 - 18 tiêu chí chiếm 2,9%; 1.071 xã đạt 10 - 14
tiêu chí chiếm 13,6%; 3.982 xã đạt 5 - 9 tiêu chí chiếm 50,5%; 2.523 xã đạt
dưới 5 tiêu chí chiếm 29,5,0%. Với mức độ các tiêu chí như trên thì mục tiêu
đến năm 2015 có 20,0% số xã đạt chuẩn NTM là rất khó đạt được.
Một số xã đạt được kết quả thực hiện tốt ở một số mặt như: Quy hoạch
vầ thực hiện tốt quy hoạch ở Hải Đường; Phát triển sản xuất, nâng cao thu
nhập cho người dân ở Mỹ Long Nam; Huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và


16

Định Hóa; Phát triển sản xuất gắn với quy hoạch đồng ruộng và cơ sở hạ tầng
ở Tam Phước; Cải tạo, nâng cao điều kiện sống của người dân ở Tân Thịnh;
Liên kết sản xuất giữa nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội;
thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội, Tân Lập... Hiện
các mô hình này là những điểm thực tiễn được các địa phương khác đến tham
quan và học tập.
Việc triển khai chương trình cũng đưa ra được kinh nghiệm bước đầu
về cách làm, cơ chế, triển vọng để thực hiện thành công Nghị quyết trung
ương 7 về nông nghiệp - nông dân - nông thôn [21].
Qua thực hiện thí điểm tại 11 xã đã có những mô hình tốt trên các mặt:
Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, huy động nguồn lực; phát triển sản xuất
gắn với quy hoạch ruộng đồng và cơ sở hạ tầng; phong trào cải thiện điều

thế chính trị, kinh tế). Đây là nhóm dân số đông nhất hiện nay ở nước ta,
nhưng hiện tại đời sống kinh tế - văn hóa đang còn nhiều khó khăn và nhìn
chung là nhận thức thấp. Vì vậy, cần có cách tổ chức vận động phù hợp.
- Hai là: Quyết định lựa chọn một cách khoa học, sát thực tế với từng
địa phương những nội dung, việc cần ưu tiên làm trước. Trong đó, kiên trì
quy hoạch, bổ sung quy hoạch theo tiêu chí NTM và phải đi trước một bước.
Từ quy hoạch tổng thể, phân khu chức năng đến quy hoạch chi tiết. Hạn chế
tối đa gây xáo trộn, tốn kém gây tâm lý không tốt, không thiết thực khi làm
quy hoạch. Việc đầu tư cần thiết về cơ sở hạ tầng trong quá trình xây dựng
NTM chỉ thực hiện khi phê duyệt xong quy hoạch.
- Ba là: Kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuật, đưa
tiến bộ khoa học vào nông nghiệp, nông thôn. Phải đi từ thấp lên cao, đưa ứng
dụng kỹ thuật mới phải thực tế. Khuyến nông là một giải pháp rất hữu hiệu ở
nước ta và kinh nghiệm quốc tế. Cùng với việc này là tập trung triển khai
nhanh chương trình đào tạo cho người dân nông thôn.
- Bốn là; Đầu tư từ nhiều nguồn cho nông thôn để xây dựng hạ tầng và


18

công trình phúc lợi công cộng (hiện nay Chính phủ quyết định bảy hạng mục
công trình “cứng”) Nhà nước đầu tư 100%, tạo sự thay đổi bộ mặt nông thôn.
Nhưng về lâu dài là chính sách thu hút sự đầu tư của doanh nghiệp về với
nông thôn.
- Năm là: Có các cơ chế chính sách và biện pháp giúp người dân phát
triển sản xuất gắn kết với doanh nghiệp tại nông thôn theo đơn đặt hàng của
doanh nghiệp nhằm “dẫn dắt nông dân ra thị trường” khắc phục được kiểu
đưa thị trường về nông thôn “thả nổi nông dân trong cơ chế thị trường”.
- Sáu là: Tạo cơ hội để nông dân nông thôn tham gia đầu tư không chỉ
cho sản xuất của chính mình, mà cả phúc lợi công cộng do chính mình được

nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư số 17/2010/TT-BXD ngày 30/09/2010 của Bộ xây dựng về
việc hướng dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch
đô thị;
- Thông tư liên tich
̣ số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT,
ngày 28/10/2011 của Bô ̣ xây dựng, Bô ̣ Nông nghiê ̣p & PTNT, Bô ̣ Tài nguyên
& MT, về viê ̣c quy đinh
̣ lâ ̣p, thẩ m đinh,
̣ phê duyê ̣t quy hoa ̣ch xây dựng xã
nông thôn mới.
b) Các văn bản của tỉnh
- Nghị quyết số 04-NQ/TW của BCH Đảng bộ tỉnh lần thứ XV về Xây
dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 trên địa bàn tỉnh Hà Giang;
- Quyết định số 647/QĐ-UBND ngày 12/03/2010 của UBND tỉnh Hà
Giang về việc phê duyệt và ban hành Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn Nông thôn mới
của tỉnh Hà Giang;
- Quyết định 2632/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang về việc ban
hành định mức hỗ trợ các công trình nhà nước và nhân dân cùng làm trên địa
bàn tỉnh Hà Giang năm 2011;
- Quyết định số 79/QĐ-UBND, ngày 12/1/2012 của UBND tỉnh Hà


20

Giang Về việc ban hành định mức lập dự toán quy hoạch xã Xây dựng Nông
thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015-2020;
- Căn cứ quyết định số 7693/QĐ-UBND, ngày 31/12/2011 của UBND
huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang Về việc Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung
đồ án quy hoạch XDNTM xã Phương Tiến giai đoạn 2011-2020;

tại xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang và những nơi có điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích, đánh giá được hiện trạng, vai trò của người dân địa phương
trước và sau khi có chương trình xây dựng NTM tại xã Phương Tiến.
- Đánh giá được lợi ích, hiệu quả về kinh tế, chính trị, xã hội, môi
trường của địa phương sau khi thực hiện chương trình xây dựng NTM tại xã
Phương Tiến.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần quản lý, thực hiện xây
dựng NTM đi đúng hướng, hiệu quả góp phần từng bước nâng cao đời sống
của người dân tại xã Phương Tiến.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các chỉ tiêu của 19 tiêu chí về xây dựng NTM trên địa bàn xã Phương
Tiến, huyện Vị Xuyên.
- Vai trò của người dân ở xã Phương Tiến trong quá trình tham gia xây
dựng NTM.
2.2.2. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, đánh giá các chỉ tiêu của 19 tiêu chí xây dựng NTM
và vai trò tham gia của người dân địa phương trong quá trình xây dựng NTM


22

được thực hiện tại xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng nông thôn tại xã Phương Tiến trước và sau khi có chương
trình xây dựng NTM
- Sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng NTM tại xã
Phương Tiến từ năm 2011 đến nay

đạo cho công tác xây dựng NTM; Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban quản lý
xây dựng NTM để thu thập các thông tin về tình hình thực hiện xây dựng
NTM; Các cán bộ kiêm nhiệm về địa chính, nông nghiệp, văn hóa, văn phòng
để tổng hợp các báo cáo về kết quả thực hiện chuyên môn trong quá trình xây
dựng NTM. Toàn xã có 8 thôn tác giả đã lựa chọn ngẫu nhiên 3 thôn (thôn
Cường Thịnh, thôn Sửu, thôn Xà Phìn) để phỏng vấn mỗi thôn ngẫu nhiên 30
hộ về tình hình triển khai và thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa
bàn thôn. Các thông tin cần thu thập có liên quan đến các chỉ tiêu như:
Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý
và dân hưởng lợi. Những chỉ tiêu này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của
Đảng ta “lấy dân làm gốc”. Các nội dung đánh giá sự tham gia của người dân
trong việc xây dựng mô hình NTM được hiểu:
- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân
về những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông
thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông
thôn. Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai
đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin
đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy
mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ công đồng, trách nhiệm và quyền lợi
của cộng đồng người dân được hưởng lợi.
- Dân bàn: Người dân được tham gia ý kiến, bàn luận về một hướng
sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp
thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status