MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
2
hần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Từ xa xưa con người đã biết sống dựa vào rừng, khai thác sử dụng các
sản phẩm từ rừng để phục vụ cuộc sống của mình. “Rừng vàng, biển bạc” câu
nói đã được ông cha ta truyền dạy, khuyên răn các thế hệ con cháu phải biết
coi trọng, gìn giữ, bảo vệ và phát huy nhiều hơn nữa những lợi ích mà rừng
mang lại.
Rừng đã được coi là tài sản quí báu vào bậc nhất mà thiên nhiên ban
tặng cho con người. Trong thực tế rừng đã đem lại nhiều lợi ích to lớn như:
cung cấp lâm sản cần thiết cho cuộc sống, nhiều sản vật quí hiếm, đặc biệt
rừng có vai trò điều tiết nguồn nước, điều hoà khí hậu.
Đã từ lâu đời, đồng bào các dân tộc ít người sống ở các vùng rừng núi
có tập quán, kinh nghiệm khai thác nguồn sản vật của rừng vô cùng quí giá do
thiên nhiên ban tặng để nuôi sống mình. Nhưng dân số ngày càng tăng nhanh
nhu cầu của con người ngày một lớn trong khi đó diện tích rừng ngày một thu
hẹp, phương thức khai thác sản phẩm cá sẵn ở rừng đã không còn đáp ứng
được yêu cầu. Trong vài thập kỉ qua, lâm sản ngoài gỗ thu hút được sự quan
tâm đáng kể đặc biệt tiềm năng đóng góp của nó trong bảo tồn rừng và đa
dạng sinh học; xoá đói giảm nghèo và phát triển vùng cao; trong phát triển
phụ nữ và dân tộc. Lâm sản ngoài gỗ có thể khai thác một cách bền vững mà
ít tác động đến tính ổn định của rừng, cung cấp nguồn lợi quan trọng cho thu
nhập và chất liệu cần thiết cho cuộc sống cộng đồng đang sống bên trong và
quanh rừng, cũng như mang lại nguồn động viên khuyến khích quan trọng đối
với sự nghiệp bảo tồn và quản lí khu rừng, bảo tồn tính đa dạng sinh học.
Ngành lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam vẫn còn non trẻ, ưu tiên cao nhất hiện
nay của Chính phủ là tăng trưởng kinh tế quốc dân, xoá đói giảm nghèo cho
làm thiệt hại mùa màng. Ngoài ra các hoạt động dịch vụ còn chậm phát triển,
cơ sở hạ tầng còn thấp kém chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ cho sản xuất, dẫn
đến đời sống của người dân còn thấp và đói nghèo.
Nhận thức được những lợi ích mà Sa nhân tím mang lại, tuy nhiên để
có thể đánh giá đây là loài cây phát triển tốt và hiệu quả trong tương lai
cũng như đem lại nguồn thu nhập cho người dân, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Sa nhân tím
(Amomunlongiligulaze T.L.WU) được trồng tại xã Lao Chải, huyện Vị
Xuyên, tỉnh Hà Giang làm cơ sở cho việc phát triển loài cây lâm sản
ngoài gỗ của địa phương”.
333
3
4
1.2. Mục đích nghiên cứu
Góp phần phát triển cây dược liệu nói chung và cây Sa nhân tím
(Amomunlongiligulaze TLWU) nói riêng trên địa bàn xã Lao Chải, huyện Vị
Xuyên, tỉnh Hà Giang
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được tình hình sinh trưởng của cây Sa nhân tím dưới tán cây
rừng thông qua một số yếu tố ảnh hưởng.
Đề xuất được một số giải pháp kĩ thuật nhằm phát triển bền vững cây
Sa nhân tại địa phương, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân, nâng
cao đời sống của cộng đồng.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Qua quá trình thực hiện chuyên đề, sinh viên sẽ được thực hành việc
nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lí và khoa học
trong công việc để đạt được hiệu quả cao trong quá trình làm việc.
- Làm cơ sở để củng cố kiến thức thông qua tình hình sinh trưởng của
cây, có thể giúp cho người dân đưa ra các biện pháp chăm sóc hợp lí để nâng
rừng hoặc từ bất kì vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn
ở tất cả các hình thái của nó.
Trần Ngọc Hải (2000) (Bài giảng “lâm sản ngoài gỗ”) [12]: Lâm sản
ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng
phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng
làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao
su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi…
2.1.2. Đặc điểm cây Sa nhân và phân bố
* Đặc điểm hình thái
Cây Sa nhân là một loài cây thân thảo sống lâu năm, mọc thành khóm.
Cây cao 1,5 - 2m.
555
5
6
- Lá nhẵn bóng màu xanh đậm, có bẹ không cuống, dài 25 - 35cm, rộng
10 -15cm, mặt nhẵn
- Thân ngầm và dễ mọc tập trung ở tầng đất mặt 0 - 15cm, phát triển
theo mặt nằm ngang, không ăn sâu.
- Hoa mọc thành chùm ở gốc
- Quả mang 3 ô, có gai mềm, khi chín màu đỏ nâu
- Loài sa nhân tím (A.longiligulare) có quả màu tím, hình cầu, khối hạt
3 cạnh. Lá có lưỡi bẹ dài 3 - 5cm. Hoa trắng có mép vàng, vạch đỏ tím cây ra
hoa và quả gần như quanh năm.
* Đặc tính sinh thái
Sa nhân là loài cây ưa bóng, sinh trưởng tốt dưới tán rừng có độ tàn che
0,5 - 0,6.
Sa nhân sống dưới tán rừng, đặc biệt trong các thung lũng và khe núi,
có độ ẩm không khí cao và mát hơn so với ngoài trống, cây sinh trưởng tốt và
cho năng suất quả cao.
Sa nhân thường mọc trên đất tốt, giàu mùn, đạm và kali. Đất có độ xốp
thuật ngữ mới cho nó là “Lâm sản ngoài gỗ” (“Non - timber forest” hay “Non -
wood forest product”). (Bài giảng LSNG, Nguyễn Thị Thoa) [12].
Năm 1992, J.H.De Beer một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của tổ chức
Nông - Lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của lâm sản
ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập
của người dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm
xoá đói giảm nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
vùng núi và bảo tồn phát triển tài nguyên rừng. Về nhu cầu thị trường của
thảo quả là rất lớn, chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn
sang Trung Quốc và Thái Lan. Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai
trò thảo quả đối với con người, xã hội cũng như tình hình sản xuất buôn bán
và dự báo thị trường, tiềm năng phát triển của thảo quả.
2.2.1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sa nhân tím
Hiện nay cây Sa nhân tím được phân bố chủ yếu ở các nước như: Phân
bố rộng rãi ở Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam (Trung Quốc), Việt Nam, Lào,
Campuchia và Thái Lan.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng LSNG ở Việt Nam
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây LSNG ở Việt Nam
Việt Nam là nơi quy tụ của nhiều hệ sinh thái. Hệ thực vật, động vật và
nguồn gen vật nuôi, cây trồng rất phong phú. Đây là nguồn nguyên liệu quan
trọng để bảo tồn và phát triển LSNG.
777
7
8
Đến nay đã thống kê được 63 loài thuộc ngành thực vật hạt trần và
9812 loài thực vật hạt kín. Đa số các loài LSNG nằm trong 2 ngành thực vật
này. Nhiều họ thực vật tập chung các nhóm LSNG như: hầu hết các cây thuộc
Họ long não, họ Hoa môi, họ Giềng cho sản phẩm tinh dầu; các loài thuộc họ
Nhân sâm, Hoa môi, Tiết dê là cây thuốc, trong đó có nhiều loài cây thuốc
quý như; Sâm ngọc linh, tam thất, bình vôi, vàng đắng, hoàng đằng,…
888
8
9
Tính vị, tác dụng: Cay, mùi thơm, tính ẩm: có tác dụng hoá thấp khai
vị, ôn tỳ chỉ tả, lý khí an thai.
Công dụng: Sa nhân được dùng làm gia vị, làm thuốc chữa đau bụng và
dạ dày trướng đau, ăn uống không tiêu, nôn mửa, viêm ruột, ỉa chảy, lỵ, động
thai. Liều dùng, hạt khô 3 - 6g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối
hợp với các vị thuốc khác.
Sa nhân ké
Sa nhân gai. Sa nhân vỏ xanh. Súc xa mật. Co néng (Tày), Co nẻng
(Thái) - Amonum villosum lour. Var. xanthioides (Wall. Ex Bak.) T.L Wu et
senjen chen. (Amomum xanthioides Wall.ex Bak.)
Thuộc họ gừng - Zinhgiberaceae.
Nơi sống và thu hái: Ở nước ta, cây mọc ở rừng ẩm miền Bắc và miền
Trung. Đã được gây trồng.
Thành phần hoá học: Quả chứa 1,7 - 3% tinh dầu mà trong thành phần
có camphen, pinen.
Tính vị, tác dụng: Vị cay, tính ẩm; có tác dụng hành khí khoan trung,
kiện tỳ, tiêu thực, an thai.
Công dụng: Thường được dùng trị đau bụng, bụng quặn đau, ăn uống
không tiêu, thức ăn tích tụ gây ỉa chảy và động thai.
* Sa nhân đỏ
Sa nhân. Co nẻng (Thái) Amomum aurantiacum H.T.Tsai & S.W.Zhao.
Phân bố: Lai Châu, Sơn La, Kontum.
Tính vị, tác dụng: Cay, mùi thơm, tính ẩm; có tác dụng hoá thấp khai
vị, ôn tỳ chỉ tả, ly khí an thai.
Công dụng: Sa nhân được dùng làm gia vị, làm thuốc chữa đau bụng và
đau dạ dày trướng đau, ăn uống không tiêu, nôn mửa, viêm ruột, ỉa chảy, lỵ,
động thai. Liều dùng, hạt khô 3 - 6g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường
+ Phía Nam giáp xã Túng Sán huyện Hoàng Su Phì.
Tổng diện tích tự nhiên 5012 ha, trong đó đất lâm nghiệp 3.361,71 ha,
đất phi nông nghiệp 30,09 ha, đất chưa sử dụng 1.184,20 ha, với địa hình đồi
núi là chủ yếu có độ dốc lớn và bị chia cắt bởi nhiều dông đồi, khe cạn và
hình thành 4 thôn; (Thôn Bản Phùng, Thôn Cáo Sào, thôn Lùng Chu Phùng,
thôn Ngài Là Thầu). Dân số 303 hộ với 1691 nhân khẩu gồm 3 dân tộc anh
em cùng sinh sống xen kẽ trên địa bàn là: H’Mông,Tày, Kinh, Trong đó dân
tộc Mông chiếm 98%, 2 dân tộc còn lại chỉ chiếm 2% tổng dân số toàn xã.
b. Địa hình, địa mạo
Địa hình của xã nằm trong khối Tây Côn Lĩnh xã Lao Chải có địa hình
dốc từ Tây sang Đông, ảnh hưởng đến xu hướng và cường độ tạo hình các tài
nguyên đất và sinh vật.
101010
10
11
Địa hình đồi núi cao: Địa hình này chiếm đa số trong địa bàn xã có độ
cao thay đổi từ 1000 - 1600 địa hình này phân bổ ở phía Tây - Bắc của xã.
Địa hình này bị chia cắt mạnh độ dốc phần lớn trên 25
0
các loại đất hình thành
trên địa hình này chủ yếu độ dày tầng đất mịn từ mỏng đến trung bình loại
địa hình này có thể bố trí trồng màu.
Địa hình đồi núi thấp và đồi núi trung bình, địa hình này chiếm một
phần nhỏ trên địa bàn xã. chủ yếu nằm ở phía Đông - Nam và một phần ở
phía Tây - Bắc của xã có độ dốc từ 15
0
đến 25
0
đất có độ chia cắt mạnh, địa
hình này chủ yếu bố trí vào sản xuất nông nghiệp.
mưa nhiều, tuy nhiên nằm sâu trong lục địa cho nên ảnh hưởng của mưa bão
và gió mùa đông bắc. Khí hậu một năm được chia làm hai mùa:
+ Mùa mưa: Từ tháng 05 đến tháng 10.
+ Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm là 23
0
C nhiệt độ trung bình thấp nhất (tháng 1)
19,5
0
C nhiệt độ trung bình cao nhất (tháng 6) 26
0
C
+ Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm là 83%/tháng
+ Lượng mưa cả năm là 2500 mm/năm. Phân bố không đều trong năm,
lượng mưa tập trung vào tháng 6,7,8.
Do đặc điểm khí hậu của xã mùa đông lạnh mùa hè nóng, mưa nhiều
cộng với địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn gây ảnh hưởng không nhỏ đến
sản xuất nông nghiệp.
Sông suối
Trên địa bàn xã có hệ thống suối và các khe suối nhỏ đây chính là
nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã.
Nhưng hàng năm về mùa khô lượng nước xuống thấp cũng ảnh hưởng rất lớn
đến sản xuất sinh hoạt của nhân dân, ngược lại về mùa mưa các suối nước
dâng cao gây hiện tượng lũ quét, sạt lở ảnh hưởng rất lớn sản xuất nông
nghiệp của xã.
Nguồn nước ngầm tương đối phong phú, ở độ cao từ 1000m - 1800m
chất lượng nước nói chung là tốt đảm bảo phục vụ sinh hoạt của người dân
trong xã. Trong những năm gần đây, do nạn chặt phá rừng, khai thác bất hợp
lý làm giảm nguồn sinh thuỷ dẫn đến cạn kiệt nguồn nước về mùa khô và gây
lũ lụt vào mùa mưa làm phá huỷ nhiều công trình giao thông thuỷ lợi và phá
lực lượng lao động khá dồi dào, quá nửa dân số đang trong độ tuổi lao động.
Xong do địa bàn là xã thuần nông nên hầu hết lao động địa phương đều là lao
động sản xuất nông nghiệp theo hình thức thủ công, trình độ kỹ thuật thấp nên
năng suất, hiệu quả trong lao động còn chưa cao.
• Dân tộc
Lao Chải có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống với cơ cấu như sau:
131313
13
14
Bảng 3.1. Dân số và cơ cấu dân tộc xã Lao Chải năm 2011
Số thứ tự Dân tộc Số dân Tỷ lệ (%)
1 Mông 1681 99,4
2 Tày 3 0,177
3 Kinh 7 0,413
Tổng cộng (3 dân tộc), 303 hộ, khẩu 1.691 người
Qua bảng số liệu trên cho thấy xã Lao Chải gồm 3 dân tộc cùng sinh
sống xen kẽ trong đó dân tộc H’Mông có số dân đông hơn cả chiếm 99,4%,
các dân tộc còn lại dân số không nhiều chủ yếu là công dân mới xây dựng
hạnh phúc gia đình với người dân tộc Mông. Dân tộc kinh chỉ có 2 hộ, trong
đó có một hộ lên làm ăn buôn bán tại xã, một hộ là giáo viên trường trung học
cơ sở xã mới chuyển khẩu lên năm 2011.
* Giáo dục
Xã Lao Chải có 2 trường của 3 cấp học đó là.
- Giáo dục Mần non: 1 trường 16 cán bộ giáo viên 166 học sinh với 12
lớp học.
- Giáo dục Tiểu học và THCS: 1 trường 35 cán bộ giáo viên 364 học
sinh với 20 lớp học
Cơ sở vật chất trường lớp còn nhiều thiếu thốn chỉ có trường tiểu học
và THCS được xây dựng nhà 2 tầng còn trường Mầm Non hiện đang học tại
nhà trạm y tế xã cũ, các điểm trường trên địa bàn xã lớp học chỉ là nhà trình
đạo, học đạo trái pháp luật; không có di dịch cư tự do; không có khiếu kiện
đông người phức tạp. Nhiều năm liền được tỉnh, Bộ Công An tặng bằng khen
về phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.
* Tình hình sản xuất
+ Về trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 186 ha tăng so với năm
2010 là 11,7% trong đó:
- Cây Lúa: Diện tích gieo trồng thực hiện đạt 76/76 ha = 100% kế hoạch
nhà nước giao tăng so với năm 2010 là 4,1%. Năng xuất bình quân đạt 56 tạ/ha
đạt 98,9% so với kế hoạch, giảm 1.1% so với năm 2010. Sản lượng đạt 425,6
tấn đạt 98,9% so với kế hoạch tăng 3,25 so với năm 2010 = 13,4 tấn.
- Cây Ngô: Diện tích gieo trồng 45/45 ha = 100% so với kế hoạch,
tăng 4,6% so với năm 2010. Năng suất bình quân đạt 27 tạ/ha = 90% so với
kế hoạch, tăng 8% so với năm 2010. Sản lượng đạt 121,5 tấn = 90% so với
kế hoạch, tăng 13% so với năm 2010 = 14 tấn. Tổng sản lượng lương thực
cả năm đạt 547.1/ 565.1 tấn = 96,8% so với kế hoạch tăng 5,3% so với năm
2010 = 27,4 tấn.
151515
15
16
- Cây đậu tương: Diện tích gieo trồng cả năm thực hiện được 27 ha =
90% so với kế hoạch, tăng 54,2% so với năm 2010. Năng suất đạt 10 tạ / ha =
95% so với kế hoạch, tăng 38% so với năm 2010. Sản lượng đạt 27 tấn = 85%
so với kế hoạch, tăng 112,6% so với năm 2010 = 14,3 tấn.
- Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng cả năm đạt 27 ha = 112% so với
kế hoạch nhà nước, giảm 18,6% so với năm 2010. Năng suất đạt 57 tạ/ha =
103,6% so với kế hoạch. Sản lượng bình quân 151,2 tấn = 115% so với kế
hoạch, tăng 13,2% so với năm 2010 = 17,56 tấn.
- Cây khoai Tây: Tổng diện tích gieo trồng toàn xã là 12 ha = 92,3% so
với kế hoạch. Năng suất bình quân đạt 100 tạ/ ha = 66,6% so với kế hoạch.
hơn 233 hộ chăn nuôi gia súc trên các trang trại xa khu dân cư nên không tận
dụng được nguồn phân bón để đầu tư thâm canh trong sản xuất nông nghiệp
của địa phương.
* Về lâm nghiệp
Trước đây do cuộc sống du canh du cư, đời sống người dân chủ yếu
dựa vào nương rẫy nên việc chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy diễn ra và gây
hậu quả nghiêm trọng. Từ đó dẫn đến nguồn tài nguyên rừng bị cạn kiệt, đồi
núi trọc tăng lên. Hiện có tới 21% diện tích đất chưa sử dụng,về thực chất đây
là đất đã bị thoái hóa do hậu quả của việc hoạt động đốt nương làm rẫy trong
thời gian dài. Từ năm 1994, thực hiện chương trình “phủ xanh đất trống đồi
núi trọc” (327) của Đảng và Nhà nước, nhân dân đó được nhận khoán rừng
bảo vệ và trồng rừng phủ xanh đồi núi trọc nên diện tích rừng của toàn xã
tăng lên. Với chính sách kinh tế của nhà nước, những thuận lợi của điều kiện
tự nhiên một số hộ gia đình đó biết trồng thảo Quả dưới tán rừng tạo thêm thu
nhập, tự vươn lên xóa đói giảm nghèo. Nhờ có chính sách giao đất giao rừng
đến từng hộ gia đình nên hệ thống rừng trên địa bàn được quản lý bảo vệ và
phát triển tốt. Kinh tế rừng gắn với phát triển trang trại được phát triển mạnh
tạo được nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ nông dân trên địa bàn góp
phần nâng độ che phủ của rừng đạt trên 75%.
* Tiềm năng du lịch
Với địa hình có dải Tây Côn Lĩnh và nhiều dãy núi xen lẫn trùng điệp
tạo thà nên những thắng cảnh đẹp của tự nhiên của núi rừng. Có nhiều ruộng
bậc thang tạo thành từng dãy đã tạo nên cảnh quan đẹp.
Do hệ thống giao thông đang từng bước hoàn chỉnh nên tiềm năng du lịch
của xã đang được phát huy cùng với hệ thống du lịch của huyện và toàn tỉnh.
Nhận xét và đánh giá chung
* Thuận lợi
Lao Chải là xã có điều kiện tự nhiên phù hợp cho sự phát triển lâm
nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp rất lớn chiếm khoảng 3/4 diện tích đất tự
nhiên toàn xã, nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiều loại cây trồng. Đây là
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Một số hộ gia đình tham gia trồng thử nghiệm cây Sa nhân tím trong
xã Lao Chải, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
- Đề tài tiến hành trồng thử nghiệm từ cây mẹ được lấy từ Thạch Thất -
Hà Tây.
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.2.1. Thời gian nghiên cứu
Thực hiện từ tháng 8/2011 - 5/2012
3.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Gồm các thôn: thôn Ngài Là Thầu, thôn Lùng Chu Phùng, thôn Lùng,
thôn Bản Phùng thuộc xã Lao Chải, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trong phạm vi giới hạn
của đề tài, chúng tôi tiến hành một số nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
1) Tình hình phân bố cây thảo dược ở xã Lao Chải, huyện Vị Xuyên,
tỉnh Hà Giang.
2) Kỹ thuật trồng và chăm sóc và bảo vệ cây Sa nhân
3) Đặc điểm cấu trúc rừng tại khu vực nghiên cứu
4) Đánh giá sự sinh trưởng của cây Sa nhân tím được trồng tại xã
Lao Chải.
5) Đề xuất các giải pháp phát triển cây Sa nhân tím trong và ngoài xã.
191919
19
20
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp kế thừa có chọn lọc
Kế thừa tài liệu về đặc điểm về điều kiện tự nhiên, đặc điểm về tình
hình dân sinh, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu. Nguồn tài liệu tại các
thư viện Đại học nông lâm Thái nguyên và trên mạng internet.
3.4.2. Điều tra thu thập số liệu
+ Chiều cao: Đo chiều cao của các cây trong khu vực trồng.
+ Ra chồi: (Thân ngầm).
3.4.2.2. Bố trí thí nghiệm và dung lượng mẫu
Trên cơ sở khảo sát sơ bộ để thu thập các thông tin về lịch sử, nguồn
gốc, mật độ, tuổi, giống trồng, biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, tình hình
sinh trưởng của cây sa nhân tím, đề tài xác định khu vực điều tra, điểm điều
tra và lập ô tiêu chuẩn trên bản đồ và thực địa.
+ Lập ô tiêu chuẩn điển hình
Để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng nơi trồng sa nhân tím đề tài sử
dụng phương pháp diều tra trên ô tiêu chuẩn điển hình, sau đó lập 3 ô tiêu
chuẩn điển hình cho 3 khu vực trồng sa nhân tím tại xã Lao Chải. Mỗi ô tiêu
chuẩn có diện tích là 1000m
2
(40 x 25 m) được thiết lập ở nơi tương đối đại
diện về cấu trúc rừng, điều kiện địa hình và thổ nhưỡng của toàn khu vực. Do
khu vực trồng cây sa nhân nhỏ nên tiến hành điều tra cả vườn.
+ Xây dựng hệ thống điểm điều tra để nghiên cứu quan hệ tình hình
sinh trưởng của sa nhân tím với một số yếu tố hoàn cảnh.
Ảnh hưởng của các yếu tố hoàn cảnh đến tình hình sinh trưởng của sa
nhân tím được nghiên cứu nhờ thu thập thông tin từ các lần điều tra.
3.4.2.3. Phương pháp thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn
1) Điều tra cấu trúc rừng
Để nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng nơi trồng sa nhân tím, đề
tài tiến hành thu thập trên ô tiêu chuẩn điển hình những số liệu sau:
- Tầng cây cao: tiến hành xác định loài cây, đo đường kính (D
1.3
),
chiều cao (H
vn
), chiều cao dưới cành (H
- Hướng phơi: Bằng địa bàn cầm tay.
- Độ dốc: Bằng địa bàn cầm tay.
2) Điều tra tình hình sinh trưởng của sa nhân tím
Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sinh trưởng của sa nhân tím được điều
tra gồm: Chiều cao cây, màu sắc lá, chiều dài lá bình quân (Dla), chiều rộng
lá (Rla), số lá ra mới (nla).
3.4.3. Phương pháp xử lí số liệu
Đề tài sử dụng một số phương pháp xử lí số liệu sau :
- Phương pháp phân tích diễn giải.
- Phương pháp qui nạp tổng hợp.
- Phương pháp thể hiện số liệu qua bảng biểu.
- Phương pháp chọn lọc, phân tích các số liệu sơ cấp.
- Sử dụng phần mềm microsoft word và excel để xử lí và trình bày các
kết quả đó thu thập được.
Các số liệu thu được ghi chép vào phụ biểu có sẵn.
222222
22
23
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tình hình phân bố cây thảo dược ở xã Lao Chải, huyện Vị Xuyên,
tỉnh Hà Giang
4.1.1. Tình hình phân bố cây thảo dược nói chung tại xã Lao Chải
Trong những năm gần đây, nhu cầu thị trường tiêu thụ cây dược liệu
tăng mạnh, do vậy việc tìm kiếm, khai thác cây dược liệu của người dân,
cùng với quá trình canh tác đồi rừng, chặt phá rừng làm cho nguồn dược
liệu trong tự nhiên của tỉnh ngày một cạn kiệt, một số loài có nguy cơ tuyệt
chủng, không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, trong
và ngoài xã.
Hiện nay, tại một số khu vực của xã cây dược liệu được trồng tập trung
Xã Lao Chải có diện tích rừng khá lớn đó cũng là nơi cung cấp các sản
phẩm phục vụ cho người dân trong và ngoài rừng. Nguồn sản phẩm từ rừng
này không chỉ phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày mà nó còn làm tăng thu nhập
của người dân. Cây thảo dược nói chung thì phân bố khắp xã tùy thuộc vào
từng loài mà số lượng còn nhiều hay ít, đối với những thảo dược mọc tự nhiên
như: Bông Mã Đề, Kim Xuyên, Tam Thất, Sản Sình Tán (Tiếng địa phương),
Xoan ta …Bông Mã Đề ta thấy xuất hiện ở ven suối bản Phùng và bản Lùng
Chu Phùng, những cây còn lại thấy chủ yếu trong rừng. ngoài ra còn có cây
Thảo quả được gây trồng với diện tích 500ha rừng, nhờ mô hình trồng ghép
này mà hiện nay tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn ở 92 hộ (chiếm 29%). Hiện nay tình
trạng người dân khai thác các loài dược liệu này bán sang Trung Quốc diễn ra
khá phổ biến. Do vậy xã Lao Chải nên có chính sách nhất định để quản lý
được nguồn dược liệu qúy hiếm này, nhằm bảo tồn nguồn gen đang dần mất
đi. Kết quả điều tra được thể hiện tại bảng 4.1.
242424
24
25
Bảng 4.1. Tình hình phân bố cây dược liệu tại xã Lao Chải
STT Tên cây dược liệu Số người nhìn thấy Tỷ lệ(%)
1 Thảo quả 30/30 100%
2 Sa nhân dại 20/30 66,67%
3 Bông mã đề 4/30 13,33%
4 Sâm đắng 3/30 10%
5 Sản sình tán 11/30 36,67%
6 Kim Xuyên 3/30 10%
7 Sim, Mua 2/30 6,67%
8 Cỏ xước 1/30 3,33%
9 Tam thất 1/30 3,33%
10 cây Núc nác 1/30 3,33%
11 Lá lốt 1/30 3.33%
25