1
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LIM XANH (ERYTHROPHLOEUM FORDII
OLIV) TẠI BÌNH PHƯỚC
Phạm Văn Bốn
Phân viện Nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ
TÓM TẮT
Lim xanh là cây gỗ quý, nổi tiếng từ lâu đời và hiện đang được ưa chuộng trên thị trường. Phân bố
tự nhiên của cây Lim xanh từ biên giới Việt Trung đến Quảng Nam, Đà Nẵng, nhưng tập trung nhiều ở các
tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên, Lim xanh lại tỏ ra thích hợp trồng trên đất Bình Phước (khu vực Đông Nam Bộ), kể
cả cho làm giầu rừng và trồng rừng thuần loài. Trong mô hình làm giầu rừng theo rạch, sau 10 năm, tỷ lệ
sống đạt từ 53%-75%, tăng trưởng bình quân năm đạt 1,25cm/năm về đường kính và 1,35m/năm về chiều
cao. Trong mô hình rừng trồng thuần loài, sau 3 năm, tỉ lệ sống còn 81,81%, tăng trưởng đạt 2,15cm/năm về
đường kính và 1,93m/năm về chiều cao. Tuy nhiên, đây mới là kết quả bước đầu, cần tiếp tục mở rộng quy
mô nghiên cứu trên diện rộng, với nhiều loại đất khác nhau trong khu vực nhằm bổ sung loài cây này vào
danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất trong khu vực sinh thái Đông Nam Bộ, đồng thời
góp phần vào công tác bảo tồn nguồn gen.
Từ khóa: Sinh trưởng, Lim xanh, tỉnh Bình Phước
MỞ ĐẦU
Lim xanh là cây gỗ quý, được xếp vào nhóm gỗ tứ thiết của Việt Nam “Đinh, Lim, Sến, Táu”, nổi
tiếng từ lâu đời, được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: xây dựng, cầu đường, đóng đồ gia
dụng, đồ cao cấp… và hiện đang được thị trường ưa chuộng. Do được ưa chuộng nhiều, cộng với việc khai
thác không hợp lý dẫn đến Lim xanh ngoài tự nhiên đã dần bị cạn kiệt, cần được chú ý nghiên cứu gây trồng
và bảo tồn. Theo tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa thì Lim xanh phân bố tự nhiên ở hầu hết các tỉnh miền Bắc
Việt Nam, song dải phân bố chính kéo dài từ Quảng Ninh, Nam Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang qua Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tới Quảng Bình. Còn theo tác giả Lê
Mộng Chân và Lê Thị Huyên thì phạm vi phân bố của cây Lim xanh từ biên giới Việt Trung đến Quảng Nam,
Đà Nẵng. Tuy nhiên, một số mô hình rừng trồng thí nghiệm cây Lim xanh ở Trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp
Tân Phú – Phân viện Nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ tại Bình Phước đã cho thấy Lim xanh có
hóa; Đất feralit vàng nâu trên đá bazan có tầng kết von đá ong; Nhóm đất feralit vàng nâu F
u
và xám điển
hình phát triển trên phù sa cổ. Đất trồng trồng Lim xanh là nhóm đất feralit vàng nâu trên đá bazan có tầng
kết von đá ong. Tính chất hóa học đất khu vực trồng Lim xanh được thể hiện trong bảng sau: 2
Bảng 1. Tính chất hóa học đất trong khu vực trồng Lim xanh
Thành phần cơ giới
TT
Độ
sâu
(cm)
pH
KCL
pH
H
2
O
Mù
n
(%)
N
(%)
P
>2
2-
0.02
0.002 <0.002
1 0-20 3.96
5.1
7
4.0
02
0.1
98
0.1
19
0.6
10
0.5 0.7 1.19 0.07 25.3 43.6 7.2 23.9
2 20-
40
4.05 5.1
8
2.9
01
0.0
84
0.1
12
0.6
12
0.5 0.5 0.84 0.05 15.1 64.4 6.9 13.6
3 40-
Hiện trạng rừng trước khi thực hiện
Rừng thuộc đối tượng I
C
. Tán rừng cao 6-8m, ngoài ra còn một số cây cao từ 15-20m. Cây tái sinh
có triển vọng (cây có chiều cao >2m, sinh lực tốt) là 1.650 cây/ha.
Phương thức làm giầu rừng
Phương thức làm giầu rừng theo rạch (rạch chặt, rạch chừa).
Kỹ thuật
Rạch chặt rộng 4m, rạch chừa rộng 6m, rạch được bố trí theo hướng đông tây. Trên rạch chặt phát
sạch cỏ dại, chặt toàn bộ tre gai, dây leo, cây gỗ tạp, chỉ chừa lại cây gỗ có giá trị kinh tế. Kích thước hố
trồng 50cmx50cm, hố cách hố 4m. Sau 3 tháng, chăm sóc, xới vun gốc và phát chồi, dây leo lấn át cây
trồng. Năm thứ 2: phát luỗng toàn bộ dây leo, chặt toàn bộ cây gai, tre gai và cỏ dại trên toàn diện tích băng
chừa. Chăm sóc 2 lần/năm. Năm thứ 3, 4 ngoài việc phát cỏ dại, cây chồi, đối với rạch chừa có tầng cao 15-
20m còn tiến hành mở sáng.
Sinh trưởng của cây trồng sau 3 năm
Bảng 2. Sinh trưởng của cây trồng trong mô hình làm giầu rừng sau 3 năm tuổi
Khi trồng
(8/1998)
Tháng 12/2001)
Nghiệm thức 1* Nghiệm thức 2**
TT Loài cây
D
(cm)
H
(vn)
D
(cm)
∆D
2 Sao đen 0.6
0.75
2.89
0.69
2.79
0.61
1.94
0.4
2.01
0.38
3 Chò chỉ 0.5
0.45
2.32
0.55
2.42
5 Lim xanh 0.4
0.35
4.87
1.34
5.19
1.45
3.31
0.87
3.63
0.98
6 Muồng đen 0.5
0.55
7.7
2.16
6.68
8 Gõ đỏ 0.9
0.88
3.48
0.77
3.11
0.67
2.41
0.45
2.18
0.39
9 Xà cừ 1.1
0.95
6.53
1.63
5.47
0.86
11 Nhạc ngựa 1.2
0.98
5.85
1.39
5.43
1.33
3.71
0.75
3.58
0.86
12 Chiêu liêu 0.6
0.75
7.26
2
gấp hơn 2 lần về đường kính, gấp hơn 1,5 lần về chiều cao như Muồng đen, Nhạc ngựa lá nhỏ…. Điều này
cho thấy ánh sáng có ảnh hướng lớn tới sinh trưởng của cây trồng dưới rạch.
Về cây Lim xanh: Được coi là cây mọc chậm, tốc độ thay đổi theo từng giai đoạn tuổi và vùng phân
bố. Tăng trưởng trung bình 10 năm đầu đạt 0,5-0,7cm/năm về đường kính và 0,5-0,7m/năm về chiều cao,
sau đó có thể mọc nhanh hơn (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên, 2000). Tuy nhiên trong khu vực nghiên cứu,
Lim xanh có tốc độ sinh trưởng khá nhanh. Tăng trưởng bình quân năm về đường kính đạt 1,34cm ở
nghiệm thức 1 và 0,87cm ở nghiệm thức 2. Tăng trưởng bình quân năm về chiều cao đạt 1,45 ở nghiệm
thức 1 và 0,98m ở nghiệm thức 2. Ở cả 2 nghiệm thức tốc tăng trưởng về đường kính và chiều cao đều cao
hơn mức trung bình mà tác giả Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên đưa ra.
4
Sinh trưởng của cây trồng sau 10 năm
Bảng 3. Sinh trưởng của cây trồng sau 10 năm tuổi trong mô hình làm giầu rừng
Tháng 11/2008
Nghiệm thức 1* Nghiệm thức 2**
TT Loài cây
D
(cm)
∆D
H
(vn)
∆Hvn TLS
D
(cm)
∆D
0,39
5,48
0,55
52
3 Chò chỉ 0
-
0
0
04 Vên vên 4,46
0,45 4,5
0,45
6 Muồng đen 15,71
1,57 13,5
1,35
70
13,5
1,35
13
1,35
50
7 Giáng hương 7,46
0,75 5,5
0,55
65-
0
010
Nhạc ngựa lá
nhỏ -
0
0
011 Nhạc ngựa
-
13 Trám trắng - Từ kết quả bảng trên cho thấy, sau 10 năm Lim xanh vẫn đứng ở tốp đầu về tỷ lệ sống, tốc độ tăng
trưởng đường kính và chiều cao, vượt trội so với nhiều loài cây được coi là có tốc độ sinh trưởng nhanh và
trung bình như: Xà cừ, Chiêu liêu, Dầu rái, Sao đen. Tỷ lệ sống đạt 75% ở nghiệm thức 1 và 53% ở nghiệm
thức 2. Tăng trưởng bình quân năm về đường kính và chiều cao ở 2 nghiệm thức đều bằng 1,25cm/năm và
1,35m/năm. Qua quan sát cho thấy hầu hết Lim xanh đã và đang tham gia vào tán rừng.
Sinh trưởng của Lim xanh trong mô hình rừng trồng thuần loài
Bảng 4. Sinh trưởng Lim xanh trồng thuần loài sau 3 năm tuổi tại Trạm thực nghiệm Lâm
nghiệp Tân Phú (Tân Hòa - Đồng Phú – Bình Phước)
Thời gian
trồng
Mật độ ban đầu
(cây/ha)
D
1.3
(cm) ∆D
1.3
(cm) Hvn(m) ∆Hvn(m) Tỷ lệ sống
(%)
2005 833 6,46 2,15 5,80 1,93 81,81
(Thời gian điều tra tháng 11/2008)
Kết quả bảng trên cho thấy, tỷ lệ sống của Lim xanh sau 3 năm đạt 81,81% điều này chứng tỏ cây
nghiệp, Hà Nội.
Phạm Văn Đẩu, 2001. Nghiên cứu các biện pháp làm giầu rừng bằng các loài cây gỗ lớn, gỗ quý
bản địa để bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm, tạo môi trường sinh thái ở khu vực, đồng thời nâng dần
năng suất và giá trị kinh tế của rừng ở tỉnh Bình Phước. Báo cáo khoa học, Phân viện Nghiên cứu Khoa học
Lâm nghiệp Nam Bộ.
Phạm Thế Dũng, 2005. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng cho các dòng Keo lai
được tuyển chọn trên đất phù sa cổ tại tỉnh Bình Phước làm nguyên liệu giấy.
PRIMARY APPRAISAL OF GROWTH OF ERYTHROPHLOEUM FORDII OLIV IN BINH PHUOC
PROVINCE
Pham Van Bon
South Vietnam Forest Science Sub-Institute
SUMMARY 6
Erythrophloeum fordii Oliv is a precious timber tree, which has been famous for many years. Its
natural distribution is from the Vietnam – China border to Quang Nam and Da Nang provinces.
Erythrophloeum fordii Oliv is also suitable for planting in Binh Phuoc province, both as natural forest
enrichment and as pure plantation. In forest enrichment planting the survival rate after 10 years is 53-75%,
and mean annual increment is 1,25cm of diameter and 1,35m of height. In pure plantations the survival rate
after three years is 81,81%, and mean annual increment is 2,15cm of diameter and 1,93m of height.
However, these are only primary results so further studies are required on many different soil types in region
in order to add this species to the list of major afforestation tree species Viet Nam’s Southeast region.
Key words: Growth, Erythrophloeum fordii Oliv, Binh Phuoc province