LIấN KT PHT HUY U TH
CA CC THNH PHN KINH T
TRONG PHT TRIN NGNH DT-MAY NNG
COOPERATING TO PROMOTE THE ADVANTAGES
OF ECONOMIC SECTORS IN THE DEVELOPMENT
OF DANANGS TEXTILE-GARMENT INDUSTRIES NINH TH THU THU
Trng i hc Kinh t, i hc Nng TểM TT
S ln mnh ca ngnh dt-may Nng cú úng gúp tớch cc ca tt c doanh nghip
thuc nhiu thnh phn kinh t. Tuy nhiờn tỡnh trng ph bin l cỏc doanh nghip u hot
ng c lp, khộp kớn m cha cú s phi hp v sn xut, kinh doanh tn dng v phỏt
huy th mnh ca mi thnh phn. Do ú rt cn s tỏc ng t phớa Nh nc, c quan
qun lý ngnh v s vn ng ca mi doanh nghip cỏc thnh phn kinh t trong ngnh
dt- may cú th liờn kt, hp tỏc vi nhau nhm to ra sc mnh tng th cho phỏt trin
ngnh v t hiu qu kinh t - xó hi cao nht.
ABSTRACT
The development of Danang's textile industries is attributed to rigorous growth of all
enterprises in various economic sectors. However, it is common that the enterprises operate
independently without coordination in production and business to exploit and promote the
advantage of each sector. Hence, the support from the government, related authorities and
the every enterprises efforts are needed to link all the economic sectors in textile-garment
industries to create a synergy for their development and highest socio-economic efficiency.
sản xuất
Lực lượng
lao động
Tỷ lệ
GT sản xuất
(Giá CĐ 1994)
Tỷ lệ
Đơn vị tính Cơ sở Người % Triệu đồng %
Toàn ngành 1 016 16 311 100 537 914 100
A/Ngành dệt
-Trung ương
-Địa phương
+Quốc doanh
+Ngoài quốc doanh
99
1
98
2
96
8.196
2.891
5.305
3.957
1.348
50,2
17,7
32,5
24,3
8,3
393 887
-
30,1
13,2
144 027
9 061
31 903
-
31 903
103 063
26,8
1,7
5,9
-
5,9
19,2
(Nguồn: Niên giám thống kê TP Đà Nẵng 2003)
Xét về số lượng, thành phần kinh tế tư nhân đang chiếm tỷ trọng áp đảo so với số
lượng rất ít các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng
nếu xét theo qui mô thì sự phát triển của thỔnh ph?n kinh tế tư nhân còn rất nhỏ bé, thể hiện ở
các chỉ tiêu: Lao động, nguồn vốn và giá trị sản xuất còn chiếm tỷ trọng không đáng kể so với
giá trị toàn ngành. Lao động thuộc thành phần tư nhân chỉ có 6 259 người, chiếm 38,4% lực
lượng lao động toàn ngành (trong đó dệt là 8,3%; may là 30,1%), còn về giá trị sản xuất chỉ
đóng góp 10,5% (dệt 4,6%, may là 5,9%).
Sù chênh lệch trong phát triển của các thành phần kinh tế một phần có nguyên nhân do
sự thiếu bình đẳng trong chính sách đối xử, doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn được ưu đãi và
bảo hộ nhiều hon so với doanh nghiệp tư nhân.
Chẳng hạn về nguồn vốn: doanh nghiệp nhà nước có vốn tự có từ 25-30%, vốn ngân
sách cấp 13-15%, vốn vay khoảng 60% nhưng với chính sách ưu đãi của nhà nước nên khả
năng vay vốn khá thuận lợi, do vậy có điều kiện để trang bị thêm cơ sở vật chất cải tiến trang
vậy.
- Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước chưa thực sự được phát huy: Các doanh
nghiệp nhà nước mới chỉ hoạt động để tồn tại cho bản thân mình, mà chưa thể hiện được chức
năng chủ đạo định hướng cho các thành phần kinh tế khác về các mặt:
+ Định hướng về sản xuất, kỹ thuật
+ Định hướng về sản phẩm, thời trang mẫu mốt
+ Định hướng về tiêu thụ: Nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin tiêu thụ
Qua dú cho thấy sự phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế chưa
thực sự bình đẳng, kinh tế tư nhân vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi, sản xuất mang tính tự phát,
biệt lập nên qui mô còn rất nhỏ bé. Kinh tế Nhà nước chưa phát huy được vai trò chủ đạo. Sự
liên kết gắn bó giữa các đơn vị để tạo ra động lực phát triển chung toàn ngành chưa có được,
nên khả năng tiềm tàng vốn có của các doanh nghiệp chưa thực sự được phát huy. Vì vậy để
tăng động lực phát triển cho tất cả các thành phần kinh tế trong ngành dệt- may Đà Nẵng, cần
phải tổ chức, xắp xếp lại hoạt động sản xuất của các đơn vị sao cho bảo đảm vai trò chủ đạo
của thành phần kinh tế quốc doanh và tăng cường sự liên kết, hợp tác để khai thác tốt hơn
năng lực, thế mạnh của mỗi thành phần kinh tế.
3. Phương hướng xắp xếp lại hoạt động sản xuất, nhằm mở rộng quan hệ liên kết
để phát huy có hiệu quả thế mạnh của các thành phần kinh tế
Khi tổ chức xắp xếp lại hoạt động sản xuất trong ngành cần đánh giá đúng điểm mạnh,
điểm yếu của mỗi thành phần kinh tế để khai thác tốt nhất những thế mạnh của họ.
+ Doanh nghiệp Nhà nước có thế mạnh vượt trội so với các doanh nghiệp thuộc thành
phần kinh tế tư nhân về các mặt sau:
- Máy móc thiết bị, công nghệ: Đây là những yếu tố có tính chất quyết định đến năng
suất, chất lượng và giá thành sản phẩm. Các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay được trang bị
nhiều loại máy móc hiện đại, kể cả những thiết bị chuyên dùng đắt tiền, hệ số đổi mới thiết bị
nhanh.
- Trình độ kỹ thuật trong sản xuất sản phẩm được cập nhật kịp thời hơn do được tiếp
xúc với các khách hàng lớn, mức độ chuẩn hoá sản phẩm cũng cao hơn, đã có sản phẩm đáp
ứng được những đòi hỏi khắt khe của thị thường xuất khẩu.
+ Chọn từ 2 đến 3 doanh nghiệp Nhà nước đủ mạnh làm nòng cốt ở các khâu: Sợi, dệt,
may. Đây là những doanh nghiệp đầu đàn giữ vai trò chủ đạo để thu hút các doanh nghiệp
thuộc các thành phần khác làm vệ tinh. Doanh nghiệp Nhà nước sẽ tác động, hướng dẫn về kỹ
thuật, mẫu mã, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác về đào tạo nhân lực, về vốn, về thị trường
để cùng phát triển hướng theo mục tiêu chung của ngành.
+ Mỗi doanh nghiệp cần chuyên môn hoá, làm chủ một vài công nghệ để tạo ra những
mặt hàng có chất lượng cao. Từ đó mở rộng sự liên kết hợp tác trong cung cấp nguyên liệu,
trong khâu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa các đơn vị để khai thác tối đa công suất của các
thiết bị hiện đại, thiết bị chuyên dùng. Muốn vậy cần điều chỉnh cơ cấu sản phẩm sản xuất của
các thành phần kinh tế như sau:
* Trong khâu dệt:
- Khu vực kinh tế quốc doanh tập trung sản xuất các sản phẩm đòi hỏi vốn đầu tư lớn,
hàm lượng chế biến và kỹ thuật cao như: Sợi các loại, vải chất lượng cao, sản phẩm dệt kim,
nhuộm hoàn tất và in hoa, thiết kế, tạo mẫu cho vải.
- Khu vực kinh tế dân doanh sản xuất các sản phẩm cần đến kỹ thuật thủ công và sự
khéo léo: Lụa tơ tằm, thảm len và làm vệ tinh sản xuất sợi, vải thô cung cấp cho doanh nghiệp
lớn hoàn thiện.
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cần phát huy ưu thế về kỹ thuật để sản xuất các
sản phẩm: Sợi chất lượng cao, vải chất lượng cao, sản phẩm dệt kim chất lượng cao, thiết kế
thời trang cho may, tạo mốt cho vải.
* Trong khâu may:
- Kinh tế quốc doanh tập trung sản xuất sản phẩm: Quần áo may sẵn có chất lượng và
giá trị gia tăng cao phục vụ xuất khẩu như: áo sơ mi, quần tây, áo jacket, comple, quần áo thời
trang cao cấp.
- Khu vực kinh tế dân doanh sản xuất các sản phẩm: Quần áo may sẵn phục
vụ thị trường trong nước và làm vệ tinh may quần áo xuất khẩu, thực hiện khâu cuối
nhằm hoàn thiện và nâng cao giá trị thẩm mỹ cho sản phẩm như thêu tay và thêu
máy
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Kêu gọi đầu tư hợp tác hoặc 100%
vốn nước ngoài để sản xuất nguyên phụ liệu may xuất khẩu, thiết kế mẫu và hợp tác