TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐINH THỊ HẠNH
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐINH THỊ HẠNH
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
1.2.
Hội nhập quốc tế và tác động của nó lên giá trị văn hóa truyền
thống.............................................................................................. 46
1.2.1. Hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay ....................................... 46
1.2.2. Tác động của hội nhập quốc tế đối với giá trị văn hóa tinh thần
truyền thống của Việt Nam ............................................................. 50
Chương 2. GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ................................................................... 56
2.1.
Thực trạng giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong
điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế và một số vấn đề đặt ra ........ 56
2.1.1. Thực trạng giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế .................................... 56
2.1.2. Một số vấn đề đặt ra đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn
hóa truyền thống trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế......... 69
2.2.
Một số giải pháp cơ bản trong việc giữ gìn và phát huy giá trị
văn hóa truyền thống dân tộc ......................................................... 72
2.2.1. Bảo tồn, làm giàu và lan toả giá trị văn hóa truyền thống dân tộc .. 72
2.2.2. Phòng, chống xu hướng thương mại hóa trong tổ chức các hoạt
động văn hóa truyền thống, gắn phát triển kinh tế với giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ................................................... 78
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, với tư duy đổi mới toàn diện về
kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh v.v, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã chủ trương đổi mới tư duy trên lĩnh vực văn hóa. Nghị quyết
Trung ương 5, khóa VIII (1998) về Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng định vai trò của văn hóa trong tiến trình lịch
sử dân tộc và tương lai đất nước là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục
tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, với mục đích làm
cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng
người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi
sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao
đẹp. Nghị quyết Trung ương 10, khóa IX tiếp tục khẳng định: Bảo đảm sự gắn
kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng
là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã
hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện
quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”.
Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn
hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân
tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào
đồng. Những giá trị văn hóa truyền thống được hun đúc qua hàng nghìn năm
lịch sử đã làm nên cốt cách, diện mạo và bản sắc văn hóa của dân tộc. Giá trị
văn hóa không phải cố định, bất biến mà là yếu tố năng động luôn biến đổi
theo dòng lịch sử. Khi bước sang một thời kỳ mới thì những giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc lại cần được thẩm định, chắt lọc, kế thừa, giữ gìn và
phát huy để trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.
2
Từ năm 1986, Việt Nam chủ động hội nhập với khu vực và thế giới, đã
làm thay đổi diện mạo nền kinh tế - xã hội đất nước. Nhờ tăng trưởng kinh tế
liên tục đạt ở mức độ cao mà đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được
cải thiện rõ rệt, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên. Kết quả
đó chứng tỏ con đường hội nhập của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Quá
trình hội nhập quốc tế đem lại cho nước ta những cơ hội lớn, song cũng đặt ra
nhiều thách thức không nhỏ. Một trong những thách thức đó là sự phai nhạt,
phá vỡ những giá trị văn hóa truyền thống vốn có từ lâu đời của dân tộc. Sự
phát triển của văn hóa chưa đồng bộ và tương xứng với phát triển kinh tế, nhiều
biểu hiện “thương mại hóa”, xu hướng ngoại vọng, lai căng, xa rời bản sắc,
truyền thống văn hóa của dân tộc chưa được ngăn chặn hữu hiệu. Thực tế cho
thấy không ít những sản phẩm văn hóa, những tư tưởng, lối sống ngoại lai đang
có nguy cơ làm băng hoại những giá trị làm nên tinh hoa, cốt cách và bản lĩnh
con người Việt Nam. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống đã bị lãng quên, xem
nhẹ, một số thuần phong mỹ tục bị xâm phạm, đã trở thành hiểm hoạ làm cản
trở bước đường đi tới hạnh phúc và phồn vinh của dân tộc ta.
Như vậy, vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để trong điều kiện của hội
nhập quốc tế chúng ta không đánh mất những giá trị văn hóa truyền thống của
dân tộc mà còn giữ gìn và phát huy những giá trị đó, biến chúng thành sức
mạnh đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới. Đây thực sự là vấn đề nan
những thành tựu văn hóa, khoa học hiện đại, vừa là sự kết tinh và nâng cao
lên một tầm cao mới những gì đẹp nhất trong truyền thống bốn ngàn năm của
tâm hồn Việt Nam, của văn hóa Việt Nam” [3, tr.62]. Theo đó, những giá trị
văn hóa truyền thống tốt đẹp là “Truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên
cường và mưu trí trong đấu tranh giành độc lập tự do, là tình thương giữa
người lao động, là đức tính cần cù, sáng tạo và tinh thần lạc quan yêu đời” [3,
tr.63]. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về “Xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” và “Luật di sản văn hóa”
là đỉnh cao của việc xây dựng đường lối và thể chế hóa đường lối văn hóa của
4
Đảng và Nhà nước ta. Như vậy, Đảng ta có cách nhìn biện chứng đối với việc
giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần kế thừa những gì tốt đẹp, có giá trị nhất của
văn hóa truyền thống dân tộc, kết tinh lại và nâng nó lên một tầm cao mới cho
phù hợp với việc xây dựng nền văn hóa mới để lan tỏa chứ không phải chỉ là
bảo tồn, phục cổ.
Hiện thực hóa quan điểm trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu văn
hóa tiếp cận từ các góc độ và trong các phạm vi khác nhau. Trong đó, cần kể
đến các công trình nghiên cứu thiên về lý luận văn hóa, bản sắc văn hoá như
Ngô Đức Thịnh, Hoàng Vinh (1999): Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây
dựng văn hóa ở nước ta. Nxb Văn hóa Thông tin; Trường Lưu (1999): Văn
hóa một số vấn đề lý luận. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Hồ Bá Thâm
(2003): Bản sắc văn hóa dân tộc. Nxb Văn hóa Thông tin v.v. Các đề tài
nghiên cứu cấp quốc gia như KX.06 “Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và
tiến bộ của xã hội” do Nguyễn Hồng Phong chủ nhiệm. Chương trình này tập
hợp nhiều chuyên đề văn hóa, di sản văn hóa và giá trị văn hóa dân tộc, ví dụ
như nhánh đề tài KX.06/16 “Chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” Tạp chí Triết học, số
1/1999; Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên, 2004) “Xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội; Dương Phú Hiệp (2009) “Quan niệm về mối quan hệ giữa bảo tồn và
phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại” Đề tài KX.03.14/06-10 TP.HCM - Biên Hòa; v.v. Đáng chú ý là công
trình nghiên cứu của Nguyễn Duy Bắc (chủ biên, 2009) “Sự biến đổi các giá
trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay”, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. Công trình này đã xây dựng được hệ
thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, biến đổi giá trị văn hóa.
Đồng thời đã chỉ ra được thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển
văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay; góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống đường lối, chính
6
sách về phát triển văn hóa và con người, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hình thành các giá trị văn hóa mới trong điều
kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Mai Thị Quý (2009) “Toàn
cầu hóa và vấn đề kế thừa một số giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay”, Nxb Khoa học Xã hội xuất phát từ
việc phân tích dưới góc độ triết học về thực chất của quá trình toàn cầu hóa để
chỉ ra sự tác động của nó đến giá trị truyền thống và sự cần thiết phải kế thừa
một số giá trị truyền thống của dân tộc. Tác giả luận văn đã kế thừa những kết
quả của các công trình để thực hiện yêu cầu về lý luận và thực tiễn của đề tài
nghiên cứu. Đề tài KX.03.14/06-10 “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập” là đề tài lý luận - thực tiễn,
nói cách khác, từ các quan điểm lý thuyết soi rọi vào thực tiễn văn hóa Việt
- Làm rõ thêm các khái niệm “văn hóa”, “giá trị”, “giá trị văn hóa
truyền thống”; xác định một số “giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu”, “giá
trị văn hóa tinh thần truyền thống” của dân tộc cần được giữ gìn, phát huy;
- Làm rõ sự tác động của hội nhập quốc tế đối với việc giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc;
- Phân tích thực trạng việc giữ gìn, phát huy những giá trị ấy trong điều
kiện Việt Nam hội nhập quốc tế và xác định một số vấn đề đặt ra trong quá
trình này;
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn và phát huy giá trị văn
hóa truyền thống trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số giá trị văn hóa
truyền thống của Việt Nam dưới góc độ triết học trong sự tác động của hội
nhập quốc tế;
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là giữ gìn và phát huy các giá
trị văn hóa tinh thần truyền thống trong hội nhập quốc tế của Việt Nam.
8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, bản sắc
văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống;
Luận văn kế thừa cách tiếp cận và phương pháp, kết quả nghiên cứu
của các công trình, đề tài liên quan đã được công bố.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp,
phương pháp luận chung nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử như: lịch sử và lôgic; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn
dịch; so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa... nhằm đạt mục đích và nhiệm vụ
mà luận văn đã đề ra.
nhau về văn hóa.
Ở phương Tây khái niệm “văn hóa” theo tiếng Latinh là “Cultura” với
nghĩa “trồng trọt”, “nuôi dưỡng”, “cư trú”, “luyện tập”, “lưu tâm”. Theo
nghĩa này, văn hóa được hiểu là quá trình làm nảy sinh, nuôi dưỡng, chăm sóc
các hiện tượng, quá trình hoạt động của con người, nhằm tạo nên các giá trị
vật chất và tinh thần của một cộng đồng người. Sự phát triển của văn hóa luôn
gắn với sự phát triển của các khoa học về con người nên cách hiểu “văn hóa”
ngày càng gắn với những hoạt động của nó. E.B.Taylor, trong công trình
“Primitive Culture” (1871) lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm văn hóa: toàn bộ
những tri thức, những tín ngưỡng, những nghệ thuật, những giá trị, những luật
lệ, phong tục và tất cả những năng lực và tập quán khác mà con người với tư
cách thành viên của xã hội nắm bắt được. Nhà nhân học Roy d’Andrade
khuyến nghị không nên lầm lẫn khái niệm văn hóa với tổng số những tri thức
được một nhóm người nào đó chia sẻ. Bởi nếu hiểu như vậy thì văn hóa là sự
tác động tới cách mà con người suy nghĩ và hành động và nếu như vậy, văn
hóa có những chức năng như: Chức năng “biểu tượng”: văn hóa chuyển tải
10
những tri thức và tín ngưỡng về thế giới quanh ta cũng như cách thế giới ấy
vận hành và biến đổi; Chức năng xây dựng: văn hóa làm tồn tại những thể chế
như hôn nhân, tiền bạc, luật pháp, ngôn ngữ mà con người chấp nhận hoặc
không chấp nhận những hệ quả của chúng; Chức năng hướng dẫn: bằng cách
nhập tâm, văn hóa thúc đẩy con người tuân theo những chuẩn mực hành vi.
Chức năng gợi ý (évocative): đối mặt với các sự kiện, văn hóa làm cho con
người cảm nhận tình cảm, thể hiện thái độ, do đó, văn hóa đều mang xúc cảm,
có liên hệ với văn hóa. Định nghĩa rất rộng này về văn hóa và về tất cả những
gì được gán cho nó dẫn đến chỗ làm cho văn hóa trở thành một hiện thực tinh
thần hơn là vật chất. Tuy nhiên, đó không phải là những “nhận thức” đơn
cải, biến đổi và “văn hóa” là biến cải, biến đổi, bồi đắp cho đẹp ra.
Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, văn hóa là đặc trưng
vốn có của con người và xã hội loài người. Nếu hoạt động của con vật là hoạt
động bản năng, thì hoạt động của con người là hoạt động tự giác, hoạt động
phục vụ hiểu biết, khám phá và sáng tạo. Trong tác phẩm “Phê phán cương
lĩnh Gôta”, C.Mác vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với sức sáng tạo
và năng lực của con người, sự sáng tạo đó bao giờ cũng bắt đầu từ lao động.
Lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người. Nếu như loài vật chỉ
kiếm sống bằng cách lợi dụng các vật có sẵn trong tự nhiên và nhờ đó xác lập
bản chất của chúng, thì ngược lại qua lao động các quan hệ của con người
được xác lập biến đổi, kể cả quan hệ với tự nhiên. Cái làm nên bản chất
người, tạo nên sự khác biệt giữa con người với bất kì giống loài nào của tự
nhiên, chính là “hoạt động sống” của con người. Đó là hoạt động sản xuất và
tái sản xuất ra bản thân con người với tư cách là một thực thể xã hội. Cũng
chính trong quá trình lao động, văn hóa đã in dấu của mình trong đó, thẩm
thấu trong từng yếu tố của lao động, làm cho lao động, lúc ban đầu như là cái
“bản năng”, đã trở thành “văn hóa lao động” của con người.
Như vậy, C.Mác đã đề cập tới cội nguồn sâu xa của văn hóa, giải quyết
mỗi quan hệ giữa khách thể và chủ thể văn hóa, coi văn hóa là sự “thăng hoa”
12
của quá trình sản xuất vật chất, là cơ sở để con người tự khẳng định bản thân
mình với tư cách là chủ thể có ý nghĩa. Chính ý thức đã làm cho con người trở
thành chủ nhân đầy trách nhiệm trước tự nhiên, trở thành một thực thể xã hội
có cảm xúc, có tình cảm cao quý. Trong toàn bộ các tác phẩm kinh điển của
mình C.Mác không để lại một tác phẩm nào với tư cách là sự trình bày hệ
thống các quan điểm của mình về văn hóa. Văn hoá không được C.Mác đề
cập đến như một lĩnh vực chuyên biệt, độc lập. Trong triết học Mác bản chất
nghĩa học vấn, học thức.
Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là tất cả những gì do con
người sáng tạo ra. Trong khi nhiều nhà khoa học trên thế giới còn đang bàn
cãi, tranh luận về khái niệm văn hóa thì ở phần cuối “Nhật ký trong tù” (19421943), Hồ Chí Minh đã nêu lên định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn
cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
mọi phương thức sinh hoạt và những biểu hiện của nó mà loài người đã sản
sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
[34, tr.431].
Hồ Chí Minh xuất phát từ phạm trù “sinh tồn” để kiến giải phạm trù
“văn hóa” là kết quả tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt của loài người,
đồng thời là động lực để loài người thích ứng với những nhu cầu cuộc sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn. Đây là một quan niệm về văn hóa dễ hiểu, dễ gần đời
sống hơn, đó là coi văn hóa gắn với các phương thức hoạt động và sinh hoạt
của con người, giống với cách hiểu văn hóa của Đào Duy Anh. Từ sau Cách
mạng Tháng Tám, văn hóa được Hồ Chí Minh xác định là đời sống tinh thần,
thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội.
Từ cách tiếp cận trên, theo hướng nghiên cứu của mình chúng tôi đã sử
dụng định nghĩa về văn hóa như sau “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt
14
động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình” [56, tr.20]. Với định nghĩa này, văn hóa không phải là lĩnh
vực riêng biệt, mà là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khoá của sự phát triển.
về sự vật hay chuẩn mực chủ quan về sự vật mà là những hiện tượng xã hội
hiện thực có ý nghĩa hiện thực đối với con người. Song, giá trị bao giờ cũng
được xác định trong mối quan hệ giữa một bên là khách thể - bản thân sự vật,
với những thuộc tính khách quan của nó và một bên là chủ thể - con người với
sự cảm nhận, đánh giá về khách thể.
Xét về mặt khách thể, giá trị là khách quan bởi sự vật, hiện tượng mang
trong chính mình những thuộc tính có thể thoả mãn những nhu cầu hết sức đa
dạng và không ngừng tăng của con người, mang lại lợi ích cho con người,
được con người cảm nhận và đánh giá. Giá trị không phải là chủ quan mà là
những chuẩn mực chung trong đời sống của cộng đồng, là sản phẩm của sự
đánh giá và xác nhận của xã hội, được thực tiễn kiểm nghiệm, được lịch sử
xác nhận là phù hợp với yêu cầu tồn tại và phát triển của mỗi xã hội. Cần
nhấn mạnh rằng, “giá trị là ý nghĩa của sự vật, hiện tượng chứ không phải bản
thân sự vật hiện tượng và chỉ có thể là sự vật, hiện tượng mang giá trị mà
thôi” [53, tr.75]. “Phải phân biệt giá trị với quan hệ, giá trị với hoạt động, giá
trị với các sự vật của hiện thực để khẳng định rõ giá trị chỉ là những thuộc
tính chính diện (mặt tích cực trong ý nghĩa) chứ không phải bất kỳ thuộc tính
nào” [24, tr.374].
Xét về mặt chủ thể, giá trị phải là sự cảm nhận, đánh giá của con người
đối với khách thể. Việc xác định giá trị phụ thuộc nhiều yếu tố, tuỳ vào mỗi
lúc, mỗi nơi, mỗi chủ thể, nên không có một chuẩn chung để đong, đo giá trị
cho mọi đối tượng. Một sự vật, hiện tượng đối với chủ thể này là có giá trị,
đối với chủ thể khác lại không có ý nghĩa gì cả, thậm chí cùng một chủ thể ở
thời điểm này thì có giá trị nhưng ở thời điểm khác nó lại là phản giá trị. Theo
đó giá trị là “những cái gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói cách khác đó là
những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng
16
diễn đạt không đồng nhất, song qua các khái niệm, quan niệm về giá trị nêu
trên, chúng ta có thể rút ra một số điểm chung sau:
Thứ nhất, giá trị là những cái có thể thoả mãn những nhu cầu tích cực
của con người và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Khẳng định điều
này cũng có nghĩa là đã phân biệt với những cái không mang giá trị, “phản giá
trị”, “vô giá trị”, đi ngược lại xu hướng phát triển của lịch sử, ngăn cản sự tiến
bộ của xã hội. Giá trị là cơ sở, chuẩn mực để dựa vào đó con người xác định
mục đích, phương hướng hoạt động, là cơ sở để đánh giá thái độ, hành vi
đúng sai, nên làm hay không làm. “Nói đến giá trị là muốn khẳng định mặt
tích cực, mặt chính diện, nghĩa là bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với
cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con
người hành động và nỗ lực vươn tới” [6, tr.16].
Thứ hai, giá trị có tính lịch sử khách quan, nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại
hay mất đi của một giá trị cụ thể nào đó không phải do ý thức của con người,
mà do yêu cầu của thời đại lịch sử. Điều này cho thấy, giá trị hay một hệ giá
trị không phái là cái “nhất thành bất biến” trái lại nó luôn biến đổi, chuyển đổi
theo lịch sử và do yêu cầu của thực tiễn.
Thứ ba, giá trị bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố thuộc về chủ thể qua
đó nó thể hiện sự lựa chọn, đánh giá và xác nhận của chủ thể.
Thứ tư, giá trị còn được xác định trong mối quan hệ thực tiễn với con
người. Giá trị phải được đánh giá và kiểm nghiệm bởi thực tiễn. Tiêu chuẩn
chân lý của giá trị phải là thực tiễn, do đó một sự vật hiện tượng có giá trị hay
không không chỉ căn cứ vào nhu cầu, lợi ích của chủ thể mà còn phải căn cứ
vào thực tiễn, vào hiệu quả xã hội của những hoạt động mà chủ thể nhằm theo
đuổi giá trị ấy.
Thứ năm, giá trị khi đã được xác nhận sẽ trở thành động lực và là
khuôn mẫu cho mọi hoạt động của con người, vì mỗi cá nhân để hoàn thiện
18
19