Luận văn Ảnh Hưởng Của Tư Tưởng Nho Giáo Trong Tang Thương Ngẫu Lục Của Phạm Đình Hổ Và Nguyễn Án - Pdf 61

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

VŨ THỊ THÙY

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
TRONG TANG THƯƠNG NGẪU LỤC
CỦA PHẠM ĐÌNH HỔ VÀ NGUYỄN ÁN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

VŨ THỊ THÙY

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
TRONG TANG THƯƠNG NGẪU LỤC
CỦA PHẠM ĐÌNH HỔ VÀ NGUYỄN ÁN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ TÍNH

HÀ NỘI - 2018

3. Mục đích nghiên cứu............................................................................... 5
4. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 5
5. Phạm vi nghiên cứu................................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 5
7. Đóng góp của khóa luận.......................................................................... 5
8. Bố cục của khóa luận .............................................................................. 6
NỘI DUNG ..................................................................................................... 7
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NHO
GIÁO VÀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TANG THƯƠNG NGẪU LỤC .............. 7
1.1. Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo ảnh hưởng đến văn học Việt Nam . 7
1.2. Khái quát về tác giả, tác phẩm Tang thương ngẫu lục ....................... 10
1.2.1. Tác giả “Tang thương ngẫu lục” ................................................. 10
1.2.2. Tác phẩm “Tang thương ngẫu lục” ............................................. 14
Chương 2. TANG THƯƠNG NGẪU LỤC - TÁC PHẨM CHỊU ẢNH
HƯỞNG SÂU SẮC TƯ TƯỞNG NHO GIÁO ............................................ 19
2.1. Những tấm gương kẻ sĩ trị quốc, bình thiên hạ .................................. 19
2.2. Bức tranh tả thực về cuộc sống xã hội thời Lê mạt đảo lộn cương
thường, đạo lý ............................................................................................ 25
2.2.1. Cuộc sống xa hoa, lũng đoạn trong phủ chúa .............................. 25
2.2.2. Cuộc sống bi hài của dân chúng................................................... 28
2.2.3. Những chuyện kì quái - biểu hiện của sự biến loạn xã hội .......... 32
KẾT LUẬN ................................................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 44


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tang thương ngẫu lục là những câu chuyện ghi chép tình cờ trong cuộc bể
dâu. Tác phẩm thuộc kiểu “sách ngoài”, chủ yếu ghi chép những chuyện tai
nghe mắt thấy trong xã hội đương thời. Theo Trúc Khê, “Vì nghĩ là bộ sách

Cuối cùng đạo đức xã hội sa sút từ già đến trẻ, từ dân thường đến quan lại…
Thu vào cõi mắt tang thương là cuộc sống hiện thực bị đảo lộn, giá trị
văn hóa, phong tục lễ nghĩa bị xuyên tac, nhân tình thế thái bị suy đồi…
Kéo theo sự đảo lộn đó là sự suy thoái về về các lĩnh vực khác trong
đời sống.
Dưới thời Lê, Nho giáo rất phát triển, các vua rất sùng đạo Nho và dùng
đường lối này làm tư tưởng chính thống để cai trị quốc gia. Tuy nhiên, Nho
giáo đến thế kỷ XVI thì bắt đầu suy thoái và mất dần ảnh hưởng của nó. Dưới
thời Lê mạt - Nguyễn sơ Nho giáo lại có ảnh hưởng lớn đến văn học. Tang
thương ngẫu lục là tác phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo.
Việc tìm hiểu Tang thương ngẫu lục sẽ giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng Nho
giáo trong văn học và hiểu hơn về thế kỷ mà sau này chúng ta thường bắt gặp
khá nhiều trong văn học hiện đại.
Với tất cả những lý do trên đây khuyến khích tôi lựa chọn đề tài: “Ảnh
hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ
và Nguyễn Án” làm vấn đề nghiên cứu cho khóa luận của mình”.
2. Lịch sử vấn đề
Tuy không được chú ý nhiều, nhưng tác phẩm Tang thương ngẫu lục
cũng đã có một số nhà nghiên cứu chú ý quan tâm. Sau đây tác giả khóa luận
xin trích một số nhận xét tiêu biểu như sau:
Theo Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm khen ngợi rằng:
Tang thương ngẫu lục cùng với Vũ trung tùy bút đều là những tài liệu quý

2


dùng để khảo cứu về lịch sử, địa lý, điển lễ, phong tục ở cuối đời Lê
[tr329-330].
Bài tựa của Phùng Dực Bằng Sô in ở đầu tập Tang thương ngẫu lục cho
biết: “Bởi những cuộc tang thương, khiến cho người ta có cảm khái tang

Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (Nhà
xuất bản Đại học Quốc Gia, Hà Nội) cho rằng: “Tang thương ngẫu lục không
thấy xếp vào đâu cả. Theo chúng tôi chính là tạp ký” [18, tr.273].
Trong Từ điển bách khoa toàn thư (bản điện tử) có nhận xét về tác phẩm
như sau: “Cuốn Tang thương ngẫu lục viết chung với Phạm Đình Hổ là một
tập ký sự như Vũ trung tùy bút, kể chuyện đời, mắt thấy tai nghe nhưng hoang
đường, gạt phần mê tín dị đoan tác phẩm cho biết nhiều chuyện về các nhân
vật tiếng tăm trong nước: Vua chúa, đại thần các vị trạng nguyên, tiến sĩ, toàn
những chuyện lý thú, giai thoại về việc riêng tư, không ghi hành trạng”.
Khi giới thiệu tác phẩm Tang thương ngẫu lục Trương Chính viết: “Sách
Tang thương ngẫu lục có tính chất ký sự hơn tiểu thuyết” theo [19, tr.66].
Vẫn tác giả Trương Chính trong bài viết nhận định: “Có điều tập ký sự
này lại giàu chất hoang đường” theo [19, tr.60].
Qua những tư liệu nhận định trên, các nhà nghiên cứu đã phản ánh
những vấn đề phong phú trong Tang thương ngẫu lục và khẳng định vai trò
của tác phẩm trong nền văn học trung đại nói riêng và nền văn học Việt Nam
nói chung. Họ đã gợi mở những nội dung phản ánh trong Tang thương ngẫu
lục như: các tác giả đã ghi chép lại những giai thoại về những nhân vật lịch
sử, những danh nhân có công lao lớn đối với dân tộc, những tấm gương kẻ sĩ
trị quốc, bình thiên hạ, bức tranh tả thực về cuộc sống xã hội thời Lê mạt với
đầy đủ những chuyện bi hài, kì quái cho đến sự xa hoa trong phủ chúa…Đặc
biệt đây là tác phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo. Với tất cả
những nhận xét, đánh giá trên tác giả khóa luận xin trân trọng tiếp thu những
ý kiến đóng góp đó để bổ sung hoàn thiện đề tài trong quá trình nghiên cứu.

4


3. Mục đích nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong Tang

Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án. Đồng thời giúp bạn đọc có cái nhìn thấu đáo
hơn khi đánh giá tác phẩm, hiểu thêm về Nho giáo, giúp ích cho công việc
giảng dạy, cũng như nghiên cứu sau này.
8. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
khóa luận gồm 2 chương như sau:
- Chương 1. Khái quát về những tư tưởng cơ bản của Nho giáo và tác
giả, tác phẩm Tang thương ngẫu lục.
- Chương 2. Tang thương ngẫu lục - Tác phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc
của tư tưởng Nho giáo.

6


NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO
VÀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TANG THƯƠNG NGẪU LỤC
1.1. Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo ảnh hưởng đến văn học Việt Nam
Nho giáo là học thuyết tiêu biểu của triết học Trung Quốc cổ trung đại.
Nho giáo do Khổng Tử sáng lập, xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ I TCN, dưới
thời Xuân Thu. Những tư tưởng của Nho giáo được thể hiện trong hai bộ sách
kinh điển: Tứ thư và Ngũ kinh. Tứ thư có: Trung dung, Đại học, Luận ngữ,
Mạnh Tử. Ngũ kinh có: thi, thư, lễ, dịch, xuân thu. Hệ thống kinh điển đó hầu
như viết về chính trị, xã hội, ít viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu
hướng biện luận về xã hội, về chính trị đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của
Nho giáo.
Khổng Tử và các học trò của ông đã thấy được sức mạnh và vai trò to
lớn của đạo đức đối với xã hội. Theo Khổng Tử: “Đạo là năm mối quan hệ xã
hội cơ bản của con người được gọi là nhân luân”, Mạnh Tử gọi là ngũ luân:

học tập mở rộng nên có thêm nhiều nho gia, ẩn sĩ như: Phạm Ngũ Lão,
Nguyễn Trãi...Mãi tới sau này tới đầu thế kỉ XVIII, một số nhà thơ nữ mới bắt
đầu xuất hiện, điển hình là: Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan.
Không những ảnh hưởng đến đối tượng sáng tác mà Nho giáo còn ảnh
hưởng đến nội dung của các tác phẩm văn học. Trước hết, ta có thể nhận thấy
rằng các tác phẩm văn học ảnh hưởng rất nhiều bởi Tứ thư - Ngũ kinh, học tập
rất nhiều điển tích, điển cố...để làm phong phú và sâu sắc hơn cho nội dung, ý
nghĩa tác phẩm. Ví dụ như Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn “Xưa nhà Thương
đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời
đô...hay Truyện Kiều của Nguyễn Du sử dụng điển cố “quả mai ba bảy” lấy ý
từ Kinh thi trong câu thơ: “Quả mai ba bảy đương vừa, / Đào non sớm liệu xe
tơ kịp thời.” để chỉ việc làm đám cưới nên vợ nên chồng.

8


Không chỉ vậy văn học còn tiếp thu và đề cao chữ “Nhân” trong Nho
giáo, biến nó thành một trong những đề tài sáng tác chủ đạo trong thi ca, tiểu
thuyết, truyện. Nhân tức là tình người, là chữ hiếu, là tình yêu thủy chung son
sắt: ta đã từng say mê chữ hiếu của một Thúy Kiều bán mình chuộc cha, một
Kim Trọng sắt son lời thề trong thi phẩm Truyện Kiều hay một tấm lòng đồng
cảm với nàng Tiểu Thanh trong Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du và thổn
thức cho nàng Vũ Nương bi kịch trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.
Nhân cũng có nghĩa là nhân dân, là con người. Nguyễn Trãi trong Bình Ngô
đại cáo cũng đã từng đề cao chữ nhân trong đạo trị nước: “Việc nhân nghĩa
cốt ở yên dân”.
Tiếp theo, văn học trung đại còn thể hiện sự bất bình đẳng mà Nho giáo
đã khẳng định “trọng nam khinh nữ”. Thân phận người phụ nữ trong xã hội
xưa bị coi rẻ như cánh bèo lênh đênh trên sóng nước: nhân vật Thị Kính (vở
chèo Quan Âm Thị Kính) hay Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương). Đồng thời

phủ Sơn Tây và được thăng chức Hoằng Tín đại phu Thái bộc Tự Khanh. Mẹ
Phạm Đình Hổ là Phạm Thị Xuyến - cháu nội của bảng nhãn Phạm Quang
Trạch, người làng Đông Ngạc.
Phạm Đình Hổ sớm mồ côi cha, 9 tuổi ông đã đọc Hán tự, 12 tuổi cha
mất việc học hành trở nên chểnh mảng. Tuy học và đọc rất nhiều sách nhưng
ông chỉ đỗ đến sinh đồ (tức đỗ tú tài) vào khoảng cuối đời Chiêu Thống.
Găp buổi loạn lạc, vua Lê Chiêu Thống cho người chạy sang cầu cứu
nhà Thanh, rồi triều đình Lê - Trịnh sụp đổ, nhà Tây Sơn lên cầm quyền .
Suốt thời gian này Phạm Đình Hổ sống đời hàn nho, dạy học ở quê.
Đến khi Gia Long lên ngôi, cho khôi phục việc học hành thi cử, ông có đi
thi Hương 3 lần nhưng đều không đỗ. Hồi ấy ông đang dạy học ở phường Thái
Cực, huyện Thọ Xương trong thành Thăng Long. Hàng ngày rèn luyện học trò
và biên soạn sách. Ở đây ông đã kết bạn thơ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Năm Canh Thìn (1820), có chỉ triệu ông và Phan Huy Chú vào Huế đợi
mệnh cất dùng, nhưng vì ốm ông không vào được.

10


Năm Tân Tỵ (1821) vua Minh Mạng ra Bắc. Khi ấy Phạm Đình Hổ ở
tuổi 53, ông được vua mời đến hỏi về học vấn, tình hình thi cử và nhân tài của
đất Bắc. Vua lại khuyên hễ có sách tiền triều, sách trước thuật thì nên đem
tiến trình. Ông bèn dâng lên nhà vua những sách do mình biên soạn. Do trình
độ học vấn uyên bác nên ông được triệu vào Huế làm Hành tẩu viện Hàn lâm,
được ít lâu xin thì ông xin từ chức.
Năm Minh Mạng thứ 7 (1926), vua lại triệu ông ra làm quan thừa chỉ
Viện Hàn Lâm. Nhà vua đã có lời khen với Phạm Đình Hổ rằng: “Văn học
vượt trội, tính tình ngay thẳng không xu phụ quyền trọng”. Sau hơn một tháng
thăng tiếp lên chức Tế Tửu Quốc Tử Giám. Năm sau thì xin nghỉ bệnh rồi từ
chức luôn. Sau ông lại vào sung chức, được thăng Thị giảng học sĩ (đây là

Nguyễn Án sinh năm 1770 tự Thanh Ngọc, hiệu Kính Phủ, cũng có hiệu
Ngu Hồ, có vài tài liệu ghi là Ngu Hồ Khách và Giang Bắc Cối. Là một danh
sĩ sống dưới cuối thời Lê mạt đầu thời Nguyễn sơ, dưới triều vua Gia Long.
Quê gốc làng Viêm Điềm sau rời sang Du Lâm huyện Đông Ngàn, phủ Từ
Sơn, thị trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh).
Nguyễn Án sống vào thời kì biến động nhất của lịch sử dân tộc và cũng
được chứng kiến phần nào tình hình đất nước ổn định dưới triều Nguyễn.
Song có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất của ông là tình trạng rối ren cuối thời Lê, chỉ
trong vòng chưa đầy hai mươi năm mà đất nước đổi triều đại tới ba lần.
Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng truyền thống. Ông cố là tiến
sĩ Nguyễn Kham, ông nội là tiến sĩ Nguyễn Ý, thân phụ là Nguyễn Chí Hoàn.
Ngoài ra bà con thúc bá đều xuất thân đại khoa từ hậu Lê.
Nguyễn Án là người thông minh, hiếu học, kiến thức sâu rộng, hiểu biết
nhiều hay đi đây đó, từng trải nhiều và là người chứng kiến nhiều đổi thay của
đất nước. Lớn lên trong thời đại ly loạn, việc học hành, thi cử lỡ dở. Ông đã
sống gần như ẩn dật ở đất Thăng Long, trú ngụ trên mảnh đất của người khác
và kiếm sống vất vả bằng nghề dạy học, làm thuốc, tìm niềm an ủi ở thiên
nhiên và những người bạn văn chương.

12


Rồi triều Tây Sơn suy vong, nhà Nguyễn lên ngôi. Năm Gia Long thứ 4
(1805) lúc đã 35 tuổi, do được tiến cử, ông được bổ làm chức tri huyện Phù
Dung (nay là huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
Năm Ất Hợi (1815) ông mất sớm tại nhiệm sở lúc vừa tròn 45 tuổi.
Về sáng tác văn ông có hai tác phẩm là Phong lâm minh lãi thi tập và
Tang thương ngẫu lục (viết chung với Phạm Đình Hổ).
Thơ chữ Hán của Nguyễn Án không có gì đặc sắc nhưng tập ký viết
chung với Phạm Đình Hổ gồm những thiên ký sự chân thực sinh động. Bằng

thương sở dĩ có là vì thế đó. Và theo Trúc Khê, cũng vì chép nhiều chuyện
biến thiên của thời ấy (cuối Lê) cho nên có cái tên sách là Tang thương ngẫu
lục, nghĩa là những câu chuyện ghi chép tình cờ trong cuộc bể dâu.
Ban đầu Tang thương ngẫu lục chỉ có bản viết tay trong một thời gian
gần trăm năm. Đến năm Bính Thân (1896), niên hiệu Thành Thái thứ 8, Tiến
sĩ Gia Xuyên Đỗ Văn Tân đang là Tổng đốc Hải Dương, quyên tiền khắc ván,
từ đó mới có bản in.
Năm 1943, nhà xuất bản Tân Dân cho in Tang thương ngẫu lục bản tiếng
Việt do nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch.
Trong lời tựa I ở đầu tác phẩm Phùng Sực Bằng Sô có ghi như sau: “Từ
Lý, Trần, Lê, Trịnh tới nay trên dưới mấy trăm năm, có những điều quốc sử
chưa ghi, dã sử chưa ghi chép, hai ông đều thu cả vào cõi mắt tang thương mà
quên đi. Thì phỏng những chuyện ấy được mấy lâu mà mai một đi mất. May
mà lấy ngòi bút tang thương mà ghi chép, nên nó còn là cánh bè trở bến mê,
ngọn đèn soi nhà tối, đặt tên Tang thương ngẫu lục, ý nghĩa có thể nhận biết
được vậy” [1, tr.13].
Tang thương ngẫu lục là tập ký mang nặng tính chất truyền kỳ. Trừ một
số ít truyện nói về các đời trước, còn đa phần đều viết về thời Lê mạt. Sách
được chia làm hai quyển: quyển Thượng có 40 bài, quyển Hạ có 49 bài
(không kể thơ đề sau của người khác). Có một số bài ghi mỗi tên tác giả. Căn

14


cứ theo bản in năm 2000 do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin in lại theo bản
của nhà xuất bản Tân Dân (1943) thì:
Ở quyển Thượng có 13 bài và quyển Hạ có 19 bài đề tên Kính Phủ, tức
Nguyễn Án.
Ở quyển Thượng có 10 bài và ở quyển Hạ có 23 bài đề tên Tùng Niên,
tức Phạm Đình Hổ.

thắng vang dội của Quang Trung Nguyễn Huệ. Thái độ của nhà thơ giàu tình
cảm rất phức tạp nhiều hướng, ở đây không bàn đến. Duy chỉ có cái mà
Nguyễn Du nói trên cũng là cảm thán mà Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ chiêm
nghiệm, tuy ứng xử khác nhau nhưng bên trong máu thịt họ lúc nào cũng
chung một niềm hối tiếc. Với Tang thương ngẫu lục ta thấy được tâm huyết
của các tác giả, xuất phát từ ý thức ngợi ca, tôn vinh văn hóa dân tộc, những
giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của đất nước “ngàn năm văn hiến”. Hiện
thực đương thời đang trong giai đoạn suy sụp của xã hội phong kiến, suy
thoái các giá trị đạo đức, văn hóa, triều đại mất hết kỷ cương, luân thường đạo
lý bị đảo ngược, phủ chúa trở thành nơi làm hề với đủ mặt chân dung…
không thể nào gột sạch được trong tâm trí của họ. “Một phen thay đổi sơn
hà”. Cái cũ cần phải đổi nhưng cái mới sẽ ra sao? Phạm Đình Hổ và Nguyễn
Án viết Tang thương ngẫu lục là ghi lại bức tranh tả thực về cuộc sống xã hội
thời Lê mạt đầy náo loạn, rối ren, phức tạp. Điển hình của nó là cuộc sống xa
hoa, vương giả trong phủ chúa. Bên cạnh đó, trong Tang thương ngẫu lục
cũng ghi lại những mẩu chuyện về các nhân vật lịch sử được lưu truyền trong
dân gian.
Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án không phân
loại, thể hiện một phong thái tự do, không gò bó, đọc thấy thú vị mặc dù về
nội dung cũng chừng ấy phạm vi. Nó đánh dấu quá trình chuyển hóa từ sử
sang văn, dần dần vứt bỏ sự phân loại về chuyện người, chuyện lạ, mồ mả,
phong tục, học hành.
Tang thương ngẫu lục gồm 90 thiên và thơ đề sau tập truyện được Phạm
Đình Hổ và Nguyễn Án viết bằng chữ Hán.

16


Gọi là “ngẫu lục” cả hai cùng viết nhưng ai viết thiên nào ghi tên vào
thiên ấy. Đây là tác phẩm viết về một xã hội đang phơi bày những mặt xấu xa

không buông xuôi như nhà nho cuối mùa Phạm Văn Tâm, nhưng đọc Tang
thương ngẫu lục vẫn trào lên một niềm thương cảm và xiết bao trân trọng tấm
lòng người đã ghi lại những gì cho đời sau soi vào đó để thấy sự thịnh suy của
một thời đại đã qua.
Qua việc tìm hiểu và phân tích những tư tưởng cơ bản của Nho giáo,
chúng ta lại một lần nữa đi sâu hơn về khía cạnh này, hiểu rõ hơn sự ảnh
hưởng của nó đến văn học Việt Nam mà cụ thể là văn học Việt Nam trung
đại. Đặc biệt, việc tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của hai nhà văn đáng kính
Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án sẽ giúp ta có thêm nguồn tri thức phong phú về
các tác giả đương thời và vị trí của họ trong văn học thời Lê mạt – Nguyễn sơ.
Đồng thời, tác phẩm Tang thương ngẫu lục là sự chứa đựng tâm huyết lớn của
Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án. Qua mỗi thiên truyện hiện lên chân dung của
các tác giả với phong vị buồn luôn trăn trở, nghĩ suy với cuộc đời, với con
người nhân tình thế thái. Đồng thời, qua tác phẩm người đọc còn thấy được
tình cảm sâu nặng của người cầm bút với các giá trị văn hóa, tâm sự trước
nhân tình thế thái ở nước ta những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
Tác phẩm không chỉ mang đến những giá trị văn học, sử học mà còn mang lại
nhiều giá trị về đời sống xã hội.

18


Chương 2
TANG THƯƠNG NGẪU LỤC TÁC PHẨM CHỊU ẢNH HƯỞNG SÂU SẮC TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
2.1. Những tấm gương kẻ sĩ trị quốc, bình thiên hạ
Trong xã hội thời xưa, kẻ sĩ được xếp vào hàng đầu, không những về địa
vị ưu tiên - “nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương” mà nhất là về vai trò quan
trọng trong xã hội. Yếu tố quan trọng của vai trò này không phải là tài cán quân
sự, tổ chức kinh tế hay xã hội… mà là nêu gương mẫu cho quần chúng.
Kẻ sĩ là người không chịu khuất phục. Không những không chịu khuất

thịnh trị cho thiên hạ.
Tang thương ngẫu lục của Phạm đình Hổ và Nguyễn Án là tác phẩm đã
thể hiện rõ điều đó. Nội dung Tang thương ngẫu lục rất đa dạng phong phú.
Nổi bật nhất là Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án ghi chép những giai thoại về
con người lịch sử, những tấm gương kẻ sĩ, những danh nhân văn hóa với ý
thức tự hào dân tộc, đề cao những người góp công trạng trong việc giữ gìn và
xây đắp, tô điểm cho nước non xứ sở.
Theo khảo sát sơ bộ bước đầu, chúng tôi đã thống kê được 45/90 thiên
truyện viết về con người lịch sử và danh nhân văn hóa. Đó là những con
người với tất cả những nhu cầu và biểu hiện đời sống thường nhật cùng với
những phẩm chất danh nhân văn hóa mà chúng ta đáng tự hào và trân trọng.
Trước hết là những thiên truyện viết về những nhân vật lịch sử như: Ông
Nguyễn Duy Thì, Ông Nguyễn Văn Giai, Ông Nguyễn Bá Dương, Ông Lê
Thời Hiếu, Ông Lê Anh Tuấn, Ông Bùi Thế Vinh, Ông Nguyễn Đăng Hoàn,
Ông Đăng Cảo, Ông Lê Hữu Kiều… Đó là tầng lớp trí thức, quan lại, vua
chúa. Đọc về họ, ta thấy các tác giả tập trung vào những điểm khác thường
của nhân vật. Hoặc tài năng bản lĩnh, hoặc những chuyện còn hoài nghi mà
Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án muốn tìm ra sự thật. “Quan Thượng thư
Nguyễn Duy Thì là quan tể tướng có tiếng Trung Hưng, giữ mình ngay thẳng
và khéo xoay đổi được ý của vua chúa. Trong Phủ Chúa có một cái kiệu, kiểu

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status