Luận văn " Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại trong AFTA đến hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam " - Pdf 12

Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Ảnh hưởng của quá trình tự do
hoá thương mại trong AFTA đến
hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam
Khoá luận tốt nghiệp
Ngô Thu Hà - Lớp Anh 5 - K38B 2
MC LC
LI NểI U
CHNG I: QU TRèNH T DO HểA THNG MI TRONG ASEAN V
S THAM GIA CA VIT NAM 8
I. Quỏ trỡnh t do húa thng mi trong ASEAN. 1
1. Lch s hỡnh thnh v phỏt trin ca ASEAN v AFTA. 8
2. Quỏ trỡnh t do húa thng mi trong ASEAN. 10
II. S tham gia ca Vit Nam vo AFTA 25
1. V c quan t chc thc hin AFTA 25
2. V thc hin chớnh sỏch thu quan ca AFTA 25
3. V thc hin ct gim hng ro phi quan thu 29
4. V hot ng hp tỏc Hi quan trong AFTA 30
CHNG II: NH HNG CA QU TRèNH T DO HO THNG

hoàn thành AFTA. 79
2. Cần xây dựng và công bố sớm danh mục các dự án đầu tư tiền khả thi
trong từng thời kỳ theo hướng khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành nghề mà nước ta có thế mạnh về tài
nguyên, nguyên liệu, lao động và phát triển kết cấu hạ tầng 80
3. Cải thiện môi trường pháp lý tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thông
thoáng, rõ ràng, ổn định và mang tính cạnh tranh cao. 82
4. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại 83
5. Thực hiện chiến lược khuyến khích đầu tư của các công ty đa quốc
gia, công ty xuyên quốc gia, công ty toàn cầu để tiếp nhận chuyển giao
khoa học công nghệ hiện đại. 85
6. Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng 85
7. Quan tâm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 87
8. Một số giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam 75
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 4
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

ACCSQ ASEAN Consultant Committee on Standard and Quality
Uỷ ban tư vấn ASEAN về Tiêu chuẩn và Chất lượng
AEM ASEAN Economic Minister
Hội nghị Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN
AFTA ASEAN Free Trade Area
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 5
Tổ chức Hải quan thế giới

Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 6
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã xác
định đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là:
“mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế
và khu vực”, thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài cùng với các nguồn lực
bên trong để phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các
nước Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28/7/1995 đã đánh dấu bước ngoặt quan
trọng của quá trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu
vực và thế giới. Sau đó, ngày 15-12-1995, tại Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN lần thứ V tổ chức tại Bangkok (Thái Lan), Việt Nam đã ký kết
Nghị định thư gia nhập Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu
lực chung (CEPT) để thực hiện Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA từ
1/1/1996.
Việc tham gia AFTA sẽ có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của nền
kinh tế, trong đó có hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi các
rào cản đối với thương mại và đầu tư giữa các nước ASEAN bị xoá bỏ, Việt
Nam sẽ có nhiều cơ hội to lớn để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các
nước trong và ngoài khu vực. Tuy nhiên, sức ép cạnh tranh gay gắt hơn từ các
nước trong khu vực có thể làm cho luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

1. Lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN và AFTA.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (gọi tắt là ASEAN-Association of
Southeast Asia Nations) được thành lập năm 1967. Ngày 08 tháng 8 năm
1967, 5 quốc gia Đông Nam Á bao gồm Inđônêxia, Malaixia, Philipin,
Singapo và Thái Lan đã ký tuyên bố Bangkok theo đó thành lập ASEAN. 17
năm sau, Brunêy gia nhập hiệp hội và đến ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt
Nam chính thức được công nhận là thành viên của tổ chức này. Bằng việc tiếp
tục kết nạp Lào, Mianma vào năm 1997 và Campuchia vào năm 1999, Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á hiện nay bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á.
Một trong những mục tiêu của ASEAN là hợp tác nhằm phát triển nền
kinh tế trong khu vực cũng như nền kinh tế từng nước. Với mục tiêu đó,
ASEAN đã triển khai hợp tác một cách có hiệu quả trong nhiều lĩnh vực
khác nhau trên cơ sở ký kết các hiệp định, hiệp ước và các văn kiện khác
thúc đẩy sự hợp tác kinh tế giữa các quốc gia nhằm đảm bảo tiến trình phát
triển kinh tế bền vững của các quốc gia. Nhiều khuôn khổ hợp tác đã ra đời
trên tinh thần này như AFTA (Khu vực thương mại tự do ASEAN-ASEAN
Free Trade Area), AICO (cơ chế hợp tác công nghiệp ASEAN).
Tình hình thế giới và khu vực có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình
thành và phát triển cũng như các mục tiêu phấn đấu của ASEAN. Điều này
có thể được nhận biết qua ba giai đoạn phát triển của ASEAN:
Giai đoạn thứ nhất 1967-1975: Giai đoạn này, tình hình thế giới và
khu vực rất căng thẳng. Đây là thời kỳ đỉnh cao của chiến tranh lạnh và đặc
biệt khu vực Đông Nam Á được coi là điểm nóng của khu vực châu á với
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 9
cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Vì vậy, ASEAN ra đời với mục đích chủ yếu
là tăng cường và đẩy mạnh hợp tác kinh tế trong khu vực nhằm đẩy nhanh

2- ASEAN kiên trì tìm kiếm và bảo vệ lợi ích tập thể của mình trước
sự lớn mạnh của các tổ chức hợp tác kinh tế lớn trên thế giới. Đặc biệt
ASEAN thông qua chủ trương thúc đẩy mở cửa hợp tác quốc tế và khuyến
khích hợp tác kinh tế trong khu vực.
3- ASEAN sẽ tìm kiếm những giải pháp cho lĩnh vực hợp tác an ninh.
4- ASEAN sẽ tiến tới quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước Đông
Dương sau khi giải quyết vấn đề Campuchia.
Đặc biệt trong hội nghị lần này, ASEAN đã đi đến quyết định thành
lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA.
Giai đoạn thứ ba (từ năm 1995 đến nay): Sự kiện Việt Nam tham gia
vào ASEAN tháng 7/1995 có ý nghĩa lớn đối với Việt Nam và khu vực. Nó
mở ra thời kỳ hợp tác toàn diện trong khu vực, đẩy nhanh quá trình thống
nhất và hợp tác trên toàn khu vực Đông Nam Á mà điểm mốc quan trọng đó
là đến năm 1999 ASEAN đã bao gồm toàn bộ 10 quốc gia Đông Nam Á.
ASEAN đã thống nhất trong đó các quốc gia mà đường lối chính trị có phần
khác biệt và mâu thuẫn. Đây cũng là thời kỳ các quốc gia ASEAN nỗ lực
đẩy nhanh tiến độ hợp tác và phát triển khu vực mậu dịch tự do. Giai đoạn
này, ASEAN đã đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao vào bậc nhất trên thế
giới, vị thế kinh tế và chính trị của ASEAN cũng theo đó cải thiện đáng kể.
2. Quá trình tự do hóa thương mại trong ASEAN.
2.1. Hiệp định về ưu đãi thương mại (PTA).
Hiệp định ưu đãi thương mại ( Preferential Trade agreements - PTA)
do các Bộ trưởng Ngoại giao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ký tại
Manila (Philipin) ngày 24 tháng 2 năm 1977. Đây là văn kiện quan trọng
đầu tiên của ASEAN nhằm tiến tới tự do hoá buôn bán khu vực và đẩy
nhanh hoạt động thương mại trong nội bộ khu vực. Theo Hiệp định này, các
nước ASEAN cam kết dành cho nhau ưu đãi trong quan hệ mậu dịch giữa
các nước như ưu đãi trong việc ký kết các hợp đồng dài hạn về số lượng,
Kho¸ luËn tèt nghiÖp


sản phẩm có giá trị nhập khẩu dưới 500.000 USD. Mức giới hạn này tăng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 12
dần từ 500.000 USD lên 1 triệu, sau đó là dưới 10 triệu. Năm 1984 người ta
chấp nhận giảm 20 - 25% thuế đối với tất cả các sản phẩm có giá trị buôn
bán vượt 10 triệu USD. Tới tháng 6-1986, có tất cả 12647 sản phẩm của 6
nước ASEAN được hưởng ưu đãi theo PTA. Tiếp đó, mức ưu đãi giảm thuế
được tăng lên 50%. Đến cuối năm 1987, có khoảng 20.000 mặt hàng được
hưởng mức ưu đãi giảm thuế ở mức từ 20 - 50%.
Vào thời gian này, một cuộc đánh giá kết quả 10 năm thực hiện PTA
đã được tiến hành và các nhà nghiên cứu cho rằng mặc dù các nước đều tích
cực hoạt động theo hướng tăng cường tự do hoá thương mại trong khu vực
song kết quả mở rộng thương mại nội bộ khu vực đã không đạt được như ý
muốn. Lý do cơ bản là vì danh mục sản phẩm loại trừ đối với các hàng hóa
“nhạy cảm” mà các nước được phép đưa ra trên cơ sở thực trạng sản xuất
của mình bao gồm một số lượng lớn hàng hoá trao đổi trong khu vực của
mỗi nước, trừ Singapo chỉ chiếm 2%. Cụ thể là, đối với Thái Lan, tỷ lệ mặt
hàng nằm trong danh mục loại trừ trên tổng số mặt hàng trao đổi với các
nước trong khu vực là 63%, Inđônêxia - 54%, Malaixia - 39%, Philipin -
25%. Bên cạnh đó, sự khác nhau lớn về chủng loại mặt hàng trong diện
giảm thuế của các nước cũng làm hạn chế đáng kể hiệu quả của PTA.
Cho tới trước Hội nghị Cấp cao Manila, quá trình thực hiện PTA tiến
triển hết sức chậm chạm, vẫn còn rất nhiều mặt hàng nằm ngoài danh sách
PTA. Nguyên nhân đầu tiên là thái độ thiếu tin cậy lẫn nhau giữa các nước
trong quá trình thực hiện PTA. Sau khi cam kết cắt giảm thuế, các nước
ASEAN tìm cách khai thác những biện pháp khác tạo ra hàng rào phi thuế
quan nhằm bảo vệ những quyền lợi của mình, cản trở quan hệ buôn bán

Nhìn chung, tuy có một số tiến bộ nhưng tốc độ tự do hoá thương mại
thực hiện trong khuôn khổ PTA vẫn còn rất chậm chạp và hạn chế. Những
biện pháp mở rộng buôn bán thực chất chỉ là những biện pháp nhằm những
mục tiêu ngắn hạn. Do vậy, các nước thành viên ASEAN thấy cần thiết phải
có một cơ chế hợp tác mang tính thể chế, thống nhất tiêu chí phối hợp hành
động, tăng mức ưu đãi, đơn giản hoá các thủ tục, nhắm tới những mục tiêu
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 14
xa hơn. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng cho sự ra đời của
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA.
2.2. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA.
Ngày 28-1-1992, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ IV diễn ra tại
Singapo, các nguyên thủ quốc gia ASEAN đã có một quyết định quan trọng
nhằm nâng cao hơn nữa mức độ hợp tác trong lĩnh vực thương mại, đó là
thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thông qua việc ký kết
Hiệp định về Chương trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT).
Mục tiêu của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được chỉ rõ
trong văn kiện Hiệp định là loại bỏ hoàn toàn các hàng rào cản trở thương
mại đối với hầu hết hàng hoá trong nội bộ ASEAN, kể cả thuế quan và các
loại hàng rào phi thuế quan. AFTA được thực hiện thông qua Chương trình
thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT). Chương trình CEPT có ba nội
dung cơ bản là chương trình cắt giảm thuế quan, việc loại bỏ các hàng rào
phi thuế quan và vấn đề hợp tác trong lĩnh vực hải quan.
2.2.1. Nội dung loại bỏ hàng rào thuế quan.
Những nội dung chính trong việc loại bỏ hàng rào thuế quan của
AFTA được hoạch định như sau:
Các nước thành viên ASEAN sẽ thực hiện lịch trình cắt giảm thuế

học của các nước nước thành viên ASEAN sẽ không được đưa vào Chương
trình CEPT.
Nội dung cắt giảm thuế quan cho các sản phẩm thuộc từng Danh mục
của CEPT được quy định như sau:
- Danh mục các sản phẩm giảm thuế ngay (Inclusion List - IL)
Việc cắt giảm thuế của các sản phẩm thuộc Danh mục này được chia
thành hai lịch trình: lịch trình giảm nhanh và giảm bình thường.
Lịch trình giảm thuế nhanh (còn gọi là kế hoạch giảm thuế tăng tốc)
sẽ được áp dụng cho 15 nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến của ASEAN
như: xi măng, hoá chất, phân bón, chất dẻo hàng điện tử, hàng dệt, dầu thực
vật, sản phẩm da, sản phẩm cao su, giấy, đồ gốm và thuỷ tinh, đồ dùng bằng
gỗ và song mây, đồng thỏi và dược phẩm với khoảng 3200 mặt hàng, chiếm
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 16
tới 34% tổng số danh mục giảm thuế của toàn ASEAN. Lịch trình giảm thuế
nhanh được phân định thành hai nấc: một là, các sản phẩm có thuế suất trên
20% sẽ được giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/2000 và các sản phẩm có thuế
suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/1998.
Lịch trình giảm thuế bình thường sẽ được áp dụng đối với các sản
phẩm công nghiệp còn lại. Đối với những sản phẩm có mức thuế hiện hành
trên 20% sẽ được thực hiện theo hai bước. Bước một, thuế từ mức hiện hành
giảm xuống mức 20% vào năm 1998. Bước hai, giảm từ mức thuế 20%
xuống mức cuối cùng 0-5% kết thúc vào ngày 1/1/2003. Đối với mức thuế
hiện hành 20% hoặc thấp hơn sẽ được giảm xuống mức cuối cùng 0-5%
trong vòng 7 năm, tức là kết thúc vào năm 2000.
Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa tham gia giảm thuế (Danh
mục loại trừ tạm thời - Temporary Exclusion List - TEL): Xuất phát từ

chưa chế biến sẽ được chuyển sang Danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5
năm, từ 1/1/1998 đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%.
Các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm được phân định vào
hai Danh mục tuỳ theo mức độ nhạy cảm là Danh mục các sản phẩm nông
sản chưa chế biến nhạy cảm và Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế
biến nhạy cảm cao. Đến nay, theo đề xuất của các quốc gia thành viên,
những mặt hàng thuộc Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến
nhạy cảm sẽ bắt đầu thực hiện cắt giảm thuế xuống còn 0-5% từ 1/1/2001 và
kết thúc lịch trình giảm thuế vào ngày 1/1/2010. Trong khi đó, các sản phẩm
nông nghiệp chưa chế biến nhạy cảm cao sẽ bắt đầu từ 1/1/2003 và kết thúc
vào 2010. Cho đến nay quá trình thoả thuận để xác định các quy định về cơ
chế cắt giảm thuế quan chi tiết và chính xác cho các sản phẩm nông sản
chưa chế biến nhạy cảm vẫn đang được tiếp tục.
- Danh mục loại trừ hoàn toàn (General Exceptions List - GEL)
Theo kế hoạch CEPT, tất cả các sản phẩm công nghiệp chế tạo và các
sản phẩm nông nghiệp chế biến đáp ứng yêu cầu nội dung của sản phẩm có
ít nhất 40% xuất xứ từ bất kỳ nước thành viên ASEAN nào đều nằm trong
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 18
Danh mục sản phẩm trong kế hoạch CEPT và một cách tự động được đưa
vào kế hoạch giảm thuế CEPT. Tuy nhiên, một nước thành viên cũng có thể
loại trừ một số sản phẩm không tham gia Hiệp định CEPT và xếp vào Danh
mục loại trừ hoàn toàn. Các sản phẩm này phải là những sản phẩm được
xem là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức cộng đồng, sức
khoẻ, sự sống của con người và động thực vật, ảnh hưởng đến việc bảo tồn
các giá trị văn hoá nghệ thuật, các di tích lịch sử hay khảo cổ học. Theo
Chương trình CEPT, việc cắt giảm thuế cũng như xóa bỏ các biện pháp phi

thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan của mình theo Hiệp định
CEPT/AFTA. Từ 1/1/2002, 6 nước thành viên cũ đã hoàn thành về cơ bản
cắt giảm thuế CEPT xuống 0-5%. Theo số liệu thống kê của Ban thư ký
ASEAN, thuế suất CEPT trung bình của 6 nước ASEAN thành viên cũ đã
giảm xuống 2,9% từ 12,7% năm 1993 khi các nước bắt đầu thực hiện
AFTA. Ngoài ra, 3 nước Brunây, Singapo, Inđônêxia đã đạt hơn 60% tổng
số dòng thuế trong danh mục cắt giảm thuế ngay có mức thuế suất CEPT là
0%.
2.2.2. Nội dung loại bỏ các hạn chế về định lượng (Quantitive Restrictions-
QR) và các rào cản phi thuế quan khác (Non-tariff Barriers-NTBs).
Để tiến tới việc hoàn thành AFTA, Điều 5 của Hiệp định CEPT còn
xác định mục tiêu loại bỏ các hàng rào phi thuế quan như hạn chế số
lượng, hạn ngạch giá trị nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn
chế định lượng… trong vòng 5 năm sau khi một sản phẩm được hưởng ưu
đãi thuế quan.
Với mục tiêu được đưa ra theo Hiệp định, năm 1995 các nước
ASEAN đã thành lập Nhóm Công tác về Vấn đề các Hàng rào phi thuế quan
để xác định và xây dựng chương trình hủy bỏ các hàng rào phi thuế ảnh
hưởng đến thương mại khu vực. Dựa trên kết quả làm việc của Nhóm Công
tác, các nước đã xác định các biện pháp ảnh hưởng rộng rãi và chủ yếu đối
với thương mại hàng hóa trong khu vực ASEAN là: phụ thu hải quan và các
biện pháp kỹ thuật cản trở thương mại. Năm 1995, phụ thu hải quan được áp
dụng trên 2683 dòng thuế và các biện pháp kỹ thuật cản trở thương mại (bao
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 20
gồm cả các yêu cầu về đặc điểm sản phẩm) ảnh hưởng tới trên 975 dòng
thuế của các nước. Trên cơ sở đó, tại phiên họp Hội đồng AFTA lần thứ 8,

2. Tủ lạnh
3. Rađiô
4. Điện thoại
5. Tivi
6. Thiết bị Video
7. Mạch in
8. Các loại máy phát điện
9. Màn hình và bàn phím máy tính
10. Thạch anh điện - từ
11. Điốt
12. Linh kiện tivi rađiô
13. Loa và linh kiện loa
14. Linh kiện cảm ứng
15. Tụ điện
16. Điện trở
17. Chuyển mạch
18. Đèn hình
19. Găng tay cao su
20. Bao cao su

Nhận thức được tầm quan trọng của các thỏa thuận thừa nhận lẫn
nhau trong việc loại bỏ các hàng rào kỹ thuật, các nước ASEAN đã ký kết
Hiệp định khung về các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau tại Hội nghị Thượng
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 22
đỉnh ASEAN lần thứ VI tháng 12 năm 1998. Căn cứ theo Hiệp định, cho
đến nay ba nhóm công tác về hài hòa tiêu chuẩn các sản phẩm mỹ phẩm,

Việc các nước thành viên ASEAN áp dụng các phương pháp định
giá tính thuế hải quan khác nhau đã tạo ra một hàng rào cản trở thương
mại và gây khó khăn cho việc thực hiện hiệp định về mậu dịch tự do.
Do đó, các nước ASEAN đã thoả thuận hợp tác nhằm hài hoà phương
pháp định giá tính thuế hải quan giữa các nước thành viên và đã thống
nhất áp dụng phương pháp định giá tính thuế hải quan GTV của GATT
từ năm 2000.
- Thực hiện hài hoà các thủ tục hải quan.
Thủ tục hải quan là một khía cạnh quản lý quan trọng khác trong
thương mại quốc tế. Ngoài những thủ tục thông quan tiêu chuẩn khác, các
sản phẩm buôn bán theo chương trình CEPT còn phải đáp ứng được yêu
cầu xác định rõ xuất xứ của sản phẩm đó. Như đã nói ở trên, để được hưởng
ưu đãi thuế quan CEPT, một sản phẩm phải có ít nhất 40% thành phần có
xuất xứ từ các nước ASEAN. Điều này được chứng minh bằng Giấy chứng
nhận xuất xứ (mẫu D). Như vậy, để tạo thuận lợi cho thương mại trong
ASEAN, cần phải đơn giản hoá và hài hoà thủ tục hải quan của các nước
thành viên. ASEAN thống nhất ưu tiên thực hiện hài hoà các thủ tục hải
quan trong hai lĩnh vực:
Mẫu khai báo CEPT chung: Hàng hoá luân chuyển giữa các nước
ASEAN cần phải hoàn thành 3 loại thủ tục hải quan: giấy chứng nhận
xuất xứ, thủ tục xuất khẩu và thủ tục nhập khẩu. Vì phần lớn các chi tiết
trong các mẫu kahi báo hải quan là giống nhau, do đó các nước ASEAN
đã có sáng kiến đơn giản hoá thủ tục đối với sản phẩm thuộc diện CEPT
bằng cách gộp cả 3 mẫu này thành một Mẫu chung ASEAN CEPT
(Commom ASEAN CEPT Form). Hiện nay mẫu này đang trong quá trình
hình thành.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Ng« Thu Hµ - Líp Anh 5 - K38B 25
II. SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO AFTA.
Ngày 15-12-1995, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ V tổ
chức tại Bangkok (Thái Lan), Việt Nam đã ký kết Nghị định thư gia nhập
Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) để
thực hiện AFTA và bắt đầu thực hiện chương trình này 15 ngày sau khi ký
kết. Có thể tóm tắt những nội dung cơ bản của việc thực hiện AFTA tại Việt
Nam như sau:
1. Về cơ quan tổ chức thực hiện AFTA.
Ngay sau khi được công nhận là thành viên chính thức của ASEAN,
Việt Nam đã lập ra Uỷ ban quốc gia Điều phối hoạt động của Việt Nam
trong ASEAN (hay còn gọi là Uỷ ban quốc gia về ASEAN) theo quyết định
số 96-TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 8-2-1996. Uỷ ban này có nhiệm
vụ phối hợp với các cơ quan liên quan, tổ chức thực hiện những nhiệm vụ và
tham gia các hoạt động của Việt Nam trong ASEAN. Cũng theo quy định
của ASEAN, mỗi nước thành viên phải thành lập một AFTA Unit. ở Việt
Nam, cơ quan này được thành lập theo quyết định số 96-TTG của Thủ tướng
Chính phủ ngày 8-2-1996 và được đặt tại tổng cục thuế.
AFTA Unit của Việt Nam là đầu mối chính về thực hiện AFTA của
nước ta và có những nhiệm vụ xây dựng, hướng dẫn và giám sát thực hiện
chương trình giảm thuế theo CEPT, giải đáp các thắc mắc có liên quan
đến AFTA, chuẩn bị những báo cáo về việc thực hiện AFTA của Việt
Nam cho Uỷ ban quốc gia về ASEAN và là đầu mối liên lạc trực tiếp với
cơ quan AFTA của Ban thư ký ASEAN và các AFTA Unit của các nước
thành viên khác.
2. Về thực hiện chính sách thuế quan của AFTA.
Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status