ẢNH HƯỞNG CỦA CAO ĐÀI BAN CHỈNH ĐẠO ĐẾN ĐỜI
SỐNG TINH THẦN NGƯỜI DÂN BẾN TRE HIỆN NAY
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài............................................3
3. Mục đích nghiên cứu.............................................................................5
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu......................................................5
4.1. Khách thể.................................................................................5
4.2. Đối tượng nghiên cứu..............................................................5
5. Giả thiết khoa học.................................................................................5
6. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................6
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu................................................................6
8. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................6
9. Cấu trúc luận văn..................................................................................6
10. Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả..........6
10.1. Những luận điểm cơ bản........................................................6
10.2. Đóng góp mới của tác giả......................................................7
NỘI DUNG.........................................................................................................8
Chương 1. CAO ĐÀI BAN CHỈNH ĐẠO – MỘT HỆ PHÁI CỦA ĐẠO
CAO ĐÀI............................................................................................................8
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của đạo Cao Đài.............................8
1.1.1. Hoàn cảnh kinh tế – xã hội...................................................8
1.1.2. Tiền đề văn hóa – tư tưởng..................................................11
1.1.3. Quá trình phát triển đạo Cao Đài........................................16
1.2. Sự ra đời và những đặc điểm cơ bản của đạo Cao Đài Ban Chỉnh
đạo ở Bến Tre..........................................................................................23
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển Cao đài Ban Chỉnh đạo
ở Bến Tre.......................................................................................23
KẾT LUẬN......................................................................................................84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................87
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“ Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta” [10, Tr. 3]. Vì thế tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đến
đời sống tinh thần của bộ phận nhân dân, và ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn
tại, phát triển hoặc suy vong của chế độ chính trị nhất định. Vì vậy, bất kỳ
Nhà nước nào cũng có sự quan tâm đặc biệt đến tín ngưỡng, tôn giáo và nhất
là tôn giáo và các hoạt động tôn giáo, vì lợi ích cụ thể của mỗi quốc gia dân
tộc. Tuy nhiên, ở mỗi chế độ chính trị khác nhau tôn giáo được hiểu và áp
dụng bằng những hình thức khác nhau. Nhà nước của giai cấp bóc lột, tôn
giáo được dùng như là thuốc phiện để cai trị, ru ngủ quần chúng tín đồ, hoặc
đàn áp sự đấu tranh của họ, nhằm mục đích cuối cùng phục vụ lợi ích giai
cấp thống trị. Nhà nước Xã hội chủ nghĩa có cách nhìn nhận khách quan và
tích cực hơn, nó được loại bỏ yếu tố chính trị, phản động, tìm ra điểm tương
đồng giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội, đưa tôn giáo hòa quyện vào sự phát
triển của đời sống tinh thần của dân tộc.
Việt Nam là một nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt các tôn
giáo ở Việt Nam đáp ứng được một phần nhu cầu đời sống tinh thần người
dân và có ý nghĩa nhất định trong việc giáo dục ý thức, đạo đức, lối sống của
một bộ nhân nhân dân. Trong lịch sử dân tộc, các tôn giáo, trong đó có đạo
Cao Đài đã từng bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, kích động làm
những điều đi ngược lại truyền thống dân tộc.
Đạo Cao Đài là tôn giáo nội sinh lớn ở Việt Nam, có khoảng 2,7 triệu
tín đồ, hơn 1 ngàn chức sắc hoạt động chủ yếu ở các tỉnh, thành phố phía
Nam. Sau khi ra đời năm 1926, đạo Cao Đài bị chia rẽ thành nhiều hệ phái
nó đến đời sống tinh thần của người dân Bến Tre là cần thiết.
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Ảnh hưởng
của Cao Đài Ban Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người dân Bến Tre
hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, ở nước ta đã có những công trình nghiên cứu về
Cao Đài Ban Chỉnh đạo dưới góc độ về tôn giáo, văn hóa, lịch sử, chính trị...
để giải thích hiện tượng tôn giáo Cao Đài Ban Chỉnh đạo trong tổng thể của
đạo Cao Đài.
Thứ nhất, nghiên cứu sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài có công
trình nghiên cứu như:
- Phan Văn Hoàng (2001), Cao Triều Phát - Nghĩa khí Nam Bộ, Nxb
trẻ, TP.Hồ Chí Minh, đã giới thiệu về thân thế và sự nghiệp của cụ Cao Triều
Phát, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài Minh Chơn đạo, Chủ tịch Cao Đài Cứu
quốc 12 phái thống nhất. Theo tác giả, cụ Cao Triều Phát là hình ảnh của
một lãnh tụ phong trào Cao Đài yêu nước, đã kết hợp một cách xuất sắc giữa
đạo với đời, giữa đạo với dân tộc và cách mạng. Đồng thời tác giả đã công
bố những tư liệu quý về những hoạt động yêu nước của chức sắc, tín đồ đạo
Cao Đài trong kháng chiến chống Pháp qua tổ chức Cao Đài cứu quốc (1947
- 1954).
- Phạm Bích Hợp (2007), Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa (Bửu
Sơn Kỳ Hương - Cao Đài - Hòa Hảo), Nxb Tôn giáo, Hà Nội. Tác giả đã
khảo sát và lý giải về đạo Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật giáo Hòa
Hảo từ góc độ tâm lý. Trong đó, miêu tả tóm tắt về các hệ phái, về người
sáng lập đạo Cao Đài và một số ảnh hưởng về đời sống tinh thần của từng hệ
phái ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Thảo (2001), Chủ nhiệm đề tài nhánh, Xu hướng phát triển của đạo Cao đài
và những vấn đề đặt ra từ phương diện lãnh đạo, quản lý, thuộc Trung tâm
khoa học về Tín ngưỡng và Tôn giáo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh là cơ quan chủ trì.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Đạo Cao Đài nói chung và
về hệ phái Cao Đài Ban Chỉnh đạo nói riêng có khá nhiều. Mỗi công trình
nghiên cứu đề cập một hoặc một số vấn đề có liên quan đến hệ phái Cao Đài
4
Ban Chỉnh đạo. Đó đều là những công trình có giá trị đã cung cấp nguồn tư
liệu quí để tác giả thực hiện đề tài được đầy đủ và có hệ thống hơn. Tuy
nhiên đến nay chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp về ảnh hưởng của Cao
Đài Ban Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người dân Bến Tre. Cho nên việc
đánh giá đúng ảnh hưởng của nó sẽ góp phần tích cực trong việc định hướng
và đề ra chủ trương, chính sách thích hợp trong việc phát huy vai trò Cao
Đài Ban Chỉnh đạo.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về đạo Cao Đài Ban
Chỉnh đạo, đánh giá thực trạng ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần
người dân Bến Tre, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy
những ảnh hưởng tốt đẹp và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Cao Đài Ban
Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người dân Bến Tre hiện nay.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khác Thể
Cao Đài Ban Chỉnh đạo.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng của Cao Đài Ban Chỉnh đạo đến đời sống tinh thần người
dân Bến Tre hiện nay.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
kết cấu gồm 2 chương, 4 tiết.
10. Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
10.1. Những luận điểm cơ bản
“Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta” [10, Tr.3] vì vậy phát huy thế mạnh của tôn giáo trong đời sống tinh
thần của người dân là việc làm cần thiết, góp phần vào việc bảo tồn bản sắc
văn hóa dân tộc trong tiến trình hội nhập kinh tế, quốc tế hiện nay.
6
Đánh giá đúng vai trò của đạo Cao Đài Ban Chỉnh đạo đối với đời
sống tinh thần người dân Bến Tre trong giai đoạn hiện nay sẽ góp phần hạn
chế tiêu cực trong tôn giáo, tránh việc tôn giáo bị phần tử xấu lợi dụng, kích
động xuyên tạc chống phá Đảng và nhà nước ta, đồng thời đưa ra những giải
pháp hiệu quả để công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ngày một tốt hơn và
đi vào thực tiễn.
10.2. Đóng góp mới của tác giả
Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ hơn cơ sở hình thành và một số đặc
điểm đạo Cao Đài Ban Chỉnh đạo.
Về mặt thực tiễn: Đánh giá sự ảnh hưởng của Cao Đài Ban Chỉnh đạo
đến đời sống tinh thần người dân Bến Tre trong giai đoạn hiện nay,từ đó đề
xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa vai trò tích cực của Tôn
giáo trong đời sống tinh thần của người dân Bến Tre hiện nay.
7
tình trạng bi đát. Người nông dân lẫn người thợ thủ công bị cướp đoạt ruộng
đất, bị thất nghiệp, bị sưu cao, thuế nặng, đều trở nên bần cùng hoá và phá
sản. Trước mắt họ chỉ có mấy con đường: ở lại nông thôn làm tá điền, ra
thành phố và các vùng kỹ nghệ, vùng mỏ làm thuê hoặc vào làm phu trong
các đồn điền,… Kết quả là ở nông thôn đã xảy ra một quá trình phân hoá
giai cấp mạnh mẽ. Trong quá trình phân hoá giai cấp ấy, tầng lớp bần nông
và cố nông có rất ít hoặc không có ruộng đất, phải đi làm thuê khiến cho
cuộc sống của nhân dân Nam Bộ vô cùng cực khổ, lầm than. Trong điều kiện
đó những luồng tư tưởng phương Tây xâm nhập vào Việt Nam qua nhiều hình
thức. Đặc biệt trước hiện tượng giàu lên của Nhật Bản khi đi theo con đường
tư bản chủ nghĩa sau cuộc cách mạng “ Minh Trị Duy Tân” (1868-1912) đã
tác động mạnh đến tư tưởng các sĩ phu yêu nước. Họ nghĩ rằng muốn đất
nước phát triển phải duy tân, Duy Tân trở thành trào lưu tư tưởng trong xã hội
Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Phong trào Duy Tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX do Phan Bội Châu
(1867-1940) và Phan Chu Trinh (1872-1926) khởi xướng. Phan Bội Châu cho
rằng, bằng phương pháp bạo động vũ trang để khôi phục đất nước, lập một
chính phủ độc lập theo mô hình quân chủ lập hiến kiểu Nhật Bản. Ông đã
cùng các đồng chí của mình lập tổ chức Duy Tân hội và tiến hành tuyển chọn
những nhân sĩ trí thức ưu tú đưa sang Nhật học tập về khoa học quân sự để
chuẩn bị cho cuộc bạo động sau này. Khác với Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh chủ trương chống đế quốc phải gắn liền với chủ trương đấu tranh đòi
dân chủ, dân quyền nhằm xây dựng đất nước theo chế độ dân chủ tư sản. Phan
Chu Trinh và các đồng chí của ông phát động phong trào Duy Tân diễn ra sôi
nổi ở Trung kỳ. Ở Nam bộ phong trào Duy Tân không diễn ra sôi nổi như ở
miền Bắc và miền Trung nhưng nó có tác động rất lớn cổ vũ tinh thần người
dân Nam bộ. Ảnh hưởng từ phong trào Duy Tân, một số sĩ phu, trí thức yêu
nước vận động, khởi xướng phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng
quyền lợi kinh tế. Đặc biệt là việc phát huy vai trò của báo chí để đã kích
Pháp, tuyên truyền tư tưởng yêu nước trong quần chúng nhân dân như tờ
10
Chuông Rè do Nguyễn An Ninh làm chủ bút phát hành năm 1923, tờ An Nam
Trẻ do Lâm Hiệp Châu làm chủ bút phát hành năm 1926, tờ Đông Pháp Thời
báo do Nguyễn Kim Bính làm chủ nhiệm phát hành năm 1926,…
Vậy từ là khi Pháp xâm lược đến khi có đảng Cộng sản Đông Dương ra
đời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhân dân Nam Bộ đã đứng lên chống
lại thực thực Pháp, chống lại sự áp bức bất công, giành lại tự do và độc lập.
Tuy nhiên do hạn chế về mặt lực lượng cũng như hình thức đấu tranh nên
những cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ đều thất bại. Tuy nhiên trước
những thất bại đó nhân dân Nam Bộ không hề nao núng, mà ngày càng quyết
tâm thể hiện ý chí buất khuất kiên cường như lời tuyên bố của Nguyễn Trung
Trực: “ Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh
Tây”.
Có thể thấy rõ rằng ,việc bị áp bức bóc lột, bị đói khổ, bần cùng hóa,
lại bị bế tắc trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, không chỉ phải đấu
tranh giáp mặt với kẻ thù bằng vũ lực mà còn có hình thức đấu tranh bằng tôn
giáo. Hình thức đấu tranh bằng tôn giáo ở đây chủ yếu là tập hợp lực lượng có
thể hình thành một tôn giáo mới, hay dựa vào những tôn giáo có tư tưởng
nhập thế như Phật giáo. Hình thức dựa vào tôn giáo để đấu tranh, tập hợp lực
lượng đã có từ trước khi nhân dân Nam Bộ dùng hình thức này chống lại triều
đình nhà Nguyễn. Sau này khi thực dân Pháp xâm lược các sĩ phu yêu nước
đã mượn danh các môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Ngũ Chi
Minh Đạo để chống Pháp. Điều này làm rõ hơn vì sau các cuộc đấu tranh của
nhân dân Nam Bộ trước đây thường mang màu sắc tôn giáo. Đạo Cao đài ra
đời cũng mang tinh thần yêu nước trong giáo lý và đường hướng hành đạo.
di thần nhà Minh không thuần phục nhà Thanh vượt biển đến Đàng Trong
sinh sống. Đó là nhóm người của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch.
Nhóm của Trần Thượng Xuyên đến Biên Hòa, nhóm của Dương Ngạn Địch
đến Mỹ Tho.
Tóm lại, những đợt di dân này với những nỗ lực của cư dân đã bám
trụ được vùng đất mới cho dù phải đối mặt vô vàn những khó khăn gian khổ
12
như đất nê địa, trầm thủy, hoang vu có nhiều thú dữ như cọp, rắn, cá sấu...
Cảnh sơn lâm chướng khí, rừng thiêng nước độc, nhiều nỗi gian nan mà con
người phải gánh chịu. Nhưng với những cố gắng không ngừng nghỉ của cư
dân, làng mạc đã mọc lên, cuộc sống dần đi vào ổn định. Vùng đất hoang vu
xưa kia trở thành vùng đồng bằng rộng nhất nước ta như hiện nay.
Hệ văn hoá- tư tưởng người dân Nam Bộ trong giai đoạn này ngoài
văn hoá dân gian vẫn được tồn tại từ lâu đời, Nam Bộ xuất hiện Tao đàn do
Mạc Thiên Tứ thành lập năm 1736 đến 1771 với nhiều tác phẩm văn học có
giá trị. Đặc biệt vào những năm 60-70 thế kỷ XIX ở Cần Thơ có nhiều văn
sỹ yêu nước như Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông,... Ở Vĩnh
Long có Văn Thánh Miếu lập năm 1862. Có thể nói: “Người dân miền Tây
được thừa hưởng bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam đã phát huy trong cuộc
đấu tranh với thiên nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển” [14, tr. 33].
Về tín ngưỡng, tôn giáo, vùng đất Nam Bộ là môi trường thuận lợi
cho sự phát triển các tín ngưỡng, tôn giáo, trở thành vùng đất phong phú
nhất về tín ngưỡng - tôn giáo ở Việt Nam. Đời sống tâm linh của cư dân
Nam Bộ khá phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau. Bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng thiên thần: cúng Thổ Địa, Táo
Quân, Cá Ông (đình miếu ven biển), Thành Hoàng Bổn Cảnh, Sơn Thần
(đình miếu trong nội địa), Bà Chúa Xứ (đền miếu ở núi Sam,). Linh sơ thánh
chính quyền đương thời phải ra lệnh cấm các loại hình tà đạo hình thành từ
Phật giáo hoạt động. Trong khi người dân Nam Bộ sống trong vùng đất nê
địa, trầm thủy, dưới sông cá lội trên bờ rắn rết, cọp beo luôn đe dọa sống mà
không sát sinh nên khó thực hiện được trong điều kiện tự nhiên như thế. Cuộc
sống lúc này rất khó, kiếm gì ăn nấy để đủ sức lao động, không thể ăn chay
được và hơn nữa người dân còn chưa chăm lo nổi cuộc sống bản thân và gia
đình thì nói gì đến chuyện kiến thiết chùa chiền.
Chính sự lu mờ của Phật giáo đã góp phần tạo điều kiện cho đạo Cao
Đài ra đời mà theo lời nhận xét của Y.S. Werner: “ Dù sao thì sự suy vi của
Phật giáo như được báo trước bởi một lực lượng đông đảo dân chúng bị hút
14
vào đạo Cao đài. Thực ra đạo Cao đài lúc đó được xem như một lực lượng cố
gắng tăng cường Phật giáo”.
Về Nho giáo, suy cho cùng Nho giáo không phải là một tôn giáo mà là
một học thuyết đạo đức, một học thuyết chính trị xã hội. Dù ở Nam bộ Nho
giáo không phát triển rực rỡ nhưng vẫn có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân
dân và có thời điểm Nho giáo được dùng như một “ vũ khí ” để bảo vệ bản
sắc văn hóa dân tộc trước sự đe dọa mất gốc do chính sách thuộc địa của thực
dân Pháp gây ra. Tuy nhiên những thay đổi về mọi mặt đời sống kinh tế, chính
trị, xã hội nhất là khi Pháp triển khai cuộc đại khai thác thuộc địa lần II đã
làm lung lay vị trí Nho giáo trong lòng người dân Nam Bộ. Việc tiếp nhận lối
sống mới Âu hóa như việc cắt tóc ngắn, phong cách ăn mặc, kiến trúc nhà hay
như tư tưởng giải phóng phụ nữ… đã làm thay đổi bộ mặt đời sống người dân
Nam Bộ và làm cho cơ chế làng xã truyền thống bị thay đổi, hệ thống pháp
pháp lý và cơ cấu tổ chức cũng thay đổi theo. Những điều này cho thấy một
môi trường mà tôn giáo và tín ngưỡng cũ, nhất là Nho giáo đã không còn phù
hợp như lời nhận định của Y.S. Werner: “ Đạo Khổng không còn sức mạnh là
do một số công chức, tư sản, địa chủ, trí thức sáng lập và phát triển chủ yếu ở
các tỉnh, thành phố phía Nam. Hiện nay, Đạo Cao Đài có khoảng hơn 2.7
triệu tín đồ và hơn 2 vạn chức sắc, chức việc đang hoạt động ở 38 tỉnh, thành
phố trong cả nước. Quá trình hình thành và tồn tại của Đạo Cao Đài gắn liền
với những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phức tạp của tỉnh Nam
Bộ trước năm 1975.
Trong quá trình hình thành phát triển Đạo Cao Đài, người có công lớn
trong việc thành lập Đạo Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu. Ông Ngô Văn
Chiêu, đạo hiệu Ngô Minh Chiêu, sinh năm 1878 tại Bình Tây, Chợ Lớn. Ông
thuộc dòng dõi gia đình quan Thị lang của Triều đình Huế. Ông thi đậu bằng
Thành Chung năm 21 tuổi. Rồi làm việc trong bộ máy chính quyền Pháp, ông
làm qua các công việc: làm thư ký tại Sở Tân Đáo ở Sài Gòn; làm ở Dinh
Thượng thư; làm việc tại Tòa Hành chánh tỉnh Tân An; làm Tri huyện tại Tân
An; làm việc tại Tòa Hành chánh tỉnh Hà Tiên; làm chủ quận đảo Phú Quốc;
16
làm việc tạo Phòng Thương mại (Phòng 2) Dinh Thống đốc Nam Bộ. Năm
1931, ông xin nghỉ việc về lập phái tu tịnh tại Cần Thơ.
Ngô Văn Chiêu, lúc nhỏ, thờ Quan Thánh Đế quân. Lớn lên, ông vẫn
thờ Đức Quan Thánh, ăn chay một tháng hai ngày và tụng kinh Minh Thánh.
Năm 1902, ông hầu đàn Tiên ở Thủ Dầu Một và được Tiên Ông giáng cơ
khuyên ông lo tu, ngày sau đắc đạo. Trong buổi bầu cơ năm 1920 ông được
Đức Cao Đài Tiên Ông giáng cơ xưng danh lần đầu tiên với ông. Ngày 8
tháng 2 năm 1921, ông bắt đầu trường chay và hành đạo. Năm 1921, ông thấy
Thiên nhãn hiện 2 lần và được Tiên Ông dạy vẽ con mắt để thờ và xưng tên là
“Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát” gọi là Thầy. Sau này ông được
Đức Cao Đài Tiên Ông cho thấy cảnh Bồng Lai. Đến năm 1924 ông Chiêu
chuyển về Sài Gòn làm việc. Tại đây, ông cùng nhóm bạn là ông phủ Vương
họp mặt 13 tín đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài gồm: ông Ngô Minh Chiêu, Lê
Văn Trung, Vương Quan Kỳ, Nguyễn Văn Hoài, Đoàn Văn Bản, Võ Văn
Sang, Lê Văn Giảng, Lý Trọng Quý, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao
Hoài Sang, Nguyễn Trung Hậu, Trương Hữu Đức và 14 vị khác đã hầu đàn cơ
nhiều lần nhưng chưa chính thức được xem là đệ tử Cao Đài. Vậy, bước đầu
các vị tín đồ Cao Đài đầu tiên đã thống nhất được các đàn cơ làm một và cùng
chung mục đích thờ phụng Đức Cao Đài. Nhưng sự thống nhất này không kéo
dài được lâu thì tới ngày 12-2-1926, cơ bút đã phân công cho từng người và
chia thành 6 đàn cơ chính. Trong năm 1926, cơ bút chỉ bảo nhiều về sự phân
hợp trong đạo, quy chế tế lễ của đạo, giảng giải về giáo lý, giáo luật của Đạo
Cao Đài.
Ngày 29-9-1926, nhóm Lê Văn Trung họp tại nhà Nguyễn Văn Tường
(Thông ngôn Sở Tuần cảnh Sài Gòn) làm tờ khai đạo, mang chữ ký của 28
người đại diện cho 247 tín đồ. Ngày 7-10-1926, tờ khai đạo gửi lên Thống
đốc Nam Bộ - Le Fol. Nội dung tờ khai đạo nêu lên tôn chỉ, mục đích của đạo
là “Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhất” nhằm hòa hợp tất cả các phần
tinh túy chân truyền của các tôn giáo đã có, thống nhất tư tưởng đi đến chân
18
lý cơ tuyệt khổ đại đồng về đạo đức tôn giáo. Đồng thời thực hành chủ nghĩa
“ Từ bi – Công bình – Bác ái” thương yêu đồng loại, hòa nhập, tương trợ
nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Ngày 18-11-1926
(14-10-Bính Dần), toàn bộ thành viên các nhóm thờ phụng Đức Cao Đài tổ
chức làm lễ khai đạo tại Từ Lâm tự (hay còn gọi là chùa Gò Kén), ấp Long
Trung, xã Long Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Ông Lê Văn Trung
thay mặc tín đồ mời các quan chức Pháp – Việt đến dự, vài tháng sau, số
người nhập môn đã lên đến hàng nghìn người.
Đạo Cao Đài tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ, có nghĩa là
hội triều đình. Thời Tam kỳ Phổ độ, Đức Chí Tôn giáng cơ mở đạo, lấy đài
ngự của Ngài là Cao Đài làm danh hiệu. Do đó, Đức Ngọc Hoàng Thượng
Đế là Đấng Cao Đài, nên cũng gọi là Cao Đài Thượng Đế, và nền Đại Đạo
được mở ra vào thời Tam kỳ Phổ độ được gọi là Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ,
cũng gọi là Cao Đài Đại Đạo, hay gọi tắt là Đạo Cao Đài
Sau khi thành lập đạo Cao Đài, từ năm 1927 Đạo Cao Đài phát triển
nhanh chống, mở rộng địa bàn hoạt động thuyên bổ chức sắc đi truyền đạo ở
nhiều nơi, tập trung ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, cũng trong thời kỳ
này xảy ra sự chia rẽ trong nội bộ đạo. Ông Ngô Minh Chiêu người có công
lớn, sáng lập nền Đạo đã không nhận chức vụ Giáo tông của Cao Đài Tây
Ninh mà về Cần Thơ thành lập phái Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, thực hiện
đường hướng tu luyện theo pháp môn “vô vi” không phổ độ, không thành lập
tổ chức giáo hội. Chủ trương tu luyện theo bí pháp chơn truyền nên phái
Chiếu Minh của Ngô Minh Chiêu không phát triển rộng rãi mà chỉ có số ít tín
đồ đi theo. Phái Chiếu Minh được xem như là cơ bảo tồn bí pháp của Đức
Cao Đài.
Cao Đài Tây Ninh là Hội thánh đầu tiên tiếp nhận Tân luật, Pháp
Chánh truyền xây dựng Tòa thánh Tây Ninh và kiến trúc hạ tầng, xây dựng hệ
thống bộ máy tổ chức hành chính đạo từ Trung ương đến cơ sở. Lúc đầu vốn
là Hội thánh thống nhất và duy nhất của đạo Cao Đài, nhưng từ khi nội bộ
20
phân hóa một số chức sắc lớn hoạt động ly khai về các địa phương, hình thành
các hệ phái Cao Đài mới như Chơn Lý, Tiên Thiên, Ban Chỉnh đạo...làm cho
Cao Đài Tây Ninh bị đặt vào cái thế như một hệ phái. Phái Tây Ninh do Lê
Văn Trung, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang lãnh đạo, là một phái lớn được
coi là gốc Đạo Cao Đài, có Tòa thánh tại Tây Ninh, có số lượng tín đồ đông
nhất trong các hệ phái Cao Đài. Cao Đài Tây Ninh thực hiện đường hướng