mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là chủ trơng
lớn của Đảng ta, đồng thời cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu và là nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc. Từ trớc đến nay, Đảng và Nhà nớc ta luôn rất quan tâm đến sự phát
triểon nông nghiệp, nông thôn và đã có những chủ trơng, chính sách đúng đắn
để đẩy nhanh sự phát triển của khu vực này.
Trong nông nghiệp và nông thôn, vấn đề nông dân luôn có vị trí đặc
biệt quan trọng và đợc Đảng ta xác định là vấn đề chiến lợc của cách mạng
Việt Nam. Trải qua các giai đoạn cách mạng, nông dân đã có những đóng
góp to lớn, góp phần cùng toàn dân làm nên thắng lợi vẻ vang trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày nay, trong quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn là lực lợng đông đảo, nòng cốt và
chủ yếu tham gia trực tiếp vào quá trình này. Những thành tựu đạt đ ợc trong
quá trình thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vừa qua
là thành quả của toàn Đảng, toàn dân nhng đặc biệt trong đó có một phần
đóng góp đáng tự hào của nông dân.
Bến Tre là một tỉnh nông nghiệp nằm trong khu vực đồng bằng sông
Cửu Long. Cùng với xu thế chung của cả nớc, Bến Tre cũng đã đẩy mạnh sự
nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện, trong đó
kinh tế thuỷ sản và kinh tế vờn đợc xác định là hai ngành kinh tế mũi nhọn,
là khâu đột phá của tỉnh. Đến nay, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn ở Bến Tre ngày càng đi đúng hớng và gặt hái đợc nhiều thắng lợi quan
trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt đợc, nông nghiệp và nông
thôn Bến Tre vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Đặc biệt nông dân Bến Tre,
mặc dù đóng một vai trò vô cùng to lớn trong quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn, nhng cho đến nay đời sống của đa số nông dân vẫn còn
nghèo, vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Để quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre đi vào
chiều sâu, tiếp tục đạt đợc những thành tựu to lớn hơn nữa trong những năm
tập thể cũng nh của các nhà khoa học về nông nghiệp, nông thôn và nông
dân ở những góc độ khác nhau tiêu biểu nh:
+ Các công trình khoa học của tập thể:
- "Vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn ở nớc ta", Viện Nghiên
cứu Chiến lợc và Chính sách khoa học và công nghệ - Trung tâm Hỗ trợ
khoa học và công nghệ phát triển nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997.
21
- Tài liệu tập huấn: Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hớng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá (tập I và II), Hội khoa học kinh tế Việt Nam
- Ban đào tạo và phổ biến kiến thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998.
- "Con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam", Ban T tởng - Văn hóa Trung ơng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
Nhìn chung, các công trình khoa học này đã đề cập đến những nội
dung nh: vai trò của công nghiệp nông thôn trong quá trình CNH, HĐH nông
thôn Việt Nam; thực trạng công nghiệp nông thôn Việt Nam; tổng kết những
kinh nghiệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của một số nớc và vùng lãnh
thổ trên thế giới; hệ thống hóa những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; những vấn đề đặt ra và đề xuất
những phơng hớng, giải pháp trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn. Tuy nhiên, các công trình khoa học này mặc dù nghiên cứu về CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn nhng cha đi sâu vào vấn đề nông dân.
- Sản xuất và đời sống của các hộ nông dân không có đất hoặc
thiếu đất ở đồng bằng sông Cửu Long. Thực trạng và giải pháp, GS.TS
Nguyễn Đình Hơng (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Đây
là công trình khoa học đợc nghiên cứu công phu do tập thể cán bộ khoa học
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân chủ trì phối hợp cùng Hội Nông dân Việt
Nam thực hiện theo Công văn số 6553/KTN ngày 20 - 12 - 1997 của Thủ t-
ớng Chính phủ. Nội dung cuốn sách bớc đầu cố gắng làm rõ thực chất, nguyên
nghiệp, nông thôn nói chung, ở một tỉnh nói riêng là vấn đề cần phải đi sâu
hơn nữa.
+ ở Bến Tre có:
- "Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VI " (5/1996).
- "Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VII"
(12/2000)
- Nghị quyết số 13 Ctr/TU của Tỉnh uỷ Bến Tre về "Chơng trình
hành động thực hiện Nghị quyết số 15 - NQ/TW (Hội nghị Trung ơng 5 -
khóa IX) "Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn thời kỳ 2001 - 2010"" (7/2002).
Nhìn chung, các văn kiện, Nghị quyết này đều có đề cập đến vấn đề
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và vấn đề nông dân, nhng cho đến nay
cha có công trình nghiên cứu khoa học nào ở cấp tỉnh làm rõ vai trò của
nông dân Bến Tre và việc phát huy vai trò của nông dân Bến Tre trong quá
trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hớng CNH, HĐH. Vì vậy, vấn
41
đề phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở Bến Tre hiện nay rất cần đợc quan tâm nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Phân tích, làm rõ vai trò của nông dân Bến Tre với t cách là chủ thể,
là lực lợng nòng cốt và chủ yếu trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở Bến Tre. Đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất những quan điểm,
giải pháp nhằm phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Khái quát tầm quan trọng và phơng hớng của quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp đổi mới đất nớc nói chung và
ở Bến Tre nói riêng.
- Phân tích làm rõ vai trò của nông dân với t cách là chủ thể, là lực
của nông dân Bến Tre trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần vào việc tạo đợc sự nhận thức đúng đắn về vai
trò của nông dân Bến Tre. Từ đó giúp lãnh đạo địa phơng đa ra những chủ
trơng, giải pháp giúp cho việc phát huy vai trò của nông dân trong sự
nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre hiện nay.
Luận văn có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác
giảng dạy ở trờng Chính trị tỉnh, có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu tham
khảo ở các cấp uỷ đảng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Nông
dân Việt Nam tỉnh Bến Tre.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chơng, 4 tiết.
61
Chơng 1
CÔNG NGHIệP HOá, HIệN ĐạI HOá NÔNG NGHIệP, NÔNG THÔN
Và VAI TRò Của NÔNG DÂN Bến Tre
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, trong đó có nông
dân. Nhng cách mạng là vấn đề rất rộng và rất lớn. ở mỗi giai đoạn lịch sử,
vai trò của quần chúng nhân dân mà đặc biệt là nông dân luôn đợc khẳng định
và thể hiện với những tính chất khác nhau. Ngày nay, cùng với xu thế chung
của cả nớc, Bến Tre đang ra sức đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn một cách toàn diện. ý nghĩa và tầm vóc của việc thực hiện sự
nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là vô cùng to lớn, yêu cầu đặt ra
ngày một cao. Vì vậy, trong quá trình thực hiện sự nghiệp cách mạng này, lại
một lần nữa không thể thiếu vai trò của nông dân. Bởi lẽ, vai trò của nông dân
là một nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần đảm bảo cho sự thành công của
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre trong giai đoạn hiện nay.
1.1. Phơng hớng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo
hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
là nơi cung cấp nguồn nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất công nghiệp, nhất là
công nghiệp chế biến. Không có nông nghiệp với tính cách là nguồn cung cấp đầu
vào thì công nghiệp chế biến không thể tồn tại và phát triển đợc.
Thứ ba, nông thôn nớc ta là một địa bàn rộng lớn với gần 80% dân số sẽ
là thị trờng to lớn cho việc tiêu thụ các sản phẩm quan trọng của các ngành
công nghiệp và dịch vụ.
Nh vậy, đối với nớc ta giữa nông nghiệp và công nghiệp luôn có một
mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau, luôn tác động và làm tiền đề cho nhau,
công nghiệp và nông nghiệp nh hai chân của con ngời. Hai chân có mạnh thì
đi mới vững chắc. Nông nghiệp không phát triển thì công nghiệp cũng không
phát triển đợc. Ngợc lại, không có công nghiệp thì nông nghiệp cũng khó khăn.
Công nghiệp và nông nghiệp quan hệ với nhau rất khắng khít[37, tr.619]. Bất kỳ
một sự phát triển không tơng xứng, cân đối, hài hoà giữa nông nghiệp và công
nghiệp đều gây những khó khăn nhất định cho sự phát triển của nền kinh tế
chung của đất nớc.
Xuất phát từ vai trò của nông nghiệp, Đảng ta trong suốt quá trình lãnh
đạo cách mạng của mình luôn quan tâm đến phát triển nông nghiệp nớc nhà.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(1986) đánh dấu sự nghiệp đổi mới toàn
diện của Đảng ta đã xác định: trớc hết là đổi mới về kinh tế, thực hiện ba ch-
ơng trình kinh tế lớn, nhấn mạnh vai trò hàng đầu của nông nghiệp trong việc
đáp ứng những yêu cầu cấp bách về lơng thực, thực phẩm, nguyên liệu sản
xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Phấn đấu đa nông nghiệp nớc ta trở
thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá XHCN. Văn kiện Đại hội chỉ rõ
trong những năm còn lại của chặng đờng đầu tiên, trớc mắt là trong kế hoạch
81
5 năm 1986 - 1990, phải thật sự tập trung sức ngời, sức của vào việc thực hiện
cho đợc ba chơng trình mục tiêu về lơng thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu[9, tr.47].
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng với
Báo cáo Chính trị, với "Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên
91
các mục tiêu, phơng hớng, quan điểm và nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn nớc ta lên một tầm cao mới, nhằm tạo ra một bớc đột phá, nhảy vọt
mạnh mẽ để khai thác hết mọi tiềm năng và nội lực của đất nớc.
Qua gần 20 năm đổi mới, tiến hành CNH, HĐH nền nông nghiệp nớc ta
về cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, phát triển tơng đối toàn diện và
có bớc tăng trởng khá. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông
thôn từng bớc đợc phục hồi và phát triển; kết cấu hạ tầng KT-XH đợc quan
tâm đầu t xây dựng; đời sống nhân dân từng bớc đợc cải thiện và nâng lên rõ
rệt; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn đợc đảm
bảo. Những thành tựu đạt đợc nh thế rất đáng tự hào đã góp phần quan trọng
vào sự ổn định và phát triển KT-XH, tạo tiền đề đẩy nhanh CNH, HĐH đất n-
ớc đi đến thắng lợi.
Là một nớc đi lên từ nông nghiệp, thế mạnh và tiềm năng lớn nhất đều
nằm trong khu vực nông nghiệp và nông thôn. Thực tế trong những năm qua
thành tựu đạt đợc của nông nghiệp nớc ta rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, nhìn
chung trình độ sản xuất trong nông nghiệp hiện nay vẫn còn trong tình trạng
lạc hậu, nông sản hàng hoá cha đủ sức cạnh tranh trên thơng trờng quốc tế,
thậm chí ngay trên "sân nhà", sức mua của nông dân vẫn còn thấp. Nông thôn
Việt Nam hiện vẫn là địa bàn sinh sống của gần 80% dân số, gần 70% lực l-
ợng lao động. Nh vậy, lao động trong nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ cao,
trình độ lao động lại thấp, mới chỉ có 8% qua đào tạo. Vấn đề lao động nông
nhàn và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đang là gánh nặng cho xã
hội. Kinh tế nông nghiệp trong những năm qua tuy có bớc tăng trởng khá,
song tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn còn chậm. Mặt khác, trình độ ứng
dụng khoa học và công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học vẫn còn nhiều hạn
chế. Do vậy năng suất, chất lợng, hiệu quả của nông sản hàng hoá cha cao.
Bên cạnh đó trình độ và mức độ cơ giới hoá trong nông nghiệp ở tất cả các
khâu vẫn còn thấp. Mặt khác, vấn đề giải quyết đầu ra cho hàng hoá nông sản
thiếu tính ổn định và còn nhiều bất cập bởi năng lực của công nghệ chế biến
vùng đất cù lao bốn bề sông nớc.
Mặt khác, khí hậu Bến Tre mang tính chất nhiệt đới gió mùa có một chế
độ nhiệt độ cao quanh năm ít khi biến động và có hai mùa rõ rệt là mùa ma và
mùa khô. Nhìn chung, thời tiết ở Bến Tre ổn định ít biến động thất thờng rất
thích hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp bởi ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm,
lợng ma rất thuận lợi cho sự sinh trởng của các loại cây trồng, vật nuôi. Trở
ngại đáng kể trong sản xuất nông nghiệp là vào mùa gió chớng nớc biển thờng
xâm nhập sâu vào trong đất liền làm một số vùng bị nhiễm mặn, ảnh hởng đến
năng suất cây trồng cho nhà nông. Độ mặn xâm nhập trên ba dải cù lao Bến
111
Tre trong xu hớng ngày càng lên cao đã tác động làm thay đổi giống cây trồng
của tỉnh, cần đợc khảo sát và lãnh đạo kịp thời để tránh thiệt hại [15, tr.44 -
45].
Hơn nữa, trong những năm chiến tranh, Bến Tre là tỉnh bị tàn phá khốc
liệt và nặng nề nhất so với các tỉnh khác ở miền Tây Nam bộ. Không những
các cơ sở kinh tế bị tàn phá mà ngay cả cơ sở vật chất của địch để lại sau ngày
giải phóng dờng nh không có gì. Ngoài những cơ sở dịch vụ sửa chữa cơ khí
nhỏ và vài xởng sửa xe cơ giới, cùng một ít phơng tiện giao thông vận tải thuỷ
bộ cũ kỹ, không có một cơ sở sản xuất nào đáng kể. Bởi lẽ, dới mắt kẻ thù,
Bến Tre là một mảnh đất không an toàn nên chúng không đầu t xây dựng một
cơ sở sản xuất nào trong suốt hơn hai mơi năm chiến tranh.
Nh vậy, từ những điều kiện tự nhiên và lịch sử đã quy định Bến Tre là
một tỉnh lấy nông nghiệp làm chủ yếu. Cho nên trong giai đoạn hiện nay để
xây dựng và phát triển KT-XH của tỉnh nhà, Bến Tre không còn con đờng nào
khác hơn là phải xuất phát từ nông nghiệp, đi lên từ nông nghiệp nhng không
phải là một nền nông nghiệp lạc hậu, tự cấp, tự túc, khép kín, sản xuất nhỏ lẻ
nh trớc đây mà phải là một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn tức là phải
tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Chỉ có thực hiện CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn mới phá thế biệt lập giữa Bến Tre với các tỉnh trong
khu vực đồng bằng sông Cửu Long, mới có thể đa nông nghiệp tỉnh nhà thoát
Cần tiếp tục đầu t phát triển nông nghiệp toàn diện theo h-
ớng thâm canh, chuyên canh, xen canh thích hợp, tận dụng mặt đất,
mặt nớc làm tăng giá trị trên một đơn vị sản xuất, tăng hiệu quả
cạnh tranh của nông sản hàng hoá. Từng bớc công nghiệp hóa - hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Phấn đấu tạo mức tăng trởng bình
quân từ 5,5% - 6%/năm. Tập trung đầu t khai thác hai thế mạnh:
kinh tế thuỷ sản và kinh tế vờn, tạo những bớc đột phá mới thúc đẩy
nền kinh tế phát triển [16, tr.52].
Từ phơng hớng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn mà Nghị
quyết của Đại hội của Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VI, VII đã khẳng định và
tiếp tục đợc cụ thể hoá trong các Nghị quyết tiếp theo, có thể khái quát CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn của Bến Tre với những nội dung sau đây:
Một là, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre là quá trình phát
triển toàn diện chuyển từ nền nông nghiệp lạc hậu tự cấp, tự túc khép kín, sản
xuất nhỏ sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn đem lại hiệu quả kinh tế
cao; phá thế biệt lập của một tỉnh cù lao, mở ra cơ hội giao lu, hội nhập với
các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và của cả nớc.
131
Hai là, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre là quá
trình không ngừng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ nhất là công nghệ
sinh học đem lại năng suất, chất lợng cao; là quá trình đẩy mạnh thuỷ lợi hoá,
điện khí hoá đặc biệt là đẩy nhanh tốc độ cơ giới hoá.
Đến năm 2010, phấn đấu cơ giới hoá 100% khâu làm đất và
tuốt lúa, tới tiêu bằng máy 90% diện tích lúa và 80% diện tích cây ăn
trái ở các vùng sản xuất tập trung. Từng bớc cơ giới hoá khâu gieo
trồng, gặt lúa và bảo vệ cây trồng; cải tiến phần lớn thiết bị chế biến đ-
ờng thủ công, thiết bị sản xuất chỉ xơ dừa trong tỉnh [17, tr.5].
Ba là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng nâng dần tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông - lâm - thuỷ sản trong
GDP của tỉnh để đến năm 2005 còn 55% và năm 2010 còn 45% [17, tr.2].
1.2.1. Các nguồn lực của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre
Nguồn lực bên ngoài
Khi đề cập đến nguồn lực bên ngoài thực chất là đề cập đến các nguồn
vốn đầu t của Trung ơng, của các doanh nghiệp trong nớc và ngoài nớc. Đối
với Bến Tre trong quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thì
một trong những vấn đề đợc quan tâm hàng đầu là cần có nguồn vốn lớn phục
vụ cho đầu t và sản xuất. Trong những năm qua, Bến Tre luôn mời gọi vốn đầu
t từ nhiều nguồn khác nhau góp phần đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn trong đó đặc biệt là nhanh chóng phát triển hai thế mạnh kinh tế
thuỷ sản và kinh tế vờn.
Tổng vốn đầu t toàn xã hội trên địa bàn tỉnh 3 năm qua tăng liên tục cả
thời kỳ đạt 8.642 tỷ đồng: năm 2002 đạt 1.912 tỷ đồng, năm 2003 đạt 2.867 tỷ
đồng, năm 2004 đạt 3.863 tỷ đồng. Trong cơ cấu vốn đầu t thì đầu t của dân c
và khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng và có mức tăng trởng cao nhất;
nếu năm 2002 là 811 tỷ đồng bằng 42%, năm 2003 là 1.595,5 tỷ đồng bằng
56% thì năm 2004 là 2.674 tỷ đồng bằng 69%. Riêng đối với đầu t nớc ngoài,
so với thời kỳ 1996 - 2000 thì khu vực này có bớc tăng trởng đáng kể, năm
2002 đạt 45,1tỷ đồng, năm 2003 đạt 90 tỷ đồng và năm 2004 đạt 123 tỷ đồng.
Trong đó lĩnh vực đợc quan tâm đầu t nhiều nhất là nuôi trồng chế biến thuỷ
sản, công nghiệp chế biến sản phẩm từ dừa, sản xuất và kinh doanh cây giống,
cây cảnh, Hằng năm có trên một trăm đoàn doanh nghiệp, nhà đầu t trong và
ngoài nớc (kể cả Việt kiều) đến Bến Tre để tìm cơ hội đầu t.
Tính đến nay, toàn tỉnh có 6 dự án của FDI còn hiệu lực với tổng vốn
đầu t là 18,49 triệu USD, kể cả 2 dự án đầu t 100% vốn nớc ngoài với tổng vốn
đăng ký 7,9 triệu USD đợc cấp phép đầu t cuối năm 2004 và đầu năm 2005.
Hiện có 8 dự án sử dụng vốn ODA đang triển khai trên địa bàn tỉnh với tổng
vốn cam kết tài trợ 31,9 triệu USD, đã giải ngân tính đến cuối tháng 6/2004 là
151
11,4 triệu USD tơng đơng 35,7% tổng vốn cam kết tài trợ. Các dự án ODA đợc
trọng giới thiệu chính sách u đãi và danh mục dự án cụ thể, không kêu gọi
chung chung và tập trung thực hiện thật tốt những cam kết với nhà đầu t.
Nguồn lực bên trong
161
+ Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
Bến Tre là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Nhìn trên bản
đồ, tỉnh Bến Tre có hình rẻ quạt mà đầu nhọn nằm ở thợng nguồn, còn các
nhánh sông lớn giống nh nan quạt xoè rộng ra về phía Đông. Diện tích tự
nhiên của tỉnh là 2.232 km
2
, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang có ranh giới chung là
sông Tiền, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh có ranh giới
chung là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp biển với 65 km chiều dài bờ biển.
Là một tỉnh bốn bề sông nớc bao bọc, Bến Tre có một hệ thống đờng
giao thông thuỷ rất phức tạp. Ngoài bốn con sông chính chảy vào địa phận
Bến Tre tạo nên ba dải cù lao, Bến Tre còn có một mạng lới sông, rạch, kênh
đào chằng chịt nối liền nhau với tổng chiều dài khoảng 6000 km. Trung bình
đi dọc theo các sông chính, cứ cách khoảng 1 đến 2 km là có một con rạch
hay kênh. Bến Tre có hàng trăm sông, rạch và kênh trong đó có trên 60 con
sông, rạch, kênh rộng từ 50 - 100m [39, tr.147]. Với một mạng lới sông ngòi
chằng chịt đan vào nhau nh những mạch máu chảy khắp ba dải cù lao rất
thuận lợi cho giao thông vận tải đờng thuỷ cũng nh cung cấp một lợng nớc dồi
dào cho sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, đất đai ở Bến Tre khá đa dạng và phong phú chủ yếu bao
gồm các nhóm đất nh: đất cát, đất phù sa, đất phèn, đất mặn. Nhìn chung, Bến
Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai, trên 66% diện tích thuộc loại thuận
lợi, hoặc ít hạn chế đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn
chế đối với một số cây trồng nh: lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ
chiếm 19%, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thực sự chỉ khoảng
10%. Do tiếp giáp với biển lại có nhiều sông ngòi bồi đắp phù sa nên đất Bến
các huyện Chợ Lách, Châu Thành và một phần Thị xã, đặc biệt là huyện Chợ
Lách. Đây là vùng nớc ngọt quanh năm, đất đai phì nhiêu màu mỡ. ở đây,
nông dân đã tạo nên những vờn cây ăn trái có năng suất cao, giàu về chủng
loại, có nhiều loại trái cây có chất lợng cao đã đợc khẳng định trong ca dao
sầu riêng, măng cụt Cái Mơn nh là thơng hiệu riêng có của Bến Tre. Nói
chung, nửa phần đất phía trên của cù lao Bảo nh Giồng Trôm, Thị xã, Châu
Thành và cù lao Minh nh Mỏ Cày, Chợ Lách, đều thích hợp với cây ăn trái. Có
các loại cây trồng chủ yếu với giá trị kinh tế cao nh sầu riêng, măng cụt, bởi
da xanh, trên một diện tích tính đến cuối năm 2004 là 40.451 ha với sản l-
ợng là 375.147 tấn. Từ việc chăm trồng cây ăn trái những ngời làm vờn nhất là
ở Chợ Lách đã tạo nên một nghề mới - nghề chiết ghép cây, ghép cành, lai tạo
các giống cây mới, các giống hoa, cây cảnh, bon sai. Do vậy, Bến Tre không
chỉ là nơi cung cấp những loại trái cây quý và ngon mà còn là nơi sản xuất cây
giống cho các tỉnh Tây Nam bộ, Đông Nam bộ và Tây Nguyên.
Cùng với kinh tế vờn thì thuỷ sản cũng là ngành kinh tế mũi nhọn của
tỉnh. Với 65 km bờ biển cộng với mạng lới sông ngòi chằng chịt là môi trờng
181
lý tởng cho sự sinh trởng của 208 loài động vật thuỷ sản, trong đó có 122 loài
cá, 18 loài tôm và 24 loài giáp xác, nhuyển thể 2 mảnh vỏ có giá trị kinh tế
cao. Nh vậy, đối với Bến Tre đây là tiềm năng vô cùng to lớn cho việc nuôi
trồng, đánh bắt thuỷ sản trên cả ba vùng nớc ngọt, nớc mặn và nớc lợ. Do điều
kiện tự nhiên đa dạng nên nuôi trồng thuỷ sản cũng phải phù hợp với điều kiện
sinh thái của từng vùng. Đối với vùng nớc ngọt rất thuận lợi cho việc nuôi tôm
càng xanh trong mơng vờn và các loại cá nớc ngọt có giá trị kinh tế cao [39,
tr.478]. Đối với vùng mặn và lợ lại thuận lợi cho việc hình thành các khu vực
nuôi tôm công nghiệp tập trung. Đến nay diện tích nuôi thuỷ sản đạt 42.371
ha với tổng sản lợng là 140.692 tấn [46].
+ Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng KT-XH:
Phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH là tiền đề, điều kiện quan trọng không
thể thiếu trong quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Riêng
tâm xã. Tuy nhiên do địa hình Bến Tre có rất nhiều sông rạch chia cắt, cho nên
giao thông đờng thuỷ thuận lợi bao nhiêu thì giao thông đờng bộ khó khăn
bấy nhiêu. Vì vậy, muốn có một hệ thống giao thông đờng bộ thông suốt thì
phải có một hệ thống cầu nối liền đờng bộ tơng ứng. Vì vậy, hiện nay, việc xây
cầu Rạch Miễu vợt sông Tiền và tiếp theo xây cầu Hàm Luông thay thế các
bến phà hiện hữu nhằm phá thế biệt lập giữa Bến Tre với các tỉnh trong khu
vực; đồng thời quá trình xoá cầu khỉ ở vùng nông thôn thay thế bằng cầu thép
không gian, cầu treo cho cả hệ thống sông, kênh rạch khắp địa bàn nông thôn
Bến Tre đang là một thách thức đối với Bến Tre trong phát triển KT-XH, CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Về điện lực: Để CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhu cầu về điện là
cực kỳ quan trọng. Từ cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu tiếp quản từ chế độ cũ,
sau 30 năm củng cố và xây dựng ngành điện lực Bến Tre không ngừng phấn
đấu nỗ lực vợt qua khó khăn từng bớc phát triển mạng lới điện cao thế, trung
thế, hạ thế trên cả ba dải cù lao. Với sản lợng điện sản xuất không ngừng tăng
nhanh. Nếu năm 1980 sản lợng điện sản xuất chỉ đạt 6,4 triệu KWh thì năm
1985 là 17,25 triệu KWh; năm 1990 là 33,3 triệu KWh; năm 1995 là 60,7
KWh; năm 2000 là 140 triệu KWh và tính đến cuối năm 2004 sản lợng điện
đạt tới 267 triệu KWh. Đến nay Bến Tre là một trong những tỉnh ở khu vực
đồng bằng sông Cửu Long sớm hoàn thành mục tiêu đa điện lới quốc gia phủ
khắp 100% xã, phờng và hiện có 81% số hộ sử dụng điện. Việc thực hiện tốt quá
trình điện khí hoá nông thôn sẽ là động lực to lớn góp phần thúc đẩy sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tăng tốc nhanh hơn.
Nhìn chung cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng KT-XH ở Bến Tre nhiều năm
qua luôn đợc chú trọng đầu t và bớc đầu đã đạt đợc những kết quả đáng trân
trọng. Tuy nhiên xét về tổng thể cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng ở Bến Tre hiện
nay vẫn còn trong tình trạng yếu kém, cha thật sự trở thành động lực thúc đẩy
201
phát triển CNH, HĐH, nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, khó thu
hút đợc các nhà đầu t. Vì vậy, vấn đề đầu t xây dựng, phát triển kết cấu KT-
nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia.
Từ một số cách tiếp cận và những nội dung đã dẫn trên, có thể hiểu:
Nguồn lực con ngời là phạm trù dùng để chỉ số dân, cơ cấu dân số, đặc biệt là
211
chất lợng ngời với tất cả những tiềm năng, năng lực và phẩm chất làm nên sức
mạnh của nó trong sự phát triển xã hội.
Với cách hiểu này, khái niệm nguồn lực con ngời có nội dung rộng, đề
cập tới những mặt cơ bản sau:
- Thứ nhất, nguồn lực con ngời đợc biểu hiện ra là ngời lao động, là lực
lợng lao động (với con ngời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động), là
ngời lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có). Nói đến nguồn lực con ngời
còn nói đến quy mô dân số và tốc độ tăng dân số trong một thời kỳ nhất định
của một quốc gia, một địa phơng.
- Thứ hai, nguồn lực con ngời phản ánh cơ cấu dân c, nhất là cơ cấu lao
động trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế,
- Thứ ba, nguồn lực con ngời chủ yếu nói lên chất lợng dân số, đặc biệt
là chất lợng của lực lợng lao động trong hiện tại và tiềm năng trong tơng lai.
- Thứ t, nguồn lực con ngời còn bao hàm cả sự liên hệ tác động lẫn
nhau giữa các yếu tố nội tại cấu thành nó cũng nh sự tác động qua lại giữa
nguồn lực con ngời với các nguồn lực khác và với môi trờng xung quanh.
Bến Tre trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp toàn diện theo
hớng CNH, HĐH có đợc thuận lợi là dân số đông. Tính đến cuối năm 2004
dân số Bến Tre là 1.345.637 ngời, trong đó dân c chủ yếu sinh sống ở nông
thôn lên đến 1.215.110 ngời. Dân số đông đã giúp cho Bến Tre có nguồn lao
động dồi dào, đến cuối năm 2004 số ngời trong độ tuổi lao động là 893.670
ngời (trong đó số ngời lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản là 539.706
ngời, còn lại là ở các lĩnh vực khác) [5, tr.16-19].
Xét về cơ cấu nguồn nhân lực, hiện nay ở Bến Tre còn nhiều bất cập. Để
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre đạt đợc nhiều thành tựu
to lớn đòi hỏi phải có đội ngũ đông đảo cán bộ làm công tác quản lý, công tác
Cho nên, để có nguồn cán bộ chất lợng cao, đáp ứng đợc yêu cầu của sự
nghiệp CNH, HĐH, nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Bến Tre cần
hớng vào việc lựa chọn số cán bộ u tú đang công tác tại địa phơng tiếp tục đa
đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn. Bằng tình yêu và sự gắn bó với quê
hơng cộng với năng lực chuyên môn đợc nâng lên rõ rệt, đây sẽ là lực lợng
quan trọng đa Bến Tre có bớc phát triển mạnh mẽ về KT-XH.
- Đối với đội ngũ công nhân lao động trong lĩnh vực công nghiệp và
xây dựng trên toàn tỉnh đến cuối năm 2004 chỉ có 47.128 ngời chủ yếu là lao
động phổ thông cha qua đào tạo, số lao động qua đào tạo có tay nghề cao
chiếm một tỷ lệ rất thấp năm 2004 chỉ có 22%. Số lợng đội ngũ công nhân đã
ít, chất lợng lao động lại thấp thể hiện ở trình độ tay nghề, tác phong, Điều
này phần nào cho thấy nền công nghiệp ở Bến Tre hiện nay vẫn còn rất non
trẻ, quy mô nhỏ bé cha đủ sức làm đầu tàu trong nền kinh tế của tỉnh nhà.
231
- Trong khi đó số ngời trong độ tuổi lao động trên địa bàn nông thôn
tham gia sản xuất trong các lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản là rất cao 539.706
ngời (năm 2004). Thực chất đây chính là nông dân. Nh vậy có thể thấy, trong
nguồn lực con ngời để tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến
Tre hiện nay thì nông dân đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi chính nông
dân là lực lợng lao động hùng hậu để sản xuất ra một khối lợng hàng hoá nông
sản đồ sộ tạo ra giá trị rất cao cho nền kinh tế của tỉnh nhà: năm 2004 chiếm
60,82% GDP; trong khi đó giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và xây
dựng chỉ chiếm có 15,65%, dịch vụ là 23,53% [5, tr.29]. Hạn chế lớn nhất
hiện nay đối với nông dân Bến Tre đó chính là trình độ dân trí. Mặt bằng dân
trí thấp đã và đang gây khó khăn cho nông dân trong việc nhận thức về Nghị
quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc; cũng nh trong việc tiếp
cận, ứng dụng các tiến bộ của khoa học và công nghệ trong quá trình sản xuất.
Rõ ràng qua thực tế cho thấy sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn là do quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân Bến Tre, là sự huy động tối đa
các nguồn lực nhng trong đó nguồn lực con ngời là đặc biệt quan trọng. Trong
mà đặc biệt là nông dân, trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nớc từng đợc
Trung ơng cục và Quân uỷ Miền năm 1968 tuyên dơng tám chữ vàng Anh
dũng đồng khởi, thắng Mỹ diệt nguỵ, là lực lợng cách mạng nhất thì trong
thời bình cũng gặp nhiều thiệt thòi nhất. Thật vậy, sau ngày giải phóng, Đảng
bộ và nhân dân Bến Tre bắt tay vào xây dựng lại cuộc sống mới từ một xuất
phát điểm rất thấp. Nền công nghiệp hoàn toàn không có. Nền nông nghiệp
đầy rẫy những khó khăn bởi sau mấy chục năm chiến tranh nhà cửa, đất đai,
ruộng vờn đã bị bom đạn, chất độc hoá học của kẻ thù tàn phá nghiêm trọng
lên đến 30.000 ha. Trong khi đó Bến Tre lại bị hạn hán mất mùa liên tục trong
3 năm 1977 - 1979 đã làm cho đời sống của nhân dân đã khó khăn lại càng
khó khăn hơn, một bộ phận nhân dân bị đói.
Không cam chịu đói nghèo, toàn Đảng, toàn dân Bến Tre đoàn kết một
lòng quyết tâm xây dựng lại quê hơng tiến công vào mặt trận mới, một mặt trận
không có tiếng súng nhng không vì thế mà kém phần gian khổ, đó chính là mặt
trận kinh tế, là sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
ý Đảng hợp lòng dân. Nông dân Bến Tre với tinh thần cách mạng, tiếp
nối truyền thống năm xa đã khẳng định đợc vai trò to lớn của mình thể hiện ở
việc chi phối và quyết định sự thành bại của cả quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Trong sự nghiệp cách mạng này vai trò của nông dân đợc
thể hiện trên các mặt sau:
- Thứ nhất, nông dân Bến Tre là lực lợng vật chất có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc biến những chủ trơng, Nghị quyết của Đảng về CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn thành hiện thực đi vào cuộc sống.
251