PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Sau gần 30 năm đổi mới, nông nghiệp – nông thôn nước ta có nhiều thay đổi lớn đời sống người dân
nông thôn được cải thiện rõ rệt, tuy nhiên nông thôn nước ta đang còn bộc lộ nhiều yếu kém, cụ thể :
nông thôn còn thiếu quy hoạch và tự phát; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu; mức sống vật chất,
văn hóa , y tế, giáo dục của cư dân nông thôn tuy đã được cải thiện nhưng còn ở mức thấp; cảnh quan
sinh thái nông thôn ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng.
Đảng và Nhà Nước ta luôn quan tâm đầu tư cho khu vực nông thôn. Trong nghị quyết đại hội đại
biểu Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định “ Hiện nay và nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân
và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành
TW (khóa X) đã ra nghị quyết số 26 – NQ/TW về “ nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 phê duyệt chương trình mục tiêu
quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -2020.
Xây dựng nông thôn mới là một trong mục tiêu quan trọng cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị
trong đó có vai trò to lớn của người dân. Khi dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, việc thực hiện các
tiêu chí về nông thôn mới sẽ đạt được nhiều hiệu quả tích cực. Qua 5 năm thực hiện, Chương trình nông
thôn mới đã làm thay đổi nếp sống, nếp nghĩ và giúp cho người biết dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào
chăn nuôi, canh tác nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm giúp phát triển kinh tế nông hộ. Bên cạnh
đó về mặt văn hóa - xã hội, đã giúp khôi phục các thuần phong mỹ tục tập quán lễ hội, vui chơi giải trí
khích lệ tinh thần cho nhân dân. Bộ mặt làng, xã cũng được thay đổi rõ rệt, cảnh quan môi trường được
bảo vệ. Điều quan trọng là mô hình đã khơi dậy được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước. Nói chung mô hình đã thúc đẩy được sự tăng trưởng khá mạnh mẽ kinh tế - xã hội nông thôn
ở địa phương. Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT tính đến hết năm 2015, cả nước có 1500 xã đạt chuẩn
NTM ( chiếm 16,8% tổng số xã trên cả nước), có 11 huyện đạt NTM, 8 huyện ,thị xã đã có tờ trình của
UBND tỉnh, thành phố đề nghị đạt chuẩn NTM.
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy được vai trò của nông dân trong thực hiện các dự án
phát triển nông thôn. Có rất nhiều lý do và lực cản như trình độ hiểu biết của người nông dân, năng lực
quản lý, cơ chế, phương pháp triển khai thực hiện và điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém,...
Hòa Bình là một trong những tỉnh thành phố trên cả nước đang triển khai thực hiện chương trình
nông thôn mới, sau 5 năm tổ chức thực hiện chương trình NTM đã có 31/191 xã hoàn thành 19 tiêu chí
Tìm hiểu thực trạng phát huy vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Mỹ,
huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Từ đó làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng.
Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã
Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích việc phát huy vai trò của người dân trong xây dựng
NTM, mà chủ thể là người dân trên địa bàn xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Các ban nghành tổ chức chính quyền, đoàn thể, xã hội có liên quan đến việc triển khai xây dựng
NTM trên địa bàn xã Tân Mỹ.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung
Chuyên đề tập trung nghiên cứu vai trò của người dân trong xây dựng NTM, các yếu tố ảnh hưởng
đến phát huy vai trò của người dân từ đó đưa ra một số giải pháp phù hợp nhằm phát huy tốt hơn vai trò
của người dân trong NTM trên địa bàn xã Tân Mỹ.
Phạm vi không gian
Chuyên đề được nghiên cứu trên địa bàn Xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
Phạm vi thời gian
Các số liệu thứ cấp được thu thập trong những năm: 2010 – 2015
Các số liệu sơ cấp được thu thập trong những năm: 2016
Nghiên cứu đề xuất giải pháp đến năm 2020
Thời gian thực hiện chuyên đề: 03/05/2016 – 18/ 05/ 2016
PHẦN 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tân Mỹ nằm trên địa hình chủ yếu là núi đá vôi và đất đồi thấp, nghiêng dần theo hướng Tây Bắc –
xuống Đông Nam, có độ cao trung bình từ 100-250m so với mực nước biển. Địa hình chia cắt phức tạp
tạo thành nhiều khe và dốc.
Có 3 xóm thuộc vùng 135: xóm Bu, xóm Lọt, xóm Trội.
Vùng 2 gồm 18 xóm, Phía Đông chiếm 85% diện tích đất sản xuất của xã, chủ yếu là đồi núi thấp chỉ
canh tác được cây lúa, cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
Vùng 3 gồm 3 xóm phía Tây Nam của xã chiếm 15% diện tích đất sản xuất của xã, chủ yếu là đất
ruộng 1 vụ, canh tác được 1 vụ lúa mùa và một vụ trồng màu.
2.1.1.1
Khí hậu, thời tiết, thủy văn và tài nguyên.
a. Khí hậu, thời tiết
Là một xã nằm trong vùng trung du và miền núi giáp ranh giữa 3 vùng Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ và
Bắc Thanh Hóa nên mang đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng
của gió mùa đông bắc, do vậy mà khí hậu Tân Mỹ được chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa nóng bắt đầu từ
tháng 5 đến tháng 10, ngày nóng nhất có thể lên đến 39ºC-40ºC. Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến hết
tháng 4, ngày có nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 6ºC-7ºC.
b. Thủy văn
Xã có nguồn nước khá dồi dào, chủ yếu lấy từ các con suối nhỏ và các hồ như: hồ Đập Đút, hồ Nạch,
hồ Cai,…và lấy từ Trạm thủy luân Nại phục vụ chính cho sản xuất nông nghiệp, khá thuận lợi cho tưới
tiêu.
Lưu lượng nước các con sông, suối phụ thuộc theo mùa mưa, nước dâng nhanh thường hay ngập úng
ở một số vùng trũng. Mùa khô nước bị cạn kiệt, dòng chảy nhỏ, khả năng giữ nước kém gây hạn hán trên
diện rộng kéo dài
c. Tài nguyên
2
3
Diện
Cơ cấu
Diện
Cơ cấu
Diện
Cơ cấu
tích (ha)
(%)
tích (ha)
(%)
tích (ha)
(%)
14/13
Tổng DT
đất tự
3124.84 100.00 3124.84 100.00 3156.17 100.00 100.00
nhiên
Đất NN 2773.15 88.75 2773.15 88.75 2727.37 86.41 100.00
Đất sản
901.99
28.87
901.99
28.87 1023.08 32.42 100.00
xuất NN
287.76
9.21
390.85
12.38 100.00
NN
Đất thổ
55.36
1.77
55.36
1.77
167.36
5.30
100.00
cư
Đất
chuyên
148.92
4.77
148.92
4.77
146.76
4.65
100.00
dùng
Đất nghĩa
19.50
0.62
19.50
0.62
16.05
87.97
113.42
30.05
136.98
23.37
51.73
6.68
100.61
0.74
135.82
10.27
303.31
2.95
98.55
4.73
Hộ NN
Hộ
Hộ phi NN
Hộ
Tổng số nhân Ngư
Năm 2013
SL
CC
(%)
1566
100
1488
95,02
78
4,98
7288
100
Năm 2014
SL
CC
(%)
1598
100
1470
92
128
8
7360
100,44
98,78
119,53
97,4
3
4
khẩu
Khẩu NN
Khẩu phi NN
Tổng số lao
động
LĐ NN
LĐ phi NN
Chỉ tiêu BQ
BQ khẩu / hộ
BQ LĐ/ hộ
ời
Ngư
ời
6705
483
4488
84,65
4039
449
90
10
3767
514
88
12
2531
633
80
20
93,27
114,48
67,19
123,15
80,23
118,82
5
Giáo dục và đào tạo
Trường mầm non: 1 trường (1 trường trung tâm và 2 chi trường tại các xóm)
Số học sinh hiện có: 461 cháu
Có 50 giáo viên
Diện tích: 12.202 m²
Trong đó, số phòng học đạt chuẩn: 18 phòng, số phòng học chức năng đã có: 4 phòng
•
-
Số diện tích sân chơi bãi tập đã có: 1.200 m²
Trường tiểu học: 2 trường (Trường A và trường B)
Trường tiểu học A Số học sinh hiện có: 257 em. Diện tích hiện có: 9.098 m². Số phòng học đã có
14 phòng. Trong đó, số phòng học đạt chuẩn 14 phòng, số phòng chức năng đã có 4 phòng, số
phòng cần xây mới 2 phòng. Số diện tích sân chơi bãi tập đã có: 2.500 m². Nhà để xe: 200 m².
Nhà vệ sinh: 150 m². Khu cấp nước còn thiếu hệ thống lọc nước uống cho học sinh. Hiện nay,
trường tiểu học A đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức độ I theo quyết định số 1103/QĐ-
-
UBND ngày 01/07/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh.
Trường tiểu học B Số học sinh hiện có: 232 em. Số diện tích hiện có : 8500m². Trong đó có cả
chi lẻ. Số phòng học đã có: 8 phòng. Trong đó: số phòng học đạt chuẩn: 8 phòng. Số phòng học
chưa đạt chuẩn: 0 phòng. Số phòng chức năng đã có : 0 phòng. Số phòng cần xây mới: 7 phòng.
Số diện tích sân chơi, bãi tâp đã có: 1.500m². Nhà để xe: có 200m². Nhà vệ sinh còn thiếu: 150m².
Khu cấp nước còn thiếu hệ thống lọc nước cho học sinh. Hiện nay trường tiểu học B chưa được
-
công nhận đạt chuẩn quốc gia.
Đường trục xóm, liên thôn, liên xóm: tổng chiều dài các tuyến là 19,03km/73,4km đã cứng hóa đtạ
25,92%, còn lại đã được trải vật liệu cúng như: rải sỏi cấp phối độ rộng nền và mặt đường đảm bảo giao
thông đi lại thuận tiên 1km. Đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa: Tổng chiều dài các
tuyến là 8,91 km/34,25km đã cứng hóa bê tông đạt 26%, được trung ương đoàn đầu xây dựng được 1
cây cầu liên xóm, còn lại được rải sỏi cấp phối, không lầy lội vào mùa mưa, đảm bảo giao thông đi lại
thuận tiện.
Đường giao thông trục chính nội đồng: Tổng chiều dài trục chính nội đồng các tuyến trong toàn xã
đạt 17km/17km bằng nền đất, giaothông đi lại còn gặp nhiều khó khăn trong mùa mưa lũ.
e. Hệ thống thủy lợi
Xã có 13 ao, hồ và công trình thủy lợi lớn nhỏ trong đó có 1 trạm thủy luân đang được tu sửa và nâng
cấp. xã có 03 trạm bơm tưới cho trên 200 ha ruộng 2 vụ trên toàn xã, như hồ Đút, Hồ Nạch, hồ Khang,
hồ Cuôi, hồ Cai…và 5 bai dâng nước cần được đầu tư, xay duạng, nâng cấp.
Tổng số km kênh mương là 53,3 km trong xã quản lí 21,5 km. đã kiên cố hóa được 7,07 km năm
2015 tiếp tục được nhà nước đầu tư xây dựng 29km dự kiến hoàn thành trong 2016; chiều dài mương của
toàn xã, để đáp ứng yêu cầu tưới tiêu, phục vụ sản xuất.
Văn hóa, xã hội
f.
Xã có xây dựng một nhà sàn truyền thống làm bằng bê tồng cốt thép với tổng diện tích là 135m², từ
năm 2011 đến nay được nhà nước đầu tư xây dựng với một nhà hội trường làm trung tâm học tập cộng
đồng xã, với diện tích 200m², xây dụng mới trụ sở làm việc ủy ban nhân dân xã 2 tầng với 11 phòng làm
việc và phòng họp tổng diện tích là 300m², xã có 1 sân thể thao với trung tâm xã với diện tích là
10.800m²; đỏ 900m² bê tông làm sân trong khuôn viên UBND, mua sắm bàn ghê làm việc cho các phòng
ban, bắn 148m² mái tôn trước nhà sàn nhà để xe UBND xã, xã có 8/21=38% nhà văn hóa xóm, 6 khu thể
thao xóm. Song, do điều kiện ngân sách của địa phương cũng cũng như vốn hỗ trợ đầu tư xây dụng của
nhà nước không có nên UBND xã và các xóm chưa có điều kiện, kinh phí để xây dựng được nhà văn hóa
xã và xây dựng thêm nhà văn hóa xóm, khu thể thao trung tâm xã, các khu thể thao của xóm.
quân
GTSX/Hộ/Nă
Trđ
Trđ
Trđ
Năm 2013
SL
CC
(%)
109,1 100
2
60,70 55,62
35,58 32,6
25,12 23,02
Năm 2014
SL
CC
(%)
123,2 100
Năm 2015
SL
CC
(%)
143,20 100
So sánh(%)
109,2
109,5
110.7
Trđ
4,30
3,94
5,00
4,05
10
6,9
116,3
200
158,1
5
134,5
5
Trđ
115,7
Trđ
Trđ/hộ
113,1
m
GTSX/người/n
ăm
2
/ năm
Trđ/hộ
/ năm
15,5
-
17,3
-
19,8
-
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp là thông tin có sẵn, đã được thu thập từ trước và đã được ghi nhận
Nguồn thông tin thứ cấp tôi thu thập được trong chuyên đề này là những thông tin, số liệu đã
được công bố. Cụ thể:
Thông tin
Tình hình sử dụng đất của xã
Dân số và lao động xã
Kết quả sản xuất kinh doanh của xã
Đóng góp của người dân trong xây dựng nông
thôn mới
Nguồn thu thập
Ban địa chính xã
Thống kê xã
Thống kê xã
Báo cáo tổng kết trong 5 năm xây dựng nông thôn
mới
Kết quả thực hiện kế hoạch năm 2013
Kế toán và tài chính xã
2.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên tôi tiến hành điều tra 10 hộ trên địa bàn xã Tân Mỹ để
tìm hiểu về việc phát huy vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới, thông qua bảng hỏi chuẩn
bị sẵn và phỏng vấn trược tiếp người dân
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin
Số liệu và thông tin thứ cấp: sau khi th thập tiến hành chọn lọc, phân loại, ghi chép và tổng hợp
qua phần mềm Excel.
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
động tạo ra động lực kinh tế trực tiếp khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong mỗi con người, động lực đó
càng vững chắc nếu lợi ích cá nhân được kết hợp đúng đắn với lợi ích tập thể và xã hội.
2.2.4.2 Phương pháp định tính
Phân tích sơ đồ VENN của PRA
Tôi sử dụng phương pháp này để nhận biết và đánh giá sự ảnh hưởng của các tổ chức cá nhân đến sự
phát huy vai trò của người dân trong xây dựng NTM được khách quan hơn.
Cách tiến hành:
Mời một nhóm người tới để chia sẻ quan điểm về mối quan hệ của họ với các tổ chức ở địa
phương cũng như tổ chức bên ngoài.
- Dùng một khổ giấy lớn để vẽ biểu đồ.
- Đặt người dân vào vị trí trung tâm bằng cách sử dụng một vòng tròn.
- Minh họa các tổ chức ở dịa phương hay các tổ chức bên ngoài bằng cách vẽ thêm các vòng
tròn.
- Dùng các hình tròn to nhỏ khác nhau để thể hiện tầm quan trọng của các tổ chức. Mức độ
đóng góp hay ảnh hưởng của các tổ chức được biểu hiện bằng khoảng cách gần hay xa từ các
vòng tròn thể hiện các tổ chức đến vòng tròn trung tâm.
Phân tích ma trận SWOT
-
Tôi sử dụng phương pháp này để phân tích điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội – thách thức của địa bàn
nghiên cứu. Từ đó ta có thể nhận diện được những khó khăn, thách thức phía trước và hiện tạ để có thể
thiết kế các định hướng cũng như giải pháp thực thi nhằm cượt qua khó khăn, thách thức.
Cách tiến hành:
- Chuẩn bị một ma trận với 4 ô vuông trên tờ giấy hoặc trên nền nhà
- Lần lượt viết lên 4 ô các chữ: mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội, thách thức
- Cùng suy nghĩ với người dân địa phương để tmf ra các ý kiến đóng góp để ghi vào từng ô
-Xem lại ma trận SWOT đã hoàn thành và thảo luận về những ý kiến đống góp một cách chi tiết
- Thảo luận về những lựa chọn để khắc phục các điểm yếu và thách thức, tận dụng và phát huy những
điểm mạnh và cơ hội tiềm năng.
2.2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu
- Vai trò của người dân trong công tác giám sát.
PHẦN 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
3.1.1 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta làm thay đổi bộ mặt của nông
thôn cho phù hợp với thời kỳ CNH –HĐH nông nghiệp, nông thôn. Để thực hiện thành công chủ trương
đó thì nông dân đóng vai trò rất quan trọng. Sự nghiệp xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí sẽ không
thực hện được nếu không có sự tham gia đóng góp của nông dân, vai trò đó được thực hiện qua những
nội dung sau:
Một là, nông dân là nguồn nhân lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông
thôn mới
Trong nền kinh tế ở nước ta, nông dân luôn là lực lượng lao động chủ yếu trong ngành nông nghiệp, là
nguồn nhân lực dồi dào, quan trọng, quyết định sự thành công trong xây dựng nông thôn mới. Những
năm gần đây, nhờ áp dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật, nông dân đã sản xuất ra nông sản ngày
càng nhiều, chất lượng cao đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Qua đó, nông
dân có điều kiện nâng cao thu nhập, tích lũy vật chất, ổn định cuộc sống và góp phần làm cho bộ mặt
nông thôn có nhiều khởi sắc, tạo cơ sở cho việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp.
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nông dân còn là nguồn lực to lớn trong việc tiến hành chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tiến tới xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng: tiếp tục phát triển
mạnh nông nghiệp, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và các hoạt động dịch vụ. Điều này đòi hỏi
người lao động phải mạnh dạn xóa bỏ cách nghĩ, cách làm cũ, thói quen tiểu nông, phải năng động nắm
bắt nhu cầu của thị trường và dự đoán được xu hướng vận động của nó; đồng thời cũng cần có vốn, kỹ
thuật, lao động để thực hiện bước chuyển đổi.
Ngoài ra, nông dân cũng chính là người trực tiếp ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật và
công nghệ vào trong sản xuất, tăng quy mô tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng được yêu cầu
của sự phát triển của đất nước.
Hai là, nông dân là người trực tiếp xây dựng, giữ gìn và bảo vệ kết cấu hạ tầng nông thôn
mới cũng cần phải tham khảo ý kiến của bà con nông dân; cần quy hoạch ra sao để nông thôn mới vừa kế
thừa được truyền thống dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố hiện đại, thuận tiện cho cuộc sống và sản xuất
của nông dân.
Bốn là, nông dân là những người trực tiếp tham gia đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền, các tổ
chức đoàn thể chính trị - xã hội
Tuyên truyền, vận động, giác ngộ để nhiều nông dân phấn đấu trở thành đảng viên làm cho lực lượng
đảng viên nông thôn ngày càng đông đảo. Người nông dân phải tích cực tham gia đóng góp ý kiến cho
đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể chính trị xã hội-nơi mình cư trú; tích cực tham gia cuộc đấu tranh
chống tham nhũng, tiêu cực làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nông dân phải tích cực
tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng quan điểm, đường lối của Đảng, các chính sách, pháp
luật của Nhà nước, đặc biệt là những vấn đề liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân,
góp phần sao cho những quan điểm đó phù hợp với những điều kiện của Việt Nam, của từng địa phương
và đáp ứng được những nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nông dân.
Giai cấp nông dân phải tích cực tham gia xây dựng bộ máy chính quyền từng làng, từng bản, từng xã
thật sự vững mạnh, luôn luôn giữ nghiêm kỷ cương phép nước, thực hiện dân chủ rộng rãi trong nhân
dân. Nông dân không chỉ là những người xây dựng mà còn là những người bảo vệ chính quyền - Nhà
nước.
Hiện nay, những thế lực thù địch đang tìm mọi cách chia rẽ các dân tộc, chia rẽ Nhà nước với nhân
dân. Chúng tìm mọi cách khơi dậy những mâu thuẫn, khác biệt giữa lợi ích của nông dân với Nhà nước
để gây nên tình trạng mất ổn định trong xã hội, cục bộ địa phương. Bà con nông dân cần nhận thức được
những âm mưu thâm độc này, bình tĩnh giải quyết những mâu thuẫn đó bằng con đường đối thoại, tránh
bị kích động, bị lôi kéo của kẻ thù.
Năm là, nông dân là chủ thể xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở các vùng nông thôn
Đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn là toàn bộ những hoạt động tinh thần của cư dân nông thôn
mà chủ yếu là nông dân. Đời sống văn hóa tinh thần ở các vùng nông thôn bao gồm: phong tục tập quán,
lối sống, quan hệ ứng xử giữa con người với con người, cách tư duy, hoạt động văn học - nghệ thuật ở
các vùng nông thôn v.v…
Quan hệ giữa những người nông dân là quan hệ tình nghĩa thân thiện, giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng nhau.
3.1.2 Thực trạng phát huy vai trò của người dân trong xây dựng NTM
Trong quá trình xây dựng NTM để phát huy tốt vai trò của người dân thì công tác tuyên truyền là
một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc thực hiện hoàn thiện các tiêu chí về MTQG xây
dựng nông thôn mới, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, và nhân dân thực sự hiểu sâu về ý
nghĩa và tầm quan trọng việc xây dựng nông thôn mới, vì vậy đã luôn được cấp ủy Đảng, chính quyền
trú trọng quan tâm, tổ chức triển khai thực hiện bằng nhiều hình thức như: Tuyên truyền bằng loa đài của
các xóm , treo băng rôn, khẩu hiệu, tổ chức lồng ghép trong các buổi họp xóm để tuyên truyền. UBND
xã đã xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện phong trào thi đua “ Xã Tân Mỹ chung sức xây dựng NTM”.
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức tuyên truyền xây dựng nông thôn gắn với cuộc vận động “ Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư”. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân thi đua thực hiện “ Nhà
sạch, vườn đẹp, môi trường trong lành, nõ xóm thông minh”.
Qua 5 năm triển khai thực hiện chương trình NTM đã xây dựng được 01 biển pa nô đặt tại trung
tâm xã và 21 xóm, treo nhiều băng rôn, khẩu hiệu, 8 áp phích tuyên truyền tại các nhà văn hóa xóm, cấp
phát 21 quyển sổ tay, tờ rơi về xây dựng NTM.. ... Cấp ủy Đảng, Chính quyền xã đã soạn thảo nhiều loại
văn bản và in ấn các loại văn bản, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện, cấp cho Ban chỉ đạo, Ban quản
lý xã và Ban phát triển các xóm, để cán bộ, người dân hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác
xây dựng Nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
Bảng 3.1 kết quả thăm dò ý kiến người dân về kênhh thông tin nhận được chương trình
NTM
Nội dung
Tổng số hộ điều tra
Người dân biết về chương trình
Có
xây dựng NTM
Không
Họp dân
Hình thức tuyên truyền
8
80
6
60
Số liệu điều tra thực tế
Qua bảng 3.1, thông tin điều tra thực tế tại địa phương tôi nhận thấy: 100% số hộ điều tra đều biết
về chương trình xây dựng NTM, chủ yếu là qua pa nô đặt ở các xóm.
Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế mà còn
nâng cao đời sống tinh thần của người dân. Đối với cơ sở hạ tầng như giao thông liên xóm, liên xã, hệ
thống thủy lợi, hệ thống điện, trường học, các công trình nhà văn hóa,...được xếp thứ tự là các hạng mục
ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu cần thiết của của đời sống dân sinh và sản xuất.
Nguồn lực huy động từ phía người dân được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, từ mức đóng
góp tiền mặt trực tiếp cho xây dựng CSHT, đóng góp ngày công, đóng góp đất và các tài sản có giá trị
khác. Mức đầu tư được phân bố đều cho các năm. Nhưng hiện nay để huy động được nguồn lực từ người
dân đang là bài toán khó, nguyên nhân chủ yếu là do thu nhập và đời sống của người dân vẫn chưa ổn
định, chưa đồng đều giữa các hộ.
Bảng 3.2 Nguồn lực huy động từ người dân địa phương(2011 -2015)
Chỉ tiêu
Tiền mặt
Công lao động
Đất
Chặt cây giải tỏa
Nâng cấp nhà ở
đường giao thông nông thôn, nội đồng đã thực hiện hoàn thành theo quy định của Bộ giao thông vận tải.
Thực hiện NTM giai đoạn đầu xã Tân Mỹ đầu tư xây dựng tuyến đường giao thông trên địa bàn
xóm Kho và xóm Ngheo với tổng chiều dài 949,7m. Trong xây dựng đường giao thông người dân đóng
góp tiền mặt mua các nguyên liệu và ngày công lao động cùng Nhà nước xây dựng đường giao thông
trong chương trình NTM.
- Đường trục xã, liên xã: Tổng chiều dài toàn tuyến là 5,77 km, trong đó đã cứng hoá bê tông
4,05km trải nhựa hóa theo tiêu chuẩn của Bộ GTVT Đạt 70,2%
- Đường trục xóm, liên thôn, liên xóm: Tổng chiều dài các tuyến là 17,78km/73,4 km đã cứng hóa
đạt 24,22%, còn lại đã được trải vật liệu cứng như: rải sỏi cấp phối độ rộng nền và mặt đường đảm bảo
giao thông đi lại thuận tiện. Từ năm 2011 đến 2014 đã làm mới và nâng cấp được 2 km
- Đường ngõ xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa: Tổng chiều dài các tuyến là 8,91
km/34,25km đã cứng hóa bê tông đạt 26%, còn lại được rải sỏi cấp phối, không lầy lội vào mùa mưa,
đảm bảo giao thông đi lại thuận tiện.
- Đường giao thông trục chính nội đồng: Tổng chiều dài đường trục chính nội đồng các tuyến
trong toàn xã là 17 km/17km bằng nền đất cứng giao thông đi lại còn gặp khó khăn trong mùa mưa lũ.
Tổng kinh phí đã thực hiện cho việc xây dựng mới, nâng cấp các tuyến đường giao thông nông
thôn trên địa bàn xã là 5.707 triệu đồng, trong đó: Nguồn từ chương trình XD NTM: 400 triệu đồng;
Nguồn ngân sách địa phương 650triệu đồng; Nguồn vốn lồng ghép các CT, DA: 945 triệu đồng; Nguồn
dân đóng góp: 1.350 triệu đồng (Gồm 5.250 ngày công lao động tính bằng tiền là 787 triệu đồng; Tiền
mua vật liệu cát, đá, sỏi 1.575 triệu đồng).
Bảng 3.3 Dự toán chi tiết cho công trình: cứng hóa mặt đường bê tông xi măng Giao thông
nông thôn xóm Kho, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn
Tên tuyến đường: Đường giao thông xóm Kho, chiều dài 650m
Tuyến 1: điểm đầu: nhà ông Chặng ( giáp cầu treo cũ) điểm cuối giáp Quốc lộ 12B
Tuyến 2: Điểm đầu: Nhà ông Kin – Điểm cuối đường437
Địa điểm xây dựng: Xóm Kho, xã Tân Mỹ
Loại đường bê tông xi măng mác 200, đá (sỏi) 2x4 cm chiều dày 16cm, Bm = 3,0 m
TT
lý , giám sát
Cộng
Làm tròn
ĐVT
Định
mức
Khối
lượng
Đơn giá
Kg
158196 103295
1300
m3
m3
m3
m3
m3
231,73
433,94
6,72
0,073
1
27,77
0,65
Thành tiền
Vốn nhà Vốn
nước
góp
134284020
Tổng cộng
dân
54.225288
84619080
13104000
237250
7956000
17628000
66339000
5553600
134.284.02
0
54225288
84619080
13104000
237250
7956000
6
7
8
9
10
Xi măng TW
PC30 X 18
Cát vàng
Đá 2x4
Khe co gián
Nước
Ván khuôn gỗ
đổ bê tông
Đá hỗn hợp
Nhân công đổ
bê tông, san
lấp
mặt
đường, đắp lề
Đầm bàn
Chi phí quản
lý , giám sát
Cộng
Làm tròn
ĐVT
Định
6,72
0,073
4,08
69,45
130,06
2,01
21,88
1,22
360000
300000
3000000
5000
3000000
25002780
39017077
6042133
109394
3668438
25002780
39017077
6042133
109394
3668438
m3
công
2560714
1198836
1198836
61917122
63115958
104184644 167300602
63116000
104185000 167301000
(Nguồn: Thông kê tài chính xã Tân Mỹ năm 2014)
Trên địa bàn xã hiện tại còn 3 xóm 135 chưa được bê tông hóa đường giao thông do khó khăn về
địa hình. Phấn đấu đến cuối năm 2016 sẽ bê tông hóa đường giao thông ở 3 xóm đó để về đích NTM.
Bảng 3.5. Huy động đóng góp từ người dân ở các tiêu chí trong giai đoạn 2011 - 2015
Tiêu chí
Thủy lợi
Trường học
Cơ sở vật chất văn hóa
Nhà ở dân cư
Thu nhập
Văn hóa
Đóng góp
3200 ngày công
346 trđ
480 trđ
25 tỷ đồng
33,5 tỷ đồng
- Trường tiểu học Tân Mỹ A được công nhận đạt chuẩn Quốc gia Mức độ I theo Quyếtđịnh số:
1013/QĐ-UBND, ngày 15 tháng 7 năm 2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Hoà Bình.
- Trường Mầm non được công nhận đạt chuẩn theo Quyết định số: 2616/2011/QĐ-UBND ngày 30
tháng 12 năm 2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Hoà Bình.
- Trường tiểu học Tân Mỹ B đạt chuẩn Quốc gia Mức độ I theo Quyết định số: 44/QĐ-UBND ngày
09 tháng 01 năm 2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Hoà Bình.
Về cơ sở vật chất văn hóa, với tổng kinh phí người dân đóng góp là 480 triệu đồng. Người dân tham
gia xây dựng cơ sở văn hóa qua các ngày công lao động, hỗ trợ tiền mua cát,sỏi,..
Xã có một Nhà sàn truyền thống làm bằng bê tông cốt thép với tổng diện tích là 135m 2, từ năm 2011
đến nay được nhà nước đầu tư xây dựng mới một Nhà hội trường làm trung tâm học tập cộng đồng xã
với diện tích 200m2, xây dựng mới trụ sở làm việc UBND xã 2 tầng với 11 phòng làm việc và một phòng
họp, tổng diện tích 300m2, xã có 01 sân thể thao tại trung tâm xã với diện tích 10.800m 2; Đổ 900m2 bê
tông làm sân trong khuôn viên UBND, mua sắm bàn ghế làm việc cho các phòng ban, bắn 148m 2 mái tôn
trước Nhà sàn làm nhà ăn và nhà để xe UBND xã; xã có 08 Nhà văn hóa xóm, 6 khu Thể thao xóm.
Về nhà ở dân cư, Với tiêu chí này người dân đóng góp lớn nhất là 25 tỷ nhằm xóa bỏ nhà tạm ở cho
dân cư. Đây là một tiêu chí hết sức quan trọng trong sự thành công của chương trình. Trong tiêu chí này
này người dân là chủ thể chính thực hiện Nhà nước chỉ hỗ trợ vốn cho người dân
Về thu nhập
Sau 5 năm thực hiện chương trình thu nhập của người dân đã tăng lên đáng kể từ 15,5 triệu đồng/
người(2013) lên 19,5 triệu đồng/người( 2015) với vốn đóng góp ban đầu của người dân là 33,5 tỷ đồng.
Về văn hóa, người dân xã Tân Mỹ tích cực tăng gia sản xuất, áp dụng các kĩ thuật mới vào sản
xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý. Điển hình là có các mô hình như trồng củ đậu, bí xanh, chăn
nuôi trâu, bò sinh sản, lợn thịt, cơ sở sản xuất chế biến nông, lâm sản, đúc Bê tông làm nhà sàn, vận tải
hàng hóa để làm tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình và địa phương.
Người dân xã Tân Mỹ tích cực hưởng ứng các phong trào phát động của xã như gia đình văn hóa,
xây dựng các công trình, hố tiêu đạt vệ sinh. Với vốn từ nhân dân đóng góp xây dựng cho tiêu chí văn
hóa là 2 tỷ đồng
Năm 2014 đạt gia đình văn hóa 1.131/ 1.560 hộ = 72,5%: xóm đạt tiêu chuẩn văn hóa là:15/21 xóm
- Một bộ phận người dân còn có tư thế ỉ lại vào Nhà Nước chưa nhận thức rõ được vai trò và trách
nhiệm của mình trong chương trình xây dựng NTM.
- Công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra “và hướng dẫn thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã có lúc, có nơi chưa thường xuyên, bám sát với nhiệm vụ đặt ra
trong kế hoạch, dẫn đến kết quả, chưa thực sự bảo đảm với yêu cầu đặt ra, còn chậm tiến độ so với kế
hoạch.
- Một số cán bộ, Đảng viên chưa hiểu và nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, vị trí, tầm quan trọng
của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, cùng với dân trí của một số bộ phận người dân còn
thấp chưa hiểu về xây dựng nông thôn mới; vẫn còn biểu hiện trông chờ sự hỗ trợ của cấp trên.
- Các mô hình phát triển kinh tế có hiệu quả chưa được nhân ra diện rộng, chủ yếu là sản xuất, nhỏ
lẻ, chưa tạo ra vùng sản xuất hàng hóa lớn. Lĩnh vực kinh tế tập thể hợp tác xã chưa có, tổ dịch vụ chưa
phát triển, hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa xây dựng được sự liên kết trong sản xuất, xây dựng thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
- Thực hiện nhà sạch, vườn đẹp, chỉnh trang đường làng ngõ xóm, xây dựng tường bao và vệ sinh
môi trường, xử lý rác thải còn một số xóm thực hiện còn chưa nghiêm theo quy định quy ước, hương ước
xóm.
- Chưa huy động được tối đa nguồn lực từ dân
3.3 Các khuyến nghị biện pháp nhằm giải quyết các tồn tại, hạn chế
Thực hiện tốt phương châm: ““ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân hưởng lợi”, thực hiện tốt quy chế
dân chủ trong xây dựng NTM.
+ Làm tốt công tác tuyên truyền
+Chi bộ, hội đồng xóm tổ chức xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng, công khai kế hoạch, tổ chức
hội nghị để bà con bàn bạc, thực hiện.
Nâng cao ý thức của người dân
Người dân có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng NTM. Vì vậy khuyến khích sự tham gia
của người dân, phát huy tốt vai trò của người dân là rất cần thiết.
Do vậy để nâng cao được ý thức của người dân cần phải tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục
PHẦN 4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
Qua tìm hiểu và nghiên cứu về thực trạng phát huy vai trò của người trong xây dượng Nông thôn
mới trên địa bàn xã Tân Mỹ, Lạc Sơn, Hòa Bình tôi có rút ra một số kết luận như sau:
Trong thời điểm hiện nay thì việc xây dựng NTM vẫn là một chủ trương đúng đắn của Đảng và
Nhà Nước, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, do đó đã nhận được sự đồng tình, nhất trí cao
của cán bộ và nhân dân địa phương. Nhờ đó đến nay xã đã đạt được 15/19 tiêu chí, phấn đấu về đích vào
cuối năm 2016.
Người dân tham gia tích cực vào các hoạt động xây dựng NTM tại địa phương : Tham gia góp ý
kiến tại các cuộc họp dân, tham gia lập kế hoạch và công tác quy hoạch xây dựng NTM. Tham gia đóng
góp sức người, sức của vào, tham gia giám sá, tham gia vào việc bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên,.
Trong xây dựng NTM. Đó là những hoạt động quan trọng có ý nghĩa xuyên suốt và quyết định đến sự
thành công của chương trình. Qua các hoạt động này cũng cho thấy vai trò của người dân trong xây dựng
NTM ngày càng được phát huy một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên trong xây dựng NTM vẫn bên cạnh những mặt thuận lợi còn gặp không ít khó khăn do
ý thức của người dân chưa cao, kinh phí hỗ trợ cho chương trình còn thấp, kinh tế hộ chưa phát triển...
.nguyên nhân chủ yếu do trình độ dân trí còn thấp, vai trò của người dân chưa được phát huy đúng cách.
Công tác tuyên truyền đến người dân về chương trình xây dựng NTM còn hạn chế, khả năng nắm bắt
chưa nhanh, kinh tế chậm phát triển làm ảnh hưởng phát huy vai trò của người dân trong chương trình
XD NTM.
Từ thực tế nghiên cứu chuyên đề, tôi đã đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm phát huy vai
trò của người dân trong xây dựng NTM một cách hiệu quả nhất:
- Thực hiện tốt phương châm: ““ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân hưởng lợi”, thực hiện tốt quy
chế dân chủ trong xây dựng NTM.
+ Làm tốt công tác tuyên truyền
+Chi bộ, hội đồng xóm tổ chức xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng, công khai kế hoạch, tổ chức
hội nghị để bà con bàn bạc, thực hiện.
-
4.2 Kiến nghị
Đối với Nhà Nước
Cần xây dựng cơ chế chính sách đồng bộ đặc thù áp dựng cho các xã xây dựng NTM để đẩy nhanh
tiến độ đồng thời ban hành các chính sách, văn bản hướng dẫn cụ thể có liên quan đến huy động
nguồn vốn xây dựng NTM ở nông thôn như: chính sách huy động nguồn lực, khuyến khích ưu đãi
đầu tư, chính sách quản lí và sử dựng nguồn lực.
Chỉ đạo các bộ, nghành, các cấp liên quan phối hợp với nhau và phối hợp với người dân.
Đối với chính quyền địa phương
Đối với xã, các tổ chức , ban, nghành, đoàn thể trong xã cần quan tâm hơn nữa vai trò của người dân
trong xây dựng mô hình NTM nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân ,cần đôn đốc người dân đưa vốn
đầu tư, khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo việc làm trong xã, vốn đầu tư tới tay người dân và giảm bớt
các khâu trung gian.
Đối với các xóm, cần nâng cao trình độ quản lý. Thành lập các đội tự quản theo nhóm dân cư để phát
huy tốt hơn vai trò của người dân trong các hoạt động. Cần có các hoạt động thi đua khuyến khích người
dân tham gia.
Đối với người dân
Cần tham gia tích cực hơn nữa vào các hoạt động trong chương trình xây dựng NTM ở địa phương.
Nhận thức rõ hơn nữa về trách nhiệm và vai trò của mình trong công cuộc cxaay dựng NTM, từ đó có thể
phát huy tốt hơn nữa vao trò của mình vào công cuộc xây dựng NTM.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Thị Hằng (2016), Vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện gia
2.
3.
4.