ĐẢNG bộ TỈNH TRÀ VINH PHÁT HUY VAI TRÒ của PHỤ nữ TRONG sự NGHIỆP đổi mới dưới ÁNH SÁNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TÊN ĐỀ TÀI

ĐẢNG BỘ TỈNH TRÀ VINH PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
PHỤ NỮ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI DƯỚI ÁNH SÁNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Sư phạm Giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204

Giáo viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Th.S.GVC. TRẦN KIM TRUNG

TRẦN THỊ KIM HẰNG
MSSV: 6055351

CẦN THƠ- 04/2009

1


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
quý thầy, cô trong khoa Khoa học chính trị mà trước hết đó là Thầy Trần Kim
Trung – người đã hướng dẫn tận tình, đôn đốc tôi để luận văn sớm hoàn thành.
Bên cạnh đó tác giả nhận được sự giúp đỡ, động viên của tập thể lớp sư phạm

1.2 Sự đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong cách mạng Việt Nam .......14
CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH TRÀ VINH PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
PHỤ NỮ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ..............................................................16

2.1 Những điều kiện kinh tế, văn hóa-xã hội ảnh hưởng đến lực lượng phụ nữ
ở tỉnh Trà Vinh ..................................................................................................16
2.2. Chủ trương và chính sách của Đảng bộ; chính quyền tỉnh Trà Vinh về
xây dựng và phát huy vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới ..........................23
2.3 Vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới ở tỉnh Trà Vinh ........................27
2.4 Yêu cầu đặt ra để phát triển lực lượng phụ nữ Tỉnh ngày càng vững mạnh ..44
2.5 Phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy vài trò của phụ nữ
Trà Vinh trong sự nghiệp đổi mới......................................................................46
2.5.1 Phương hướng cơ bản ............................................................................46

3


2.5.2 Những giải pháp chủ yếu .......................................................................47
KẾT LUẬN.........................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................54
BẢN ĐỒ TỈNH TRÀ VINH................................................................................55

4


LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận
quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội. Bằng lao

năm nay.
Vì lí do đó, nên tôi đã chọn đề tài: “Đảng Bộ tỉnh Trà Vinh phát huy vai trò
của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh”. Để
làm luận văn tốt nghiệp đại học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của luận văn là nghiên cứu nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về phụ nữ, vai trò của phụ nữ Trà Vinh trong sự nghiệp đổi mới. Đưa ra một
số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát huy vai trò của phụ nữ
Trà Vinh hiện nay.
Để đạt được những mục đích luận văn cần đạt được những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ nội dung cơ bản trong Hồ Chí Minh về phụ nữ.
Thứ hai, phân tích đặc điểm của phụ nữ Trà Vinh hiện nay và vai trò của phụ
nữ trong sự nghiệp đổi mới.
Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp tích cực nhằm phát huy vai
trò của phụ nữ tỉnh Trà Vinh, để hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế - xã hội
đã đề ra.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu: chủ yếu các tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ và vai
trò của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới ở tỉnh Trà Vinh.
Phạm vi nghiên cứu: vai trò của phụ nữ Trà Vinh trong sự nghiệp đổi mới.
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phụ nữ. Những quan điểm của
Đảng bộ tỉnh Trà Vinh đối với phụ nữ. Luận văn kế thừa hợp lý những thành tựu
nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi chú ý nhiều
đến kết hợp các phương pháp lịch sử và logic, thống kê và phân tích, tổng hợp và so
sánh, gắn lý luận với thực tiễn để thực hiện nhiệm vụ của đề tài.

6

ở góc độ nghĩa vụ mà còn là quyền lợi: bầu cử, ứng cử, đào tạo, học hành, tham gia
vào các cấp lãnh đạo quản lý nhà nước… Người cũng mạnh dạn chỉ ra những nhược
điểm của họ như: trình độ văn hóa thấp, tâm lý tự ti, ỷ lại, hay nhận xét, đánh giá
quá khắt khe… Phụ nữ cần phải sửa chữa và cùng nhau tiến bộ. Đối xử bình đẳng
với phụ nữ không phải cái gì khác ngoài lòng tin cậy, đánh giá cao vai trò năng lực
phụ nữ, cảm thông với khó khăn, động viên và khơi dậy những năng lực tiềm tàng

8


của phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ vươn lên, nâng cao trình độ học tập hiểu biết
các tri thức, kiến thức văn minh của xã hội và tham gia vào quản lý, gánh vác các
công việc chung cùng với nam giới.
Trong xã hội thuộc địa nữa phong kiến, phụ nữ Việt Nam không có vị trí trong
xã hội cũng như trong gia đình. Nhân phẩm của họ bị chế độ thực dân tàn ác và luật
lệ phong kiến cổ hũ chà đạp. Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh
viết: “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược
thôn quê, ở đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của các quan cai
trị…”.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Dưới chế độ phong kiến và thực dân, phụ nữ bị áp bức
tàn tệ. Ngoài xã hội thì phụ nữ bị xem khinh là nô lệ. Ở gia đình thì họ bị kìm hãm
trong xiềng xích "tam tòng". Người còn nhấn mạnh rằng: "Dưới chế độ thực dân và
phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức bóc lột nặng nề
hơn"; "Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta
làm cách mạng". Lời đó của Bác chẳng những cho thấy rõ hơn ý nghĩa quyết định,
giá trị to lớn của cách mạng theo đường lối độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội
đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta, mà còn chỉ rõ giải phóng thực sự
phụ nữ Việt Nam là một trong những mục tiêu lớn của sự nghiệp đó.
Bên cạnh đó, phụ nữ còn có nhiều vai trò rất quan trọng là người mẹ, người
vợ hiền nuôi dưỡng hạnh phúc cho gia đình - tế bào của xã hội. Sức sống của thế hệ

Nam: “Nói phụ nữ là nói phân nửa của xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì
không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng
chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Hàng nghìn năm tồn tại và phát triển của dân tộc ta
đã chứng minh vai trò to lớn của phụ nữ trên nhiều bình diện - trong lịch sử , trong
đời sống xã hội và gia đình, trong phát triển văn hóa. Đặc biệt từ khi Đảng ta ra đời,
vai trò của phụ nữ có bước phát triển vượt bậc cả về nhận thức của xã hội và đóng
góp to lớn của chị em trong tiến trình cách mạng.
Năm 1920, Bác Hồ tìm thấy cho dân tộc con đường “muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Con
đường này khi Đảng ta ra đời được phản ánh trong cương lĩnh cách mạng đầu tiên
của Đảng là đánh đổ đế quốc thực dân Pháp và phong kiến tay sai làm cho nước ta

10


hoàn toàn độc lập, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa nước ta vào quỹ đạo phát
triển theo chủ nghĩa xã hội nhằm đem lại tự do, hạnh phúc thật sự cho toàn dân.
Đó là con đường cách mạng đúng đắn và triệt để nhất, nhưng cũng là quá trình
khó khăn, gian khổ, phức tạp và lâu dài. Đây là “cuộc chiến đấu khổng lồ”. “Để
giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân,
tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”. Trong đó có
phụ nữ là sức mạnh của cả nửa dân tộc.
Ngay những năm 1920, trong khi tuyên truyền giác ngộ toàn dân đứng dậy làm
cách mạng, đánh đổ thực dân đế quốc và phong kiến tay sai giành lại nền độc lập
cho dân tộc, Bác Hồ đã khẳng định “cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới
thành công”, “đàn bà trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều”. Và
Người kêu gọi:
“Chị em cả trẻ đến già - Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh”.
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay từ đầu Đảng đã đánh
giá đúng vai trò, vị trí và khả năng cách mạng của phụ nữ: “Lực lượng phụ nữ là

nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và đấu
tranh cho hòa bình. Đồng chí khẳng định với các Đảng Cộng sản trên thế giới:
“Chúng tôi sẽ gắng sức để làm cho phụ nữ lao động Đông Dương thực sự là chiến
sĩ bảo vệ hòa bình”.
Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt
Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống
thực dân, đế quốc, giành độc lập - tự do - dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao
động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn.
Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông
Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu
hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc
biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự
tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi,
nhà văn, nhà báo...
Trong quá trình đấu tranh tiến tới giành chính quyền về tay nhân dân, nhiều
hình thức tập hợp phụ nữ như phụ nữ dân chủ, phụ nữ phản đế, phụ nữ giải phóng

12


được thành lập đã tập hợp đông đảo chị em và là những tổ chức thể hiện sinh động
vai trò to lớn của phụ nữ.
Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940) lại xuất hiện nhiều nữ chỉ huy
xuất sắc như chị Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Thử...
Và tấm gương sáng chói mãi trong lịch sử cách mạng Việt Nam là tấm gương
của người Xứ ủy viên Nam Kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Nguyễn Thị Minh Khai.
Trong khởi nghĩa Nam Kỳ, chị bị địch bắt, hai lần địch kết án tử hình, hai án chung
thân không làm chị nao núng, chị vẫn bình tĩnh, hiên ngang trước quân thù.
Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, lần đầu tiên từ khi có Đảng thấy được
đội quân phụ nữ hùng mạnh đến mức nào. Cùng với nhân dân cả nước, các chị đứng

khai, thủ tiêu bí mật, xác người chết trôi lềnh bềnh trên các sông rạch. Đối với phụ
nữ, ngoài việc bị tra khảo, bị hãm hiếp, tù đày còn bị truy bức “ly khai” chồng con
đi tập kết, đi kháng chiến. Làng quê trở nên u tối, ngập chìm trong không khí khủng
bố, trả thù, đau thương và ngột ngạt.
Song song với việc phát động cuộc chiến tranh một phía, đánh vào những
người yêu nước và cách mạng, giặc tiến hành gom dân vào những trại tập trung trá
hình với tên gọi “khu trù mật” để dễ bề kiềm kẹp, khống chế, hòng tách dân ra khỏi
ảnh hưởng của cách mạng và để “tát cạn nước bắt cá”. Trong “khu trù mật” chúng
tiến hành phân loại quần chúng, tổ chức “ngũ liên gia bảo”. Đêm đến, mỗi nhà phải
treo đèn trước ngõ, canh gác, báo động, vây bắt người lạ mặt. Việc ra vào khu trù
mật bị kiểm soát gắt gao nhằm ngăn chặn việc liên lạc, tiếp tế cho “Việt Cộng”.
Bất chấp những chính sách tàn bạo của địch, bất chấp luật 10/59 – hình phạt
cao nhất dành cho những ai chứa chấp “Việt Cộng”, các má, các chị vẫn đào hầm bí
mật, làm vách đôi trong nhà, bằng mọi cách nuôi giấu, bảo vệ cán bộ, một lòng một
dạ sắt son với Đảng, với cách mạng. Mẹ anh hùng Dương Thị Lan, bằng tấm lòng
của người mẹ thương yêu bộ đội như con đẻ của mình, mẹ Lan đã len lỏi trong từng
ngõ xóm, mang đến từng lon gạo, từng viên thuốc, từng con cá, nắm rau, nuôi sống
hàng đại đội chiến sĩ trong vòng vây hãm, phong tỏa gắt gao của địch, liên tục từ
ngày này sang tháng khác. “Má chính ủy hậu cần” là cách gọi thân thương mà bộ
đội, chiến sĩ ta dành cho má. Má Võ Thị Phò, thường gọi là bà Tư, ở cồn Trẹt, xã
Thới Thuận, huyện Bình Đại. Trải qua bao nhiêu đợt khủng bố càn quét gom dân
vào “khu trù mật” rồi “ấp chiến lược”, nhà má bị giặc đốt phá năm, bảy lần mà má
vẫn ngoan cường bám trụ. Má Tư gắn bó với mảnh đất này không phải chỉ vì nơi
chôn nhau cắt rốn mà còn vì một lẽ đời cao cả hơn là để bảo tồn cơ sở cách mạng.

14


Đêm đêm trên cồn cát ven biển Thới Thuận, một ngọn đèn dầu cháy sáng làm ám
hiệu cho du kích, bộ đội biết tình hình để đi – về hoạt động. Ngọn đèn ám hiệu ấy



Dân chủ Cộng hòa năm 1946, tại điều 24 ghi rõ: phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội và gia đình”. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Chủ tịch Hồ
Chí Minh lãnh đạo đã đem lại quyền tự do, bình đẳng cho mọi người dân Việt Nam
trong đó có phụ nữ. Người chú trọng tới việc xác lập và đảm bảo quyền bình đẳng
của người phụ nữ, Người nói: “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình
đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc đấu
tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ là: “Một cuộc cách mạng khá to và khó vì
trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu
óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội. Vì không thể dùng vũ lực mà
tranh đấu”. Người phân tích rõ: Công bằng cho phụ nữ không có nghĩa là chia đều
công việc cho họ mà công bằng ở đây chính là sự phân công một cách hợp lý công
việc đến từng người tùy theo khả năng, hoàn cảnh cá nhân và sức khỏe. Sự bình
đẳng phải được thể hiện trên mọi mặt, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đánh giá sự ra đời của Luật hôn nhân và gia đình là một cuộc cách
mạng thuộc bộ phận đồng thời tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong
người đàn ông. Người kịch liệt lên án việc đánh đập người phụ nữ vì đó là những
hành vi phạm pháp. Để ngăn ngừa những hành động dã man đó, Người đề nghị:
“Hội Phụ nữ và đoàn thanh niên phải phụ trách tuyên truyền một cách rộng khắp
và bền bỉ cho mỗi gia đình hiểu rõ pháp luật nhà nước và thấm nhuần đạo đức xã
hội. Bà con trong làng xóm và trong hàng phố phải có trách nhiệm ngăn ngừa
không để những việc phạm pháp như vậy xảy ra. Bản thân chị em phụ nữ phải có ý
chí tự cường, tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình. Đối với những
người đã được giáo dục khuyên dặn mà vẫn không sửa đổi thì chính quyền cần phải
thi hành kỷ luật một cánh nghiêm chỉnh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên
quan tâm đến những tiến bộ của phụ nữ, Người kịp thời gửi thư khen và tặng huy
hiệu cho những cá nhân, tập thể phụ nữ có thành tích trong học tập, sản xuất và
chiến đấu. Người còn đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao trình độ tri thức cho phụ

nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ chỗ thấu hiểu nỗi cực khổ của người phụ
nữ dưới chế độ thuộc địa nữa phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm
đến việc xác lập và đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ. Người thường xuyên
chăm lo cho sự tiến bộ của phụ nữ nước nhà. Tình cảm và sự quan tâm của Người là
nguồn cổ vũ to lớn đối với chị em. Để xứng đáng với niềm tin của Người phụ nữ
Việt Nam hôm nay đang ra sức phấn đấu học tập, rèn luyện góp phần tích cực vào

17


sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
1.2 Sự đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong cách mạng Việt Nam:
Trong sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam dù là loại chiến tranh
nào, phụ nữ Việt Nam luôn thể hiện tinh thần kiên cường bất khuất, hăng hái vì
nghĩa cả, nên trong dân gian Việt Nam có câu truyền tụng phụ nữ Việt Nam: “Giặc
đến nhà đàn bà cũng đánh”.
Phụ nữ Việt Nam thuộc về số đông, chiếm vị trí quan trọng trong gia đình và
xã hội, dù thời bình hay thời chiến, không bao giờ thiếu được vai trò phụ nữ.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bác Hồ đặc biệt coi trọng vai
trò của phụ nữ Việt Nam: “Phong trào năm tốt của phụ nữ miền Nam, phong trào
ba đảm đang của phụ nữ miền Bắc là phong trào yêu nước nồng nàn và rộng khắp
lôi cuốn đông đảo phụ nữ hai miền thi đua sản xuất, phục vụ chiến đấu và trực tiếp
chiến đấu, góp phần to lớn vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ”. Bác
khẳng định rằng: "Non sông gấm vóc nước Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già
ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ".
Không chỉ đánh giá cao vai trò phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người
hiểu rất rõ năng lực, tiềm năng của phụ nữ Việt Nam, nếu được phát huy sẽ không
thua kém nam giới. Người nói: "Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người
phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có

số 414 người/km², tỷ lệ tăng dân số năm 2000 là 1,65.
Tỉnh có diện tích đất nông nghiệp: 117.000 ha đất trồng lúa, 7.119 ha đất trồng
màu, 24.900 ha đất trồng cây lâu năm, nhưng 2/3 đất ruộng bị nhiễm phèn và mặn,
điều kiện canh tác khó khăn cơ sở hạ tầng yếu, nhất là thủy lợi, nên sản xuất thấp,
năm 1991 trúng mùa chỉ đạt 2,64 tấn/ha, vòng quay đất chỉ đạt 1,16 vòng/năm. Tuy
nhiên những năm qua nhờ đầu tư thủy lợi, nên năm 1991 đã phá thế độc canh một
vụ lúa mùa, đưa diện tích tăng vụ lên 49.000 ha tổng sản lượng lương thực đạt
550.000 tấn.

21


Ngư nghiệp có tiềm năng khai thác lớn ở các sông rạch và ngoài biển, nhưng
năng lực đánh sâu đánh xa còn yếu, diện tích nuôi trồng khá (trên 46.000 ha) nhưng
mới sử dụng 50% diện tích, năm 1990-1991 phong trào nuôi tôm bán tăng sản phát
triển cần được tổng kết phát huy nhân ra.
Lâm nghiệp đã giao khoán phần lớn trong tổng số 24.490 ha đất rừng cho nông
dân sử dụng theo hướng kết hợp trồng rừng nuôi tôm, thời gian qua đã đầu tư khôi
phục được hơn 4.400 ha rừng bần – đước - lá. Nói chung rừng khôi phục chậm, bị
chặt phá, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái tỉnh.
Công nghiệp đã qua có chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông-ngưsản. Về quốc doanh tỉnh có hai nhà máy đông lạnh, hai nhà máy chế biến dầu dừa,
hai nhà máy xay xát gạo xuất khẩu cùng với các cơ sở chế biến nhỏ của tư nhân đủ
sức chế biến nông – ngư - sản. Đã hoàn thành đường dây điện quốc gia đến các
huyện, thị xã và 23 xã phường. Bưu điện được quan tâm đầu tư hệ thống điện tử tự
động thuận lợi quan hệ thông tin trong và ngoài tỉnh.
Tuy nhiên kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội yếu, thủy lợi, giao thông chưa đồng
bộ, các trục lộ chính từ tỉnh lỵ đi các huyện thường bị đứt, đi lại khó khăn vào mùa
mưa, điện phục vụ cho sản xuất của nhân dân chưa rộng.
Do sản xuất phát triển chậm, nên ngân sách thu không đủ chi (tháng 9-1992
thu 42 tỷ, chỉ gần 60 tỷ, mất cân đối 19 tỷ). Sau khi chia tỉnh các ngành tỉnh tạm ổn

Ở tỉnh Trà Vinh phần đông là đồng bào dân tộc khơmer nên có nhiều lễ hội
độc đáo hình thành nên bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam nói chung và của Tỉnh
nói riêng. Nơi đây có nhiều điểm du lịch đặc sắc nên thu hút khách đến tham quan
khá đông. Nền văn hóa đó đã tạo cho người phụ nữ Trà Vinh lòng nhân hậu, dịu
dàng và hiếu khách. [21]
Về đặc điểm của phụ nữ Trà Vinh:
Về Số lượng:
Năm 1971 dân số toàn tỉnh : 411.190 người, trong đó 215.200 người là phụ nữ
(52% dân số toàn tỉnh), phụ nữ dân tộc khơmer chiếm 12,4% dân số toàn tỉnh.
Năm 2000 dân số toàn tỉnh: 973.065 người, trong đó 496.170 người là phụ nữ
(51% dân số toàn tỉnh), phụ nữ dân tộc khơmer chiếm 11,8% dân số toàn tỉnh.
Năm 2006 dân số khoảng 1 triệu người, trong đó dân tộc Khmer chiếm trên
30%, phụ nữ chiến gần 52%/1 triệu dân (phụ nữ nói chung 453.927, phụ nữ từ 18
tuổi trở lên là 323.024 người).
Phụ nữ Trà Vinh chiếm trên 50% lao động xã hội, trên các lĩnh vực sản xuất

23


nông nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ.
Trong lực lượng nữ công nhân lao động, công chức viên chức, nữ trí thức
chiếm 42,7% trong tổng số lao động.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được đông đảo chị
em tham gia, trong đó xí nghiệp Thuốc lá, xí nghiệp Dược, xí nghiệp Đông lạnh và
một số cơ sở sản xuất khác lao động nữ chiếm 70-80%.
Về chất lượng:
Hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế ổn định đời sống được quan tâm
chú trọng, làm đòn bẩy thúc đẩy các phong trào khác của Hội. Từ khi tách tỉnh đến
nay Hội phụ nữ các cấp đã huy động 388,9 tỷ đồng vốn cho 332.939 lượt phụ nữ
vay, giải quyết hàng trăm ngàn lao động tại chỗ. Các tổ nhóm, câu lạc bộ như tổ hùn

tạo. Qua đó đã tạo được sự chuyển biến tích cực, nâng cao hiệu quả hoạt động của
các cấp ủy, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội.
Nhiệm kỳ 2001-2006, các cấp Hội phụ nữ trong tỉnh được khen thưởng: 19 cờ
thi đua xuất sắc, 3 bằng khen Chính phủ, 76 bằng khen của Trung ương Hội Liên
hiệp phụ nữ (LHPN) Việt Nam, 256 Bằng khen của UBND tỉnh Trà Vinh, riêng
phong trào Phụ nữ năm năm liền được TW Hội LHPN Việt Nam, UBND tỉnh Trà
Vinh tặng cờ thi đua xuất sắc và được Chính phủ tặng Huân chương lao động hạng
Ba.
Về cơ cấu tổ chức:
Hệ thống Hội trong tỉnh có ba cấp: cấp tỉnh, cấp huyện, thị xã và cấp cơ sở.
Riêng cơ quan Hội LHPN tỉnh Trà Vinh tổng số cán bộ công chức hiện nay có 19
người, được bố trí vào bốn phòng ban: Ban Văn phòng, Ban Tuyên giáo, Ban Gia
đình và Xã hội, Ban Tổ chức Cán bộ.
BCH Hội Phụ nữ các cấp từng nhiệm kỳ:
Nhiệm kỳ VI (1996 – 2002): Cấp tỉnh 17 chị, cấp huyện, thị 156 chị, cấp cơ
sở 948 chị.
Nhiệm kỳ VII (2001 –2006): Cấp tỉnh 31 chị, cấp huyện, thị 195 chị, cấp cơ
sở 1.240 chị.
Nhiệm kỳ VIII (2006 – 2012): Cấp tỉnh 35 chị, cấp huyện, thị 197 chị, cấp cơ
sở 1.396 chị.
Về trình độ văn hóa:
Đến thời điểm hiện nay, Châu Thành có trên 3.200 đảng viên, trong đó có gần
800 đảng viên nữ, số đảng viên nữ khối xã – thị trấn trên 640 đồng chí, trong khối

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status