LUẬN VĂN:
Phát huy vai trũ của nông dân trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn ở Bến Tre hiện nay
mở đầu
XXI, đòi hỏi Bến Tre phải nỗ lực xây dựng, hoàn thiện một hệ thống những chủ
trương, chính sách, phương hướng, giải pháp đồng bộ nhằm phát triển nông nghiệp,
nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Với tư cách là chủ thể, là lực lượng nòng cốt và
chủ yếu trực tiếp tham gia vào sự nghiệp này, điều quan trọng hơn hết là phải khơi
dậy cho được sự cố gắng, lòng nhiệt tình, tính năng động, tích cực sáng tạo của nông
dân Bến Tre. Bởi mỗi bước phát triển của nông nghiệp và nông thôn suy cho cùng
cũng là nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân. Nông dân là mục
tiêu, là động lực phát triển của nông nghiệp, nông thôn. Phát triển nông nghiệp và
nông thôn là do nông dân và vì nông dân. Vai trò của nông dân trong sự nghiệp CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn là vô cùng to lớn. Nhưng chỉ có một mình lực lượng
nông dân không thôi thì vẫn chưa đủ làm nên một kỳ tích. Hơn nữa, quá trình thực
hiện sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn dưới tác động của nền kinh tế thị
trường tất yếu buộc nông dân phải đối mặt với những thách thức không dễ gì tránh
khỏi đó là hiện trạng nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất; hiện tượng phân
hóa giàu nghèo, mất đoàn kết trong nội bộ nông dân; tình trạng ô nhiễm môi trường,
tệ nạn xã hội, Đây là những vấn đề lớn đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của
người nông dân. Vì vậy, sức mạnh của nông dân chỉ có thể nhân đôi và phát huy mạnh
mẽ khi có sự quan tâm sâu sát, sự hỗ trợ kịp thời và thường xuyên của các cấp, các
ngành địa phương, của cả hệ thống chính trị. Chỉ với tinh thần như thế mới có thể "
Phỏt huy vai trũ của nụng dõn trong sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn ở Bến Tre hiện nay ", đây chính là một trong những vấn đề cấp
thiết đang được đặt ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với Bến Tre.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và vấn đề
nông dân luôn tạo được sự quan tâm, chú ý của nhiều cấp, bộ ngành, nhiều nhà khoa
học. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của tập thể cũng như của các nhà
khoa học về nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở những góc độ khác nhau tiêu biểu
như:
+ Các công trình khoa học của tập thể:
nghiên cứu về hộ nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng không nghiên cứu sâu về
vai trò của nông dân và việc phát huy vai trò của nông dân trong CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn.
+ Một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ:
- "Sự chuyển hướng của giai cấp nông dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam" của Nguyễn Đức Hướng, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 1991.
- "Đặc điểm và xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân nước ta trong giai
đoạn hiện nay" của Bùi Thị Thanh Hương, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 2000
Các đề tài này bước đầu đi vào nghiên cứu sự phân hóa giàu nghèo, đặc điểm
của giai cấp nông dân trong giai đoạn đổi mới đất nước, làm rõ xu hướng biến đổi khách
quan của giai cấp nông dân Việt Nam trong thời gian tới, trình bày một số phương hướng
đưa giai cấp nông dân Việt Nam phát triển theo hướng XHCN, Các đề tài, luận án này
tuy bàn đến đối tượng là nông dân nhưng chưa đi sâu vào vai trò của nông dân cũng như
việc phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn.
Gần đây có luận văn thạc sĩ Triết học: "Phát huy vai trò của nông dân Thái
Bình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn" của
Đặng Thị Phương Duyên, Hà Nội, 2001. Luận văn đã đề cập đến vấn đề nông nghiệp,
nông thôn và nông dân Thái Bình trên con đường CNH, HĐH; thực trạng và giải pháp
phát huy vai trò của nông dân trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Thái Bình. Tuy nhiên, vai trò của nông dân trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
là như thế nào; những điều kiện để phát huy vai trò của nông dân trong CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn nói chung, ở một tỉnh nói riêng là vấn đề cần phải đi sâu hơn
nữa.
+ ở Bến Tre có:
- "Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VI " (5/1996).
- "Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VII" (12/2000)
ra cần được giải quyết trong giai đoạn trước mắt.
- Đề xuất những quan điểm định hướng và giải pháp cơ bản phát huy vai trò
của nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Bến Tre.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân là những vấn đề lớn và rất rộng. Trong
phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả giới hạn ở đối tượng nghiên cứu là nông dân
Bến Tre, nội dung nghiên cứu là xác định vai trò và việc phát huy vai trò của nông
dân Bến Tre trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt là nguyên lý của CNDVLS về vai trò của quần chúng
nhân dân.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử - lôgíc;
sử dụng tư liệu thực thế của các công trình nghiên cứu đã có nhất là của các cơ quan
ban ngành tỉnh Bến Tre.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ vai trò của nông dân Bến Tre trong sự nghiệp CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn ở Bến Tre.
- Đưa ra một số quan điểm định hướng, giải pháp cơ bản phát huy vai trò của nông
dân Bến Tre trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần vào việc tạo được sự nhận thức đúng đắn về vai trò của
nông dân Bến Tre. Từ đó giúp lãnh đạo địa phương đưa ra những chủ trương, giải
pháp giúp cho việc phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn ở Bến Tre hiện nay.
hưởng rất lớn đến thành tựu chung của cả quá trình CNH, HĐH đất nước. Xuất phát từ
điều kiện khách quan nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu gắn với nền sản xuất
nhỏ, tự cung tự cấp, quá trình đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN tất yếu đòi
hỏi Đảng ta phải tiến hành CNH, HĐH đất nước. Chỉ có tiến hành CNH, HĐH chúng ta
mới tạo dựng được một lực lượng sản xuất mới phát triển cao làm tiền đề vững chắc để
phát triển KT-XH, cải thiện đời sống cho nhân dân. ở nước ta trong quá trình CNH, HĐH
đất nước, một nhiệm vụ to lớn, có ý nghĩa cơ bản luôn phải được coi trọng là tiến hành
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Bởi vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân
luôn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò của nông nghiệp được Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định từ rất sớm, trong thư gửi điền chủ, nông gia Việt Nam ngày 11 - 4 -
1946, Người viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế nước ta lấy
canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào
nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu.
Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [35, tr.215]. Thật vậy, vai trò của nông nghiệp
được thể hiện trong những mặt sau đây:
Thứ nhất, nông nghiệp là ngành trực tiếp cung cấp lương thực, thực phẩm đáp ứng
được nhu cầu ăn - một nhu cầu thiết yếu nhất của con người mà cho đến nay và trong
tương lai vẫn chưa có ngành nào, lĩnh vực nào thay thế được vai trò của nông nghiệp.
Chính vì thế, việc Đảng ta ngày nay xác định phải bảo đảm an ninh lương thực trong mọi
tình huống là hoàn toàn có cơ sở.
Thứ hai, nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các ngành
kinh tế của đất nước, trong đó trước hết là công nghiệp. Bởi nông nghiệp là nơi cung cấp
nguồn nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến.
Không có nông nghiệp với tính cách là nguồn cung cấp đầu vào thì công nghiệp chế biến
không thể tồn tại và phát triển được.
Thứ ba, nông thôn nước ta là một địa bàn rộng lớn với gần 80% dân số sẽ là thị
trường to lớn cho việc tiêu thụ các sản phẩm quan trọng của các ngành công nghiệp và
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Trong đó Nghị quyết Trung ương bốn và Nghị quyết
sáu của Bộ Chính trị khoá VIII tiếp tục cụ thể hoá hơn về nội dung CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn. Nghị quyết khẳng định phải đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,
chỉ rõ nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm còn lại của
thập kỷ 90 là:
Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập
trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng
hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn về lương thực trong
xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường
trong và ngoài nước. Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh
học hóa, phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với công nghệ
ngày càng cao, phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống, xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn
minh, hiện đại [11, tr.87].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng mà đặc biệt là Nghị quyết Trung
ương năm (khoá IX) về “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
thời kỳ 2001 - 2010” đã tiếp tục làm rõ hơn nữa những quan điểm của Đảng về CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Trung ương năm đã đưa ra quan niệm tổng quát về
CNH, HĐH nông nghiệp và CNH, HĐH nông thôn. Nhiệm vụ của CNH, HĐH nông nghiệp
và CNH, HĐH nông thôn có quan hệ chặt chẽ và khăng khít, hoà quyện vào nhau. Trên cơ
sở khẳng định rõ những thành tựu cũng như những khuyết điểm, yếu kém và nguyên nhân
của những khuyết điểm, yếu kém đó, Nghị quyết Trung ương năm tiếp tục xác định các mục
tiêu, phương hướng, quan điểm và nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta lên
một tầm cao mới, nhằm tạo ra một bước đột phá, nhảy vọt mạnh mẽ để khai thác hết mọi
tiềm năng và nội lực của đất nước.
Qua gần 20 năm đổi mới, tiến hành CNH, HĐH nền nông nghiệp nước ta về cơ
bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, phát triển tương đối toàn diện và có bước tăng
đã luôn coi trọng vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ngày nay, vai trò đó không
những không mất đi mà càng được củng cố và khẳng định. Chính vì vậy CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn cần phải được tiếp tục quan tâm hàng đầu và nội dung của nó
phải thật sự đi vào chiều sâu, phải có những bước bứt phá tăng tốc mạnh mẽ, góp phần to
lớn vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước để phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.1.2. Phương hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở
Bến Tre trong giai đoạn hiện nay
Bến Tre là một tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long tiếp giáp biển
Đông với 65km chiều dài bờ biển. Địa hình Bến Tre bị chia cắt mạnh bởi bốn nhánh sông
Cửu Long đó là các sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên với tổng chiều dài hơn
300 km. Từ đó tạo nên vùng đất Bến Tre thành ba dải cù lao: cù lao Bảo, cù lao Minh và
cù lao An Hoá. Với một mạng lưới sông ngòi chằng chịt, trải qua nhiều thế kỷ những
dòng sông đã cần mẫn chuyên chở phù sa từ thượng nguồn của dòng MêKông hùng vĩ để
tạo nên vùng đất Bến Tre ngày nay phì nhiêu, màu mỡ với những cánh đồng bát ngát,
những vườn cây ăn trái sum suê, những vườn dừa bạt ngàn. Có thể nói những dòng sông
đi qua địa phận Bến Tre đã và đang giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống
kinh tế, văn hoá của nhân dân trong tỉnh đó là cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản
xuất nông nghiệp, cung cấp nguồn lợi thuỷ sản phong phú và đa dạng, đồng thời góp
phần làm tươi đẹp cảnh quan, điều hoà khí hậu của một vùng đất cù lao bốn bề sông
nước.
Mặt khác, khí hậu Bến Tre mang tính chất nhiệt đới gió mùa có một chế độ nhiệt
độ cao quanh năm ít khi biến động và có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Nhìn
chung, thời tiết ở Bến Tre ổn định ít biến động thất thường rất thích hợp cho phát triển
sản xuất nông nghiệp bởi ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa rất thuận lợi cho sự sinh
trưởng của các loại cây trồng, vật nuôi. Trở ngại đáng kể trong sản xuất nông nghiệp là
Nam bộ, Tây Nguyên và Trung trung bộ” [7, tr.397]. Ngày nay tiếp nối truyền thống năm
xưa, Tỉnh uỷ Bến Tre đã đề ra Nghị quyết 08 vào cuối năm 1999 phát động phong trào
“Đồng khởi mới” - một phong trào Đồng khởi phát huy mọi tiềm lực, mọi sức mạnh của
các tầng lớp nhân dân để tiến công vào mặt trận phát triển KT-XH, quyết tâm xây dựng
quê hương Bến Tre ngày một giàu đẹp, từng bước thu hẹp khoảng cách với các tỉnh trong
khu vực.
Với tinh thần cách mạng tiến công, ý chí quyết tâm chiến thắng nghèo nàn lạc hậu,
Đảng bộ và nhân dân Bến Tre trong những năm qua luôn chú trọng đẩy mạnh quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện. Văn kiện Nghị quyết Đại hội tỉnh
Đảng bộ Bến Tre lần thứ VI (5/1996) khẳng định:
Bến Tre là tỉnh nông nghiệp, trong những năm trước mắt phải rất quan
tâm đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Phát
triển toàn diện nông, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, thuỷ sản;
xây dựng có chọn lọc công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu;
mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở các thành thị và nông thôn [15,
tr.48].
Thành tựu đạt trong những năm đầu thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn là rất căn bản, đã tạo dựng nền tảng ban đầu cho những bước phát triển tiếp theo.
Nên trong phương hướng của Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Bến Tre lần thứ VII
(12/2000) đã tiếp tục khẳng định:
Cần tiếp tục đầu tư phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng
thâm canh, chuyên canh, xen canh thích hợp, tận dụng mặt đất, mặt nước làm
tăng giá trị trên một đơn vị sản xuất, tăng hiệu quả cạnh tranh của nông sản
hàng hoá. Từng bước công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Phấn đấu tạo mức tăng trưởng bình quân từ 5,5% - 6%/năm. Tập trung đầu tư
khai thác hai thế mạnh: kinh tế thuỷ sản và kinh tế vườn, tạo những bước đột
phá mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển [16, tr.52].
động mạnh mẽ các nguồn lực để đẩy mạnh đầu tư, đến năm 2000 giải quyết cơ bản các
yêu cầu về thuỷ lợi, giao thông nhất là giao thông nông thôn, về cấp nước sinh hoạt nông
thôn và vệ sinh môi trường, về phát triển hệ thống mạng lưới điện, Nội dung này được
cụ thể hoá xây dựng thành chương trình lớn “Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật chủ yếu
trên địa bàn nông thôn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2001 - 2005”. Dự kiến đến năm 2005 có
80% dân cư nông thôn được hưởng thụ những thành quả do chương trình này mang lại.
Từ đó tạo bước đột phá hình thành nên động lực mới thúc đẩy làm biến đổi về chất đối
với sự phát triển KT-XH nhằm đạt mục tiêu chung là khắc phục sự tụt hậu về kinh tế, xoá
đói giảm nghèo. Từng bước tạo dựng một diện mạo nông thôn mới ngày càng văn minh,
hiện đại, phát triển bền vững nhưng vẫn giữ được nét văn hoá độc đáo riêng của miền quê
sông nước.
1.2. Vai trò của nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn ở Bến Tre
Sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bến Tre trong giai đoạn hiện nay
là một quá trình đầy khó khăn và không kém phần gian khổ. Để đảm bảo cho việc thực
hiện thành công sự nghiệp cách mạng này đòi hỏi phải khai thác tối đa tất cả các nguồn
lực hiện có; phải có sự tham gia tích cực, đầy trách nhiệm của các cấp, các ngành và các
tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Trong đó vai trò của nông dân Bến Tre với tính cách là chủ
thể tham gia trực tiếp, là lực lượng nòng cốt tham gia vào quá trình này phải được khẳng
định một cách rõ nét và sâu sắc nhất.
1.2.1. Các nguồn lực của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn ở Bến Tre
Nguồn lực bên ngoài
Khi đề cập đến nguồn lực bên ngoài thực chất là đề cập đến các nguồn vốn đầu tư
của Trung ương, của các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Đối với Bến Tre trong
quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thì một trong những vấn đề được
quan tâm hàng đầu là cần có nguồn vốn lớn phục vụ cho đầu tư và sản xuất. Trong những
triển khai theo hình thức BOT trong nước với tổng vốn đầu tư ước khoảng 800 tỷ đồng,
còn lại tập trung vào một số lĩnh vực như: gia công chế biến hạt điều, nuôi thuỷ sản, xây
dựng chợ nông thôn, chế biến bột cá, ước tính trên 200 tỷ đồng.
Nhìn chung tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh các năm qua tăng liên
tục. Cơ cấu nguồn vốn huy động ngày càng được cải thiện theo hướng tăng tỷ trọng đầu
tư nước ngoài và liên doanh, liên kết ngoài tỉnh.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình thu hút vốn đầu tư của Bến Tre thời
gian qua chưa thật sự tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Nguyên nhân là do: kết cấu hạ
tầng KT-XH còn nhiều yếu kém, ngay cả các khu công nghiệp cũng chưa được chuẩn bị
tốt về hạ tầng, nguồn nhân lực thiếu và yếu, chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư đã ban
hành và thực tiễn còn có một khoảng cách, quỹ đất dành cho nhà đầu tư chưa được chuẩn
bị sẵn, chưa quan tâm đúng mức đến công tác hỗ trợ sau giấy phép đầu tư, sự phối hợp
giữa các ngành, các cấp trong tỉnh còn nhiều bất cập,
Để tiếp tục đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, khai thác các lợi thế sẵn có góp phần đẩy
nhanh tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Bến Tre cần thực hiện ngay các biện
pháp như: đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KT-XH; tập trung đầu tư cho lĩnh
vực giáo dục và đào tạo; thực hiện mạnh mẽ công tác cải cách hành chính; điều chỉnh các
chính sách đầu tư theo hướng thông thoáng hơn, cụ thể hơn ở từng địa bàn và lĩnh vực;
đẩy mạnh tiếp thị về chính sách và môi trường đầu tư đến các nhà đầu tư trong và ngoài
nước, trong đó chú trọng giới thiệu chính sách ưu đãi và danh mục dự án cụ thể, không
kêu gọi chung chung và tập trung thực hiện thật tốt những cam kết với nhà đầu tư.
Nguồn lực bên trong
+ Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
Bến Tre là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Nhìn trên bản đồ, tỉnh
Bến Tre có hình rẻ quạt mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, còn các nhánh sông lớn giống
như nan quạt xoè rộng ra về phía Đông. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.232 km
2
, phía Bắc
trong văn học mà còn thật sự là một thế mạnh trong phát triển kinh tế nông nghiệp của
tỉnh nhà. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên cả hai mặt diện
tích và sản lượng. Tính đến cuối năm 2004 diện tích vườn dừa ở Bến Tre là 35.885 ha với
sản lượng ước khoảng 241,66 triệu quả [5, tr.78].
Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa
nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam quan. Do biên độ sinh trưởng khá rộng, dừa có khả
năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Riêng vùng nước lợ đã tỏ ra có ảnh
hưởng tốt đến việc sinh trưởng của cây dừa và hàm lượng dầu của quả. Từ cây dừa đã mở
ra triển vọng rất lớn cho ngành công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp, các sản
phẩm từ dừa như: sản xuất dầu dừa, bột sữa dừa, thạch dừa, than thiêu kết, than hoạt tính,
chỉ xơ dừa và hàng thủ công mỹ nghệ từ cọng lá dừa, thân dừa, Do nền công nghiệp chế
biến còn non trẻ, nên việc chế biến các sản phẩm từ quả dừa ở Bến Tre thời gian qua còn
nhiều hạn chế. Cho nên rất cần sự đầu tư hơn nữa mới tạo được nhiều sản phẩm hàng hoá
từ dừa với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Song song với cây dừa, Bến Tre còn nổi tiếng về cây ăn trái tập trung ở các huyện
Chợ Lách, Châu Thành và một phần Thị xã, đặc biệt là huyện Chợ Lách. Đây là vùng
nước ngọt quanh năm, đất đai phì nhiêu màu mỡ. ở đây, nông dân đã tạo nên những vườn
cây ăn trái có năng suất cao, giàu về chủng loại, có nhiều loại trái cây có chất lượng cao
đã được khẳng định trong ca dao “sầu riêng, măng cụt Cái Mơn” như là thương hiệu
riêng có của Bến Tre. Nói chung, nửa phần đất phía trên của cù lao Bảo như Giồng Trôm,
Thị xã, Châu Thành và cù lao Minh như Mỏ Cày, Chợ Lách, đều thích hợp với cây ăn
trái. Có các loại cây trồng chủ yếu với giá trị kinh tế cao như sầu riêng, măng cụt, bưởi da
xanh, trên một diện tích tính đến cuối năm 2004 là 40.451 ha với sản lượng là 375.147
tấn. Từ việc chăm trồng cây ăn trái những người làm vườn nhất là ở Chợ Lách đã tạo nên
một nghề mới - nghề chiết ghép cây, ghép cành, lai tạo các giống cây mới, các giống hoa,
cây cảnh, bon sai. Do vậy, Bến Tre không chỉ là nơi cung cấp những loại trái cây quý và
ngon mà còn là nơi sản xuất cây giống cho các tỉnh Tây Nam bộ, Đông Nam bộ và Tây
không đồng bộ đặc biệt là thiếu hệ thống thuỷ lợi nội đồng hoàn chỉnh và nhìn chung là
chưa ngang tầm với yêu cầu của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đang đặt
ra.
Về giao thông: đối với Bến Tre mạng lưới vận tải đường thuỷ so với các tỉnh trong
khu vực là một thế mạnh do được thiên nhiên ưu đãi với cả một hệ thống sông ngòi
chằng chịt. ở thị xã Bến Tre có thể di chuyển đến các huyện, xã, thậm chí đến các xóm ấp
bằng phương tiện sà lan hoặc ghe thuyền có trọng tải từ 100 - 200 tấn; từ Bến Tre có thể
đi đến các tỉnh miền Tây Nam bộ bằng đường thuỷ. đối với mạng lưới giao thông đường
bộ bao gồm quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã có tổng chiều dài 4.037 km.
Trong đó có 2 tuyến đường quốc lộ với chiều dài 131 km, 6 tuyến đường tỉnh với chiều
dài 170,6 km, 28 tuyến đường huyện với chiều dài 419,9 km, đường vào UBND xã,
đường xã và đường trong xóm ấp có tổng chiều dài 3.309 km. Đến nay các đường quốc
lộ, đường tỉnh, đường huyện đều được thông suốt. Đường xã và liên xã về cơ bản đã
được nhựa hoá, bê tông hoá nhưng vẫn còn 5 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm
xã. Tuy nhiên do địa hình Bến Tre có rất nhiều sông rạch chia cắt, cho nên giao thông
đường thuỷ thuận lợi bao nhiêu thì giao thông đường bộ khó khăn bấy nhiêu. Vì vậy,
muốn có một hệ thống giao thông đường bộ thông suốt thì phải có một hệ thống cầu nối
liền đường bộ tương ứng. Vì vậy, hiện nay, việc xây cầu Rạch Miễu vượt sông Tiền và
tiếp theo xây cầu Hàm Luông thay thế các bến phà hiện hữu nhằm phá thế biệt lập giữa
Bến Tre với các tỉnh trong khu vực; đồng thời quá trình xoá cầu khỉ ở vùng nông thôn
thay thế bằng cầu thép không gian, cầu treo cho cả hệ thống sông, kênh rạch khắp địa bàn
nông thôn Bến Tre đang là một thách thức đối với Bến Tre trong phát triển KT-XH,
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Về điện lực: Để CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhu cầu về điện là cực kỳ
quan trọng. Từ cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu tiếp quản từ chế độ cũ, sau 30 năm củng
cố và xây dựng ngành điện lực Bến Tre không ngừng phấn đấu nỗ lực vượt qua khó khăn
từng bước phát triển mạng lưới điện cao thế, trung thế, hạ thế trên cả ba dải cù lao. Với
Hoàng Chí Bảo, "Ngoài thể lực và trí lực, cái làm nên nguồn lực con người là kinh nghiệm
sống, đặc biệt là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, là nhu cầu và thói
quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào việc tìm tòi,
cách tân các hoạt động, sáng tạo ra các giải pháp mới đối với công việc như một sự sáng tạo
văn hóa" [2, tr.15]. Xét theo ý nghĩa đó, nguồn lực con người bao hàm trong đó toàn bộ sự
phong phú, sự sâu sắc, đổi mới thường xuyên các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ
chức và quản lý, Trong quan niệm này, tác giả nhấn mạnh đến kết cấu bên trong của nguồn
lực con người.
Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
VIII) nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: Nguồn lực con người là quý báu nhất.
Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt
đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một
nền khoa học - công nghệ hiện đại. Quan niệm này nêu lên một cách toàn diện những yếu
tố cần có của người lao động - nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia.
Từ một số cách tiếp cận và những nội dung đã dẫn trên, có thể hiểu: Nguồn lực
con người là phạm trù dùng để chỉ số dân, cơ cấu dân số, đặc biệt là chất lượng người với
tất cả những tiềm năng, năng lực và phẩm chất làm nên sức mạnh của nó trong sự phát
triển xã hội.
Với cách hiểu này, khái niệm nguồn lực con người có nội dung rộng, đề cập tới
những mặt cơ bản sau:
- Thứ nhất, nguồn lực con người được biểu hiện ra là người lao động, là lực lượng
lao động (với con người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động), là người lao động
(đội ngũ lao động hiện có và sẽ có). Nói đến nguồn lực con người còn nói đến quy mô
dân số và tốc độ tăng dân số trong một thời kỳ nhất định của một quốc gia, một địa
phương.
- Thứ hai, nguồn lực con người phản ánh cơ cấu dân cư, nhất là cơ cấu lao động
trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế,
trình hoạch định chiến lược, đề ra mục tiêu, phương hướng, giải pháp cũng như tổ chức, triển
khai CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Có thể nói,
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay
thấp một phần phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ cán bộ này.
Trong những năm gần đây Bến Tre rất quan tâm đến việc trọng dụng nhân tài
được thể hiện bằng những chính sách, chế độ đãi ngộ cao, tạo sự hấp dẫn thu hút, mời gọi
người tài từ các địa phương khác đến Bến Tre công tác theo tinh thần của Quyết định số
4051/2001/QĐ-UB của UBND tỉnh Bến Tre "Về việc ban hành Quy định về chính sách
trợ cấp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có trình độ, năng lực tốt". Nhưng do Bến
Tre là tỉnh cù lao, biệt lập với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, kết cấu