LUẬN VĂN: Phát huy vai trũ của MTTQVN trong
thực hiện QCDC ở cơ sở MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nghĩa là dân làm chủ, dân
2000 trở lại đây mới lại được tiếp tục tăng cường hơn. Nhiều nơi, Ban Thường trực
UBMTTQ bị động, lúng túng trong việc đề ra biện pháp chỉ đạo cho phù hợp với tỡnh
hỡnh, đặc điểm của địa phương mỡnh.
Kể từ khi được Chính phủ ban hành ngày 11-5-1998 đến nay QCDC đó thực
hiện được hơn 6 năm. Tuy nhiên, theo Ban chỉ đạo thực hiện QCDC TW, 100% xó,
phường đó triển khai, nhưng chỉ có 38% làm tốt; 97% cơ quan hành chính nhà nước đó
thực hiện, nhưng chỉ có 29% làm tốt; 88% doanh nghiệp nhà nước đó triển khai, song
cũng chỉ cú 32% làm tốt; tớnh hỡnh thức cũn khỏ phổ biến trong nhiệm vụ triển khai
QCDC của cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ (công tác Mặt trận tham gia thực hiện
QCDC được thực hiện chủ yếu ở xó, phường) cơ sở. Việc kiện toàn củng cố, nâng cao
chất lượng hoạt động của Ban công tác Mặt trận, Ban TTND, UBMT làm cũn chậm:
một số cỏn bộ xó, phường chưa nắm được QCDC và công tác Mặt trận tham gia thực
hiện QCDC; hoạt động giám sát của Mặt trận và đoàn thể chính trị - xó hội ở xó cũn
rất yếu; cụng tỏc tuyờn truyền vận động nhân dân học tập nắm vững các quan điểm
của Bộ Chính trị, nội dung QLC trực tiếp trong quy chế cũn làm lướt, hỡnh thức; việc
lồng ghộp nội dung cụng tỏc Mặt trận tham gia thực hiện QCDC với 3 nội dung cuộc
vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" chưa chặt chẽ.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đó phối hợp với chớnh quyền cựng cấp tiến
hành sơ kết 3 năm và trong năm 2004 đó tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ
Chính trị, qua đó cũng cho thấy việc tiếp tục nghiên cứu mang tính tổng kết thực tiễn
và chỉ ra khuynh hướng phát triển, các giải pháp trong thời gian tới để Mặt trận phát
huy tốt hơn vai trũ của mỡnh trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở là việc làm mang
tính cấp bách cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, Đại hội IX đã tiếp tục khẳng định và
phát triển những chủ trương và quan điểm lớn về đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân
chủ trong thời kỳ đổi mới đã được đề ra tại các Đại hội VI, VII, VIII của Đảng để thực
hiện mạnh mẽ hơn nữa sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân và phát huy dân chủ - hai
mệnh đề then chốt trong đường lối chiến lược của Đảng ta để đưa đất nước đi lên.
Có thể nói, cả hiện tại và trong thời gian tới, nhu cầu và điều kiện khoa học
cũng như thực tiễn về hoàn thiện hơn nữa pháp luật về MTTQ trong thực hiện quy chế
hiện QCDC ở cơ sở dưới giác độ khoa học pháp lý với thực tiễn hơn 6 năm thực hiện
quy chế có thể nói cho đến nay chưa có công trỡnh nào. Do vậy, cú thể núi đề tài
nghiên cứu mà tác giả luận văn chọn: "Phát huy vai trũ của MTTQ trong thực hiện
QCDC ở cơ sở - xó, phường, thị trấn" là cụng trỡnh đầu tiên nghiên cứu vấn đề này
dưới giác độ khoa học lí luận về nhà nước và pháp luật một cách đầy đủ và có hệ
thống. Tuy nhiên, luận văn cũng phát triển trên cơ sở kế thừa các công trỡnh đi trước ở
một số vấn đề, chẳng hạn phát triển trên cơ sở kế thừa đề tài khoa học cấp bộ "Phỏt
huy vai trũ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện quy chế dõn chủ ở cơ
sở" về quan điểm chỉ đạo trong tham gia thực hiện quy chế của MTTQ, về lý luận về
vai trũ của MTTQ đối với dân chủ nói chung và dân chủ ở cơ sở nói riêng, về số liệu
cũng như đánh giá thực trạng 3 năm MTTQVN tham gia thực hiện quy chế và về
những giải pháp phát huy vai trũ của MTTQVN trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích:
1. Làm rừ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trớ, vai trũ, chức năng, nhiệm vụ của
Mặt trận trong HTCT về việc thực hiện QCDC ở cơ sở, phát huy QLC của nhân dân.
2. Làm rừ thực trạng hoạt động của MTTQVN trong việc tham gia thực hiện
QCDC ở cơ sở.
3. Xác định nội dung nhiệm vụ và đề ra những giải pháp khả thi nhằm phát huy
vai trũ tớch cực của UBMTTQ cỏc cấp, nhất là cấp cơ sở trong việc thực hiện QCDC
ở xó, phường, tăng cường đoàn kết, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên nhiệm vụ của luận văn là:
1. Nghiờn cứu về vị trớ, vai trũ, chức năng của Mặt trận với vấn đề dân chủ,
đoàn kết trong thời kỳ mới; trong việc tham gia thực hiện QCDC ở xó.
2. Nghiên cứu về việc UBMTTQ tham gia thực hiện QCDC ở xó, phường -
thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm thực tiễn.
3. Nghiên cứu về chủ trương, giải pháp nhằm phát huy vai trũ của Mặt trận
Chương 1
DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
VAI TRề CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở XÃ 1.1. DÂN CHỦ VÀ QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1.1. Khái niệm về dân chủ và dân chủ ở cơ sở
Khái niệm "dân chủ" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "demos", nghĩa là nhân dân và
"kratos" - chính quyền, quyền lực. "Demokratia" có nghĩa là quyền lực của nhõn dõn,
chớnh quyền của nhõn dõn. Dõn chủ là một chớnh quyền "của dõn, do dõn và vỡ dõn".
Như vậy, dân chủ là một thể chế do dân làm chủ và dân chủ trước hết là chế độ chính trị
trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, do nhân dân thực thi, tự bản thân thực thi
hoặc thông qua các đại biểu mà mỡnh bầu ra. Dõn chủ gồm cú dõn chủ trực tiếp và dõn
chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là hỡnh thức dõn chủ với những thiết chế, quy chế để
người dân thảo luận và biểu quyết những vấn đề chung của cộng đồng. Dân chủ đại diện
là hỡnh thức dõn chủ trong đó nhân dân cử ra (chủ yếu bằng bầu cử) người thay mặt
mỡnh nắm giữ quyền lực nhà nước. Cũn cú dõn chủ bỏn trực tiếp là hỡnh thức dõn chủ
thụng qua cỏc tổ chức chớnh trị - xó hội, tổ chức xó hội, tổ chức nghề nghiệp của các
tầng lớp nhân dân. Dân chủ có dân chủ tư sản và dân chủ XHCN. Đặc trưng của dân chủ
XHCN là quyền dân chủ của công dân không ngừng được mở rộng trong tất cả các lĩnh
vực hoạt động của Nhà nước, của xó hội mà cơ bản nhất là dân chủ về kinh tế. Trờn lĩnh
vực chớnh trị- xó hội, quyền tham gia quản lý nhà nước của dân và các đoàn thể nhân dân
ngày càng được mở rộng về phạm vi, về độ sâu và phong phú đa dạng về các hỡnh thức.
Dân chủ có thể hiểu là một cách thức và những điều kiện kèm theo để mọi người
dân tham gia bỡnh đẳng vào các công việc chính trị, kinh tế, xó hội với vai trũ là người
chủ xó hội. Khi một người nông dân cầm lá phiếu đi bầu cử một cách tự nguyện để lựa
chọn một cách tự do người đại biểu của mỡnh trong HĐND xó - cú nghĩa là quyền dân
rừ trong Hiến pháp là: thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dân
chủ, văn minh. Những mục tiêu đó đều có mối liên hệ gắn bó với nhau. Dân có giàu thỡ nước
với mạnh. Có dân chủ thỡ mới cú cụng bằng xó hội. Cú dõn chủ thực sự thỡ dõn mới giàu và
quốc gia mới mạnh. "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" [57,
tr.554]. Đất nước giàu mạnh, xó hội cụng bằng và dõn chủ là những yếu tố khụng thể
thiếu được của một nền văn minh. Với mục tiêu phấn đấu như vậy, việc phát huy dân chủ,
nhất là dân chủ ở cơ sở, được coi là chủ trương, biện pháp và là hành động tất yếu của
nhân dân và chính quyền trong quá trỡnh phỏt triển của đất nước ta.
Dân chủ được đảm bảo và phát huy bằng nhiều biện pháp. Việc thực thi dân chủ
luôn gắn liền với mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Ở nước ta hiện nay, HTCT
dựa trên thiết chế "Đảng lónh đạo, Nhà nước quản lý, nhõn dõn làm chủ". Việc phỏt huy,
thực hiện dõn chủ được tiến hành không tách rời thiết chế này.
Dõn chủ mang lại những lợi ớch to lớn cho xó hội. Phỏt huy dõn chủ là phỏt huy
sức mạnh vật chất và tinh thần trong dõn vỡ sự phỏt triển và giảm nghốo. Khi nhõn dõn
thực hiện quyền quyết định các công việc của làng, xó, ý thức làm chủ của dõn được
khẳng định rừ rệt. Với ý thức làm chủ, mọi sỏng kiến, nguồn lực của mỗi người dân, mỗi
gia đỡnh trong cộng đồng làng, xó được phát huy một cách tốt nhất để vượt qua những
thách thức và khó khăn nhằm đạt tới sự phồn thịnh, phát triển của cộng đồng. í thức làm
chủ sẽ là động lực quan trọng giúp họ gỡn giữ bảo quản tốt hơn thành quả đạt được. Một
ví dụ minh chứng là trường hợp xây dựng hệ thống thuỷ lợi nhỏ nội đồng. Các hộ sử dụng
nước được quyền tự quyết định đóng góp, tự quyết định mức thu thuỷ lợi phí, tự tiến hành
bảo quản và duy trỡ hệ thống cụng trỡnh tưới tiêu nội đồng. Với QLC trong việc khai thác
và quản lý việc sử dụng nước cho nông nghiệp như vậy, bà con nông dân thực sự thực
hiện QLC của mỡnh, nhiệt tỡnh đóng góp kinh phí, tổ chức quản lý hệ thống tưới tiêu một
cách hiệu quả nhất, giảm thiểu tối đa những chi phớ khụng cần thiết. Với ý thức làm chủ
thực sự, bà con nụng dõn cựng nhau gỡn giữ, bảo dưỡng công trỡnh được hoàn thành với
sự đóng góp tiền của và công sức của mỡnh, độ bền của công trỡnh được bảo đảm tốt hơn.
Khi thực hiện QLC người dân biết chăm lo và cú ý thức hơn về cuộc sống cộng đồng,
cùng nhau đoàn kết để giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế, xó hội cộng đồng. Với
dõn chủ đại diện), và các hỡnh thức tự quản của cộng đồng dân cư. Dân chủ cơ sở có ý
nghĩa vụ cựng to lớn, vỡ cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một
cách trực tiếp và rộng rói nhất.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Trải qua 60 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vỡ dõn dưới sự lónh đạo của
Đảng, nhân dân ta đó đạt được nhiều thành quả quan trọng: đất nước đó được độc lập tự
do, thống nhất và ngày nay toàn Đảng, toàn dân đang ra sức phấn đấu xây dựng một nước
Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh. Tuy nhiên, trong
quá trỡnh xõy dựng cũng bộc lộ những yếu kộm, khuyết điểm. Về tỡnh hỡnh đó, đồng chí
Đỗ Mười đó nờu rừ:
trong nội bộ Đảng và Nhà nước ta, tỡnh hỡnh tiờu cực, suy thoỏi phẩm
chất vẫn cú chiều hướng phát triển, nhất là tệ quan liêu và nạn tham nhũng, tác
hại không nhỏ đến việc củng cố nhà nước, làm nhân dân lo lắng, đang thực sự
là một nguy cơ đối với chế độ xó hội chủ nghĩa, đối với con đường mà nhân
dân ta đó lựa chọn [59, tr.4].
Tháng 3/1998, đồng chí Lê Khả Phiêu, cũng đó nờu bật tớnh cấp thiết của việc xõy
dựng QCDC cơ sở, đồng chí chỉ rừ:
quyền làm chủ của nhõn dõn cũn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều
lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây
phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa ngăn
chặn, đẩy lùi được. Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"
chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành pháp luật, cho nên chậm đi vào
cuộc sống. Tỡnh trạng mất dõn chủ, khụng để dân bàn bạc và quyết định
những công việc cụ thể liên quan trực tiếp đến đời sống của dân, bắt dân đóng
góp nhiều khoản vượt quá khả năng, lại không minh bạch về tài chính, thậm
chí xà xẻo vào những khoản tiền do dân đóng góp như ở một số xó thuộc tỉnh
Thỏi Bỡnh và vài nơi khác; tỡnh trạng để tồn đọng hàng vạn đơn khiếu tố bị
đùn đẩy không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời, không đúng; tỡnh
động, học tập, nơi nảy sinh nhiều yêu cầu bức xúc hàng ngày về đời sống kinh tế, xó hội,
chớnh trị, nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Cơ sở
là nơi nhân dân đang có nhiều đũi hỏi về làm chủ và cũng là nơi có điều kiện thực hiện
quyền dân chủ một cách trực tiếp và rộng rói nhất. Bộ Chớnh trị cũng chỉ rừ, thực hiện dõn
chủ ở cơ sở sẽ thúc đẩy cải cách hành chính, sửa đổi những cơ chế chính sách và thủ tục
hành chính không phù hợp với cuộc sống. Nhân dân ở cơ sở thực hiện QLC, tham gia kiểm
kê, kiểm soát sẽ tích cực xây dựng đảng, chính quyền, đoàn thể trong sạch, vững mạnh, tích
cực đấu tranh bài trừ tệ quan liêu, tham nhũng, lóng phớ, thực hành tiết kiệm. Muốn vậy,
cần ban hành QCDC ở cơ sở có tính phỏp lý, yờu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều
phải nghiêm chỉnh thực hiện.
Thực hiện Chỉ thị 30/CT-TW, UBTV Quốc hội (khoỏ X) ra Nghị quyết số 45-
1998/NQ-UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dõn chủ ở xó. Nghị
quyết giao Chớnh phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ với các định hướng nội dung
cụ thể. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết của UBTV Quốc hội, ngày
11/5/1998, Chính phủ đó ban hành NĐ số 29/1998/NĐ-CP (nay là NĐ số 79/2003/NĐ-
CP) về việc ban hành QCDC. NĐ nêu rừ: "Điều 1: Ban hành kèm theo NĐ này bản quy
chế thực hiện dân chủ ở xó. Điều 2: quy chế này áp dụng đối với cả phường và thị trấn"
[60]. QCDC ở cơ sở cũn bao gồm cả dõn chủ trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn
vị doanh nghiệp nhà nước với các văn bản qui định riêng.
Những văn bản trên đây từ chủ trương của Đảng đến việc thể chế hoá bằng các văn
bản pháp luật của Nhà nước thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với việc xây
dựng thể chế về dân chủ ở cơ sở. Thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra" thể hiện bản chất Nhà nước là nhà nước của dân, do dân, vỡ dõn.
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở gồm các văn bản quy phạm pháp luật qui định
những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở xó, phường, cơ quan hành chính
nhà nước và đơn vị doanh nghiệp nhà nước. Đó là những điều nhân dân phải được biết,
những việc nhân dân được bàn để nhà nước quyết định hoặc nhân dân được quyết định
và những việc nhân dân được giám sát, kiểm tra, nhằm phát huy QLC, sức sáng tạo của
nhân dân.
thực hiện quy chế ở cơ sở để phát huy mạnh mẽ vai trũ làm chủ của nhõn dõn trong việc
thực thi nền dõn chủ XHCN.
Thứ sáu, mục đích của việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xó là nhằm phỏt
huy QLC, sức sỏng tạo của nhõn dõn ở xó, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to
lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xó hội, cải thiện dõn sinh, nõng cao dõn trớ, ổn
định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xó
trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tỡnh trạng suy thoỏi, quan liờu, tham
nhũng của một số cỏn bộ, đảng viên và các tệ nạn xó hội, gúp phần thực hiện mục tiờu
dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh, theo định hướng XHCN.
Thứ bảy, quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ phải trong
khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; đi đôi với trật tự, kỷ cương; quyền đi đôi với nghĩa
vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dõn chủ, vi phạm Hiến phỏp, phỏp luật, xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể, quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của
công dân.
1.1.3. Nội dung của Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở ở xó
Quy chế thực hiện dõn chủ ở xó do Chớnh phủ ban hành ngày 15/5/1998 (nay là
NĐ số 79/2003/NĐ-CP) gồm Lời nói đầu, 7 chương và 25 điều. Về nội dung, quy chế quy
định những quyền của nhân dân ở cơ sở được biết và hỡnh thức biết những thụng tin liờn
quan đến pháp luật, chủ trương chính sách của nhà nước, đặc biệt là những thông tin liên
quan trực tiếp đến đời sống dân sinh. quy chế cũng quy định những việc để nhân dân bàn
và quyết định cũng như những hỡnh thức thực hiện; quy định những việc nhân dân ở cấp
xó cú quyền giỏm sỏt, kiểm tra và những phương thức để thực hiện giám sát, kiểm tra;
việc xây dựng cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, ấp và những hỡnh thức tổ chức. Đặc
biệt, để thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", quy chế quy
định cơ chế thực hiện dưới hai hỡnh thức dõn chủ trực tiếp và dõn chủ đại diện, trong đó ở
cấp cơ sở, dân chủ trực tiếp là quan trọng.
Quy chế dân chủ cơ sở quy định cụ thể các loại công việc để: dân biết, dân bàn,
dân giám sát, kiểm tra. Điều 1 Quy chế quy định: "quy chế này quy định cụ thể những
việc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xó phải thông tin kịp thời và công khai để
13. Bỡnh xột cỏc hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhà tỡnh
thương; thực hiện chính sách đối với gia đỡnh cú cụng với cỏch mạng, gia đỡnh liệt sĩ,
thương binh, bệnh binh được tặng nhà tỡnh nghĩa, sổ tiết kiệm, thể bảo hiểm y tế;
14. Kết quả lựa chọn, thứ tự ưu tiên và tổ chức thực hiện các công trỡnh thuộc cỏc
chương trỡnh, dự ỏn của Nhà nước, của các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho
xó.
Về dân bàn có 2 loại gồm:
- Một loại công việc do dân bàn và quyết định trực tiếp
- Một loại công việc do dõn bàn và tham gia ý kiến, HĐND và UBND xó quyết
định.
Các việc dân bàn và quyết định trực tiếp là các loại việc có huy động sự đóng góp
của dân để xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng hương ước, quy ước nội bộ. Đây là quy
định rất mới không những thực hiện QLC của nhõn dõn mà cũn chống được tệ nạn tham
nhũng, lóng phớ.
Loại công việc do dân bàn và quyết định trực tiếp bao gồm 5 điểm:
1. Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trỡnh phỳc lợi
cụng cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, cỏc cụng trỡnh văn hoá, thể
thao);
2. Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, nếp sống văn minh, giữ gỡn an
ninh trật tự, bài trừ cỏc hủ tục, mờ tớn dị đoan, tệ nạn xó hội;
3. Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quy định của
pháp luật hiện hành;
4. Thành lập Ban Giỏm sỏt cỏc cụng trỡnh xõy dựng do dõn đóng góp;
5. Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh giữ gỡn an ninh trật tự, an toàn giao thụng,
vệ sinh mụi trường và các hoạt động khác trên địa bàn xó, thụn
Loại cụng việc do dõn bàn và tham gia ý kiến, HĐND và UBND xó quyết định bao
gồm 9 điểm:
1. Dự thảo nghị quyết của HĐND xó;
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phỏt triển kinh tế - xó hội dài hạn và hàng năm của
địa phương;
4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại địa phương;
5. Dự toỏn và quyết toỏn ngõn sỏch xó;
6. Quỏ trỡnh tổ chức thực hiện cụng trỡnh, kết quả nghiệm thu và quyết toỏn cụng
trỡnh do nhõn dõn đóng góp xây dựng và các chương trỡnh, dự ỏn do Nhà nước, các tổ
chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xó;
7. Cỏc cụng trỡnh của cấp trờn triển khai trờn địa bàn xó cú ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất, an ninh, trật tự, văn hoá - xó hội, vệ sinh mụi trường và đời sống của nhân
dân địa phương;
8. Quản lý và sử dụng đất đai tại xó;
9. Thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhà nước, các khoản đóng góp
của nhân dân;
10. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng liên
quan đến cán bộ xó;
11. Việc thực hiện chế độ, chính sách ưu đói, chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh
binh, gia đỡnh liệt sĩ, những người và gia đỡnh cú cụng với nước, chính sách bảo hiểm xó
hội, bảo trợ xó hội.
Một nội dung quan trọng của quy chế là quy định hết sức cụ thể: a) Đối với những
việc cần thông báo cho dân biết, chính quyền xó cú trỏch nhiệm phối hợp với UBMTTQ,
cỏc thành viờn của MTTQ cựng cấp và Trưởng thôn cung cấp các thông tin để nhân dân
biết bằng các hỡnh thức cụ thể tại Điều 6 quy chế; b) Đối với những việc dân bàn và quyết
định trực tiếp quy chế quy định các phương thức cụ thể thực hiện những việc nhân dân
quyết định trực tiếp tại Điều 9; c) Đối với những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến,
chớnh quyền xó quyết định quy chế quy định phương thức thực hiện tại Điều 11; d) Đối
với những việc nhân dân giám sát, kiểm tra quy chế quy định phương thức thực hiện tại
Điều 13 và quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với việc giám
sát và kiểm tra của nhân dân tại Điều 14.
Quy chế dành hẳn một chương (chương VI) về việc xây dựng cộng đồng dân cư
thôn, làng, ấp, bản, khóm, tổ dân phố (gọi chung là thôn) quy định các hỡnh thức hoạt
cạnh tranh yếu.
Thực trạng tỡnh hỡnh hiện nay ở cơ sở nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn, tiêu cực,
những yếu kém. Người dân ở cơ sở vốn có trỡnh độ dân trí và trỡnh độ học vấn thấp (kể
cả cán bộ xó), vỡ thế gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận và hưởng thụ những thành tựu
văn hoá, khoa học, kỹ thuật hiện đại. Đa số các cơ sở do đời sống kinh tế khó khăn (nhất
là vùng núi, vùng sâu, vùng xa) dân chỉ lo kiếm sống, ít quan tâm đến vấn đề chính trị,
văn hoá, xó hội, họ thậm chớ khụng biết hưởng quyền dân chủ, không biết dùng quyền
dân chủ. Trong khi đó bộ máy chính quyền các cấp chưa thực sự vững mạnh, tỡnh trạng
tham nhũng, buụn lậu, lóng phớ, quan liờu cũn khỏ phổ biến. Hiệu lực quản lý, điều hành
kinh tế - xó hội và phỏp luật chưa nghiêm, kỷ cương xó hội bị buụng lỏng, niềm tin của
nhõn dõn vào sự lónh đạo của Đảng bị giảm sút. QLC của nhân dân bị vi phạm ở nhiều
nơi trên nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, đất đai, thu chi ngân sách, đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng, huy động vốn đóng góp của dân có nhiều biểu hiện tiêu cực.
Một bộ phận cán bộ đảng viên thoái hoá, biến chất, lợi dụng chức quyền, lợi dụng những
kẽ hở trong quản lý của nhà nước để tham ô, tham nhũng. Ở nông thôn là tỡnh trạng cỏn
bộ cơ sở bất chấp pháp luật, cấp bán đất trái thẩm quyền, chi tiêu tài chính sai mục đích và
lóng phớ. Mõu thuẫn nội bộ ngày một tăng dẫn đến hiện tượng khiếu kiện tập thể, gây ra
không khí rất căng thẳng phức tạp. Trong khi nhân dân đấu tranh chống tiêu cực, tham
nhũng, đũi quyền tự do dõn chủ, đũi đảm bảo công bằng xó hội thỡ kết quả khiếu kiện lại
chậm được giải quyết và giải quyết không thoả đáng làm cho xuất hiện các điểm nóng,
như ở Thái Bỡnh năm 1996 - 1997 có 208/285 xó dõn tổ chức khiếu kiện tập thể. Ở
những điểm nóng đó, tổ chức đảng mất vai trũ lónh đạo, bộ máy chính quyền bị tê liệt, sản
xuất bị đỡnh trệ, cỏc nghĩa vụ đóng góp với nhà nước không hoàn thành. Nội bộ nhân dân
bị chia rẽ, mất đoàn kết, tỡnh hỡnh an ninh trật tự, an toàn xó hội mất ổn định.
Đảng và Nhà nước ta đó nhận thấy những yếu kộm của dõn chủ ở cơ sở và nhận
thức được vai trũ quyết định của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong sự ổn định chính trị
và phát triển kinh tế - xó hội của đất nước. Và, khi QCDC được ban hành dưới hỡnh thức
là một văn bản có tính pháp lý thỡ hiệu lực của nú sẽ cao hơn. Sự ra đời của quy chế là
một bước đột phá quan trọng trong việc hiện thực hoá bản chất dân chủ của Nhà nước ta.
bạc thảo luận và quyết định trực tiếp hoặc tham khảo cho sự quyết định của cấp chính
quyền cơ sở, người dân đó từng bước học làm chủ, tập làm chủ và dần dần biết làm chủ.
Vậy là, nhân dân đó khụng chỉ tồn tại với tư cách là một người công dân thông
thường mà cũn với tư cách là người chủ thực sự về tư liệu sản xuất, người chủ thực sự về
chính trị và quyền lực chính trị. QLC của nhân dân biểu hiện trong việc thực thi chính trị,
quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xó hội ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương và của
mỗi cá nhân cụ thể. Người dân vừa là khách thể vừa là chủ thể của quyền lực nhà nước.
Lợi ích của mỗi thành viên, của từng tổ chức xó hội, giai cấp, tầng lớp đều nằm trong lợi
ích của toàn xó hội. Chớnh thực hiện tốt dõn chủ ở cơ sở tạo ra một cơ chế phát huy QLC
cho mọi công dân nhằm bảo đảm quyền lực chính trị của nhân dân lao động và góp phần
làm phong phú hơn hỡnh thức thực hiện quyền lực chớnh trị của nhõn dõn lao động. Rừ
ràng khụng thể chỉ nõng cao chất lượng của dân chủ đại diện là đủ mà cũn phải thực hiện
chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực và có hiệu quả mới bảo đảm tốt cho nhân dân
lao động làm chủ đích thực quyền lực của mỡnh.
Mặc dù cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp đều phản ánh nguyện vọng, ý chớ,
quyền lực của nhõn dõn, là phương thức thể hiện dân chủ XHCN, nhưng mỗi phương
thức lại có những ưu, nhược điểm khác nhau. Dân chủ đại diện dễ tổ chức thực hiện, dễ
tập trung thống nhất, nhưng lại khó bao quát hết thực tiễn đời sống cũng như ý chớ,
nguyện vọng của cỏc tầng lớp nhõn dõn. Dõn chủ trực tiếp thỡ ngược lại, khó tổ chức một
cách tập trung, khái quát nhưng lại bao quát được mọi khía cạnh của thực tiễn cũng như ý
chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Do đó dân chủ trực tiếp có khả năng thể hiện
một cách khách quan ý chí nguyện vọng của nhõn dõn khụng qua một hỡnh thức trung
gian nào, thể hiện một cỏch ưu việt nhất quyền lực của nhân dân lao động trong việc quản
lý xó hội, đúng theo quan điểm của Mác là khi đó quyền lực thực tế mới thuộc về dân,
nhân dân tự quản lý xó hội của mỡnh và xó hội được quản lý bởi nhõn dõn và vỡ nhõn
dõn.
Hai là, thực hiện dân chủ ở cơ sở là một giải pháp hạn chế sự tha hoá của quyền
lực nhà nước. Quyền lực chính trị của nhân dân lao động được thể hiện tập trung thông
qua quyền lực nhà nước. Với hỡnh thức dõn chủ đại diện, quyền lực nhà nước sẽ được
và dân gắn bó với nhau hơn, Đảng và dân gần nhau hơn, tin nhau hơn, nhờ vậy tổ chức
đảng thêm vững mạnh.
Nhiều cấp chính quyềnđịa phương đó rà soỏt, loại bỏ cỏc văn bản quy định không
cũn phự hợp với QCDC, cản trở QLC của dõn và cụng tỏc quản lý của cơ quan nhà nước,
công khai hoá các văn bản thủ tục hành chính, phí, lệ phí, thời gian giải quyết công việc,
lịch tiếp dân Tăng cường xuống cơ sở để nghe trực tiếp ý kiến dân, đối thoại, tháo gỡ
những vướng mắc của dân một cách kịp thời, làm cho mối quan hệ của dân với chính
quyền ngày một gắn bó, uy tín của chính quyền cơ sở được nâng lên và hoạt động của bộ
máy chính quyền có hiệu quả hơn trước.
Có thể nói, thực hiện dân chủ ở cơ sở là một cuộc cách mạng có tác dụng sâu sắc
đến ý thức và phong cỏch, phương thức lónh đạo của cấp uỷ, sự điều hành của chính
quyền cơ sở đối với sự tôn trọng QLC của người dân. Từ đó cán bộ sát dân hơn, bớt đi
thái độ hống hách, cửa quyền, nhũng nhiễu dân. Không những thế, cán bộ cũn chăm lo
giữ gỡn phẩm chất đạo đức của mỡnh, từ đó làm cho mối quan hệ giữa dân với chính
quyền cởi mở hơn, góp phần làm cho chính quyền hoạt động có hiệu quả hơn.
Ba là, thực hiện dân chủ ở cơ sở khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của nhân dân lao
động, phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trỡnh xõy dựng nhà
nước và xó hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đến những việc của đời
sống cộng đồng, đời sống dân cư. Thông qua hỡnh thức hoạt động dân chủ trực tiếp tại cơ
sở, người dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện tập dượt, trưởng thành trong vai
trũ của người làm chủ đích thực. Khi Đảng và Nhà nước quan tâm, biết lắng nghe và học
hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao đời sống của dân thỡ nhõn dõn khụng chỉ núi lờn điều
mỡnh mong muốn mà cũn gợi ý, kiến nghị và chỉ ra rằng Đảng và Nhà nước cần phải
hành động như thế nào, bằng phương pháp công cụ nào để giải quyết các vấn đề kinh tế -
xó hội. Chớnh những sỏng kiến đầy tâm huyết của dân đó tạo nờn nguồn trớ tuệ quý giỏ
khụng gỡ thay thế được cho những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước, tạo ra những bước phát triển vững chắc của đất nước trên con đường phát triển và
hội nhập.
Qua hoạt động dân chủ ở cơ sở, Đảng và Nhà nước có thể nhận được những thông
thi đua yêu nước: "Tất cả vỡ mục tiờu dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ,
văn minh".
Năm là, thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo ra cơ sở pháp lý để MTTQ các cấp và cỏc tổ
chức chớnh trị-xó hội thực hiện được vai trũ cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân trong
phát huy dân chủ XHCN. MTTQ, các tổ chức thành viên thông qua hoạt động phối hợp
tuyên truyền vận động nhân dân, chỉ đạo triển khai xây dựng, thực hiện và giám sát việc
thực hiện QCDC, đó phỏt huy tốt vai trũ đại diện QLC của nhân dân, góp phần tạo ra môi
trường dân chủ lành mạnh ở cơ sở, góp phần củng cố, kiện toàn tổ chức đảng, chính
quyền các cấp.
Như vậy, việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở là một cách thiết thực nhất, là
cơ sở cho nhân dân lao động được làm chủ một cách thực sự trên mọi phương diện: kinh
tế, chính trị, văn hoá xó hội. Đó cũng chính là một cách làm hiệu quả nhất để cho nhân
dân lao động đảm bảo được quyền lực chính trị của mỡnh, gúp phần quan trọng vào sự
nghiệp xõy dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vỡ dõn ở nước
ta hiện nay.
1.2. VAI TRề CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA VÀ TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ THỰC
HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ
1.2.1. Khái niệm về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong hệ thống chính trị nước ta
Điều 9 Hiến pháp 1992 khẳng định:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liờn minh chớnh trị, liờn hiệp tự
nguyện của tổ chức chớnh trị, cỏc tổ chức chớnh trị - xó hội, tổ chức xó hội và
cỏc cỏ nhõn tiờu biểu trong cỏc giai cấp, cỏc tầng lớp xó hội, cỏc dõn tộc, cỏc
tụn giỏo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.
Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về
chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính
quyền nhân dân, cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân