1
Luận văn
Phát huy vai trò nhân tố chủ quan
trong sự nghiệp bảo vệ an ninh
quốc gia ở Việt Nam hiện nay
2
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
An ninh quốc gia là vấn đề cơ bản, hệ trọng của mỗi quốc gia,
là điều kiện hàng đầu để quốc gia tồn tại và phát triển.
Bảo vệ an ninh quốc gia có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhiệm
vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.
ý thức được điều đó Đảng và Nhà nước ta luôn xác định "Tăng
cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là
nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân
trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng
cốt" [18].
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI,
kỳ họp thứ 6 cũng đã thông qua Luật An ninh quốc gia ngày 03 tháng
12 năm 2004; và chỉ rõ trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia
được nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu. Ngay trong những tác
phẩm kinh điển của các nhà triết học mác xít cũng đề cập đến vấn đề
này. Cũng như ở Liên Xô (cũ) hay ở Việt Nam hiện nay có không ít
những công trình nghiên cứu liên quan.
Mỗi công trình nghiên cứu đề cập đến một góc độ riêng của
việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan, cũng như đi sâu vào những lĩnh
vực cụ thể của sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, như công trình
nghiên cứu:
- "Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng
con người mới ở Việt Nam", Luận án PTS của Nguyễn Thế Kiệt, Hà
Nội, 1988.
- "Về nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Một số vấn đề
về lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay", Luận án tiến sĩ của Phạm
Ngọc Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000.
4
- "Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng xã hội chủ
nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta
hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Ninh, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001.
- "Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong việc xây dựng nhân
cách sinh viên Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị
Phương Thảo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
2001.
- "Phát huy nhân tố chủ quan trong việc xây dựng người nữ trí
thức mới Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hà Thái,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
an nhân dân, số chuyên đề tháng 1/2006.
- "Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã
hội trong tình hình hiện nay" của Lê Hồng Anh, Tạp chí Công an nhân
dân,
số 5/2006.
- "Tăng cường công tác đảm bảo an ninh quốc gia khi Việt Nam
gia nhập tổ chức thương mại thế giới" của Trần Minh Thư, Tạp chí
Công an nhân dân, số 7/2006.
- Xã luận "Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng
lợi sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở nước ta", Tạp chí Công an nhân dân, số 9/2006
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây rất có giá trị.
Các tác giả đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau của điều kiện khách
quan và nhân tố chủ quan trong xã hội nói chung, cũng như làm rõ
thêm nhiều khía cạnh của mối quan hệ này và vận dụng vào giải quyết
những vấn đề cụ thể.
6
Các công trình trên cũng đề cập đến nhiệm vụ, trách nhiệm
quyền hạn trong bảo vệ an ninh quốc gia trên từng lĩnh vực cụ thể và
chủ yếu liên quan đến công tác nghiệp vụ công an.
Xong việc khai thác vẫn đề thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh
Quốc gia từ góc độ nhân tố chủ quan thì chưa được các đề cập.
Vì vậy, tác giả mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề phát huy
vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Quốc gia với
mong muốn có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn
góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp chung bảo vệ an ninh quốc gia.
Luận văn vận dụng phương pháp luận chứng của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, lôgíc và lịch sử
5. Đóng góp về khoa học của luận văn.
- Góp phần luận chứng về vai trò của nhân tố chủ quan trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò nhân
tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia.
6. ý nghĩa lý luận thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn trước hết nhằm nâng cao nhận
thức cho tác giả.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng
dạy triết học trong các trường Công an nhân dân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
8
Chương 1
Nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong sự nghiệp
bảo vệ An ninh Quốc gia hiện nay
1.1. QUAN ĐIểM MáC -XíT Về NHÂN Tố CHủ QUAN
1.1.1. Khái niệm nhân tố chủ quan
Mọi quá trình xã hội diễn ra thông qua sự tác động qua lại giữa
“điều kiện khách quan” và “nhân tố chủ quan” đó là hình thức phổ biến
của sự vận động và phát triển của xã hội.
người mới bộc lộ mình với tư cách là chủ thể.
“Đặc trưng chủ yếu nhất của con người với tư cách là chủ thể là
năng lực hoạt động sáng tạo, là khuynh hướng tự mình thực hiện mình,
tự cho mình, qua bản thân mình, một tính khách quan trong thế giới
khách quan và tự hoàn thiện mình” [24, tr.228-229]
Do đó, con người với tư cách là chủ thể có thể là một cá nhân,
một nhóm người, một giai cấp hoặc một dân tộc….thực hiện việc nhận
thức hoặc cải tạo một khách thể nhất định.
Trong quá trình hoạt động, con người với tư cách là chủ thể tác
động vào hiện thực khách quan như là đối tượng bên ngoài nhằm thoả
mãn nhu cầu của mình.
Bộ phận của hiện thực khách quan mà con người hướng tới nhận
thức và cải tạo là khách thể.
Như vậy, khách thể là tất cả nhứng gì mà chủ thể hướng vào
nhận thức và cải tạo. Khách thể được xác định tuỳ thuộc vào chủ thể
tương ứng vì vậy khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách
quan, nó chỉ là một bộ phận của hiện thực khách quan chịu sự tác động
của chủ thể xác định. V.I. Lênin viết: “Đối với Chủ nghĩa Duy vật thì
10
khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và được phản ánh vào trong ý
thức của chủ thể một cách chính xác nhiều hay ít” [45, tr.93].
Hiện thực khách quan vô cùng phong phú và khách thể với tư
cách là bộ phận của nó cũng rất đa dạng. Khách thể có thể là những
hiện tượng, quá trình thuộc giới tự nhiên cũng có thể là những hiện
tượng quá trình thuộc về lĩnh vực đời sống xã hội như những quan hệ
kinh tế, quan hệ chính trị – xã hội, những quan hệ tư tưởng, những tổ
Ngoài ra còn quan điểm coi chủ quan chính là hoạt động có ý
thức của con người.
Nhìn chung các quan điểm trên đều cho rằng khái niệm chủ quan
đều nói lên thuộc tính chung của chủ thể.
Qua đó có thể hiểu: Cái “chủ quan” là tất cả những gì thuộc về ý
thức của chủ thể.
Cái “khách quan”là những tính chất yếu tố không phụ thuộc vào
chủ thể tồn tại ngoài chủ thể.
Tuy nhiên, không thể đồng nhất khái niệm cái khách quan và
khái niệm hiện thực khách quan hay thế giới vật chất nói chung. Vì
khách quan là thuộc tính của vật chất nhưng không phải cái khách quan
nào cũng có thể quy về vật chất. Bởi lẽ cái khách quan được xem xét
trong sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể. Vì vậy, nó có thể
bao hàm cả những yếu tố thuộc về ý thức, khi nó nằm ngoài chủ thể và
tồn tại không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể.
Trong hoạt động cụ thể, khi chủ thể tác động lên khách thể và
biến đổi nó theo mục đính của mình, không phải lúc nào chủ thể hoạt
động cũng dùng tất cả những năng lực, phẩm chất, yếu tố vốn có của
mình, mà có thể chỉ huy động một phần, một bộ phận các yếu tố tạo
thành cái chủ quan trong quá trình tương tác với khách thể. Cái đó gọi
là nhân tố
chủ quan.
12
Khái niệm nhân tố chủ quan được hiểu là những yếu tố, những
phẩm chất của chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động của chủ thể,
tạo ra khả năng tích cực, sáng tạo trong hành động của chủ thể, cùng
Vì vậy A.K.U Le Đôp đã có lý khi cho rằng:
Vấn đề nhân tố chủ quan trong lịch sử dù người ta tiếp
cận việc giải quyết nó về mặt nào và ở bình diện nào đi nữa
cũng chỉ có thể được vạch ra thông qua sự phân tích đặc
trưng về chất của những chủ thể của lịch sử: Các tập đoàn xã
hội, các giai cấp và những tổ chức của chúng, các quốc gia,
các dân tộc. Nhưng không phải chính bản thân các giai cấp,
các đảng phái, các nhà nước, v.v mà là những thuộc tính,
những phẩm chất, những trạng thái của chúng biểu hiện trong
hoạt động đóng vai nhân tố chủ quan [50, tr.67].
Về mặt cấu trúc, nhân tố chủ quan bao gồm: Tri thức, ý thức,
tình cảm và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của chủ thể, được
biểu hiện ra trong hoạt động của chủ thể. Những phẩm chất này bao
giờ cũng có tính hai mặt tích cực hoặc tiêu cực.
Như vậy, nhân tố chủ quan chỉ là một bộ phận của cái chủ quan
được chủ thể huy động , sử dụng trực tiếp trong quá trình tác động lên
khách thể cụ thể-nó là một phần ý thức của chủ thể.
Hơn nữa, trong quá trình hoạt động của chủ thể thì những yếu tố
như năng lực thể chất hay trạng thái của chủ thể đều có ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình này.
Nói đến nhân tố chủ quan là nói đến hoạt động có ý thức của chủ
thể, là nói đến quá trình chủ thể sử dụng các sức mạnh vật chất, công
cụ vật chất của con người và hoàn cảnh để nhận thức hoặc cải tạo hiện
thực.
14
Trong bản thảo kinh tế - triết học, C.Mác đã chỉ rõ: “Tư tưởng
15
độc lập với chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, trong đó chủ
thể sống và thực hiện mọi hoạt động ở những thời điểm nhất định.
Điều kiện khách quan luôn mang tính cụ thể, bao gồm những yếu
tố vật chất, tinh thần, những quy luật khách quan…nó sẽ là những điều
kiện cụ thể tạo nên môi trường hoàn thành, ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động của chủ thể.
Việc nắm bắt được điều kiện, hoàn cảnh khách quan có ảnh
hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động của chủ
thể.
Đặc điểm chủ yếu phân biệt điều kiện khách quan và nhân tố chủ
quan là ở chỗ, điều kiện khách quan hình thành và phát triển không phụ
thuộc vào ý chí và ý thức của chủ thể. Còn nhân tố chủ quan hình
thành và phát triển không những phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ
thể hành động mà còn phụ thuộc vào khách thể, vào điều kiện khách
quan.
Cùng một khách thể, một hiện tượng, trong mối quan hệ này
thuộc vào những điều kiện khách quan còn trong những điều kiện và
mối quan hệ khác lại thuộc vào nhân tố chủ quan.
Việc xác định điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan phụ
thuộc vào từng trường hợp cụ thể, phụ thuộc vào việc xác định chủ thể
hành động.
Do đó, ranh giới giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
chỉ là tương đối, tuỳ thuộc vào chỗ xác định đâu là chủ thể, đâu là
khách thể
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định mối quan hệ giữa điều kiện
khách quan và nhân tố chủ quan là mối quan hệ biện chứng. Sự tác
17
Xã hội luôn luôn vận động và phát triển, quá trình phát triển đó
bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái khách quan và cái chủ quan,
giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Theo quan điểm Mác–
xít, trong mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân
tố chủ quan thì điều kiện khách quan là tính thứ nhất, nhân tố chủ quan
là tính thứ hai. Điều kiện khách quan quyết định nhân tố chủ quan, điều
kiện khách quan quy định mục đính , phương tiện và phương pháp
hành động của chủ thể. Tuy bị điều kiện khách quan quy định nhưng
nhân tố chủ quan không phải hoàn toàn bị thụ động, lệ thuộc mà nó có
tình độc lập tương đối . Nhân tố chủ quan có thể chuyển hoá được các
điều kiện khách quan thành nội dung hoạt động tự do sáng tạo của
mình.
Thực chất vai trò nhân tố chủ quan ở đây là sự phát hiện ra khả
năng khách quan, trên cơ sở những điều kiện phương tiện vật chất của
hoàn cảnh khách quan để tác động và biến đổi nó theo quy luật. Như
vậy, vai trò nhân tố chủ quan chính là tính tích cực sáng tạo của chủ
thể trong quá trình nhận thức và cải tạo khách thể.
Trong hoạt động của con người, con người không thụ động ngồi
chờ điều kiện khách quan chín muồi mà chủ động chuyển hoá điều
kiện khách quan tạo ra sự chín muồi đó. Trong sự vận động và phát
triển của hiện thực có rất nhiều khả năng có thể xảy ra, vai trò nhân tố
chủ quan là thực hiện sự lựa chọn khả năng vào đáp ứng nhu cầu, lợi
ích của mình, phù hợp với lịch sử cũng như việc áp dụng, sử dụng
những quy luật khách quan phù hợp trong quá trình hoạt động.
Ngoài ra, trong đời sống xã hội, quy luật tự nhiên và quy luật xã
hội bao giờ cũng đan xen với nhau. Quy luật tự nhiên ảnh hưởng đến
xã hội thông qua tác dụng của chính quy luật xã hội. Vì vậy, vai trò của
việc để ra những mục tiêu, phương thức phát triển của toàn xã hội.
19
Điều này liên quan đến vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị trong quá
trình phát triển của xã hội có giai cấp. Do đó, vai trò nhân tố chủ quan
ở đây chính là việc xác định những mục tiêu phát triển chiến lược và
các giải pháp kinh tế – chính trị thích hợp trong từng thời kỳ. Đồng
thời với việc tổ chức, huy động các lực lượng xã hội để thực hiện các
nhiệm vụ to lớn do lịch sử đặt ra, mà vai trò của nhân tố chủ quan ngày
càng tăng
Thực chất của quá trình này, để phát huy vai trò nhân tố chủ
quan trong sự phát triển xã hội nói chung thì trước hết phải nâng cao
trình độ, tri thức của con người, khả năng nhận thức và vai trò cải tạo
thế giới của con người. Sự vận động xã hội bao giờ cũng gắn liền với
việc giáo dục, vận động quần chúng tham gia vào các công cuộc xây
dựng, phát triển đất nước với tư cách là lực lượng cơ bản. Bởi lẽ sức
mạnh của quần chúng là sức mạnh vật chất và mọi sự vận động lịch sử
đều do quần chúng trực tiếp tạo ra. “Cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng".
Chính điều này đã làm cho quần chúng nhân dân ngày càng thể
hiện rõ vai trò chủ thể của họ và do đó vai trò của nhân tố chủ quan
ngày càng được nâng lên.
1.2. Vai trò của nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc
gia hiện nay
1.2.1.Thực chất của sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia hiện
nay
Bảo vệ An ninh Quốc gia là một loại hình hoạt động xã hội đặc
toàn của một quốc gia và xã hội.
Ngược lại, cũng có quan niệm cho An ninh Quốc gia chỉ là an
ninh chính trị.
Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, thuật ngữ An ninh
Quốc gia xuất hiện chính thức tại Điều 36 luật Tổ chức toà án nhân dân
21
ngày 13/7/1982. Tuy nhiên, trước khi luật An ninh Quốc gia ra đời,
khái niệm An ninh Quốc gia chưa được một văn bản pháp luật nào của
Nhà nước đề cập, làm rõ.
Cho đến kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt
Nam khoá XI, khi luật An ninh Quốc gia được chính thức thông qua
ngày 3/12/2004 thì định nghĩa pháp lý của khái niệm An ninh Quốc gia
mới được làm rõ tại điều 3: "An ninh Quốc gia là sự ổn định, phát triển
bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam,
sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh tổ
của tổ quốc”.
Như vậy, nội hàm của khái niệm An ninh Quốc gia bao gồm 2
nội dung:
Thứ nhất là: “Sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội
chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Thứ hai là: “Sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”.
Nội dung thứ nhất ở đây đề cập không gì khác ngoài vấn đề thể
chế chính trị. Đó là hệ thống chính trị, là Nhà nước CHXHCN Việt
Nam, là đường lối chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc
phòng, an ninh, ngoại giao và các thành quả cách mạng nói chung của
gia có vị trí đặc biệt quan trọng.
Nếu làm tốt công tác phòng ngừa sẽ làm thất bại mọi âm mưu
của địch, xoá bỏ cơ sở xã hội phát sinh các tội xâm phạm An ninh
Quốc gia. Để làm tốt công tác phòng ngừa phải đồng thời làm tốt
công tác phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động
xâm phạm An ninh
Quốc gia.
23
Cùng với quá trình đổi mới, chúng ta từng bước nhận thức sâu
sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ tổ
quốc XHCN, giữa kinh tế và quốc phòng an ninh, phải có cách nhìn
toàn diện hơn đối với khái niệm An ninh Quốc gia. An ninh Quốc gia
không chỉ là an ninh chính trị mà còn là an ninh văn hoá, an ninh tư
tưởng, an ninh xã hội
Do đó, để An ninh Quốc gia được giữ vững, trước hoàn cảnh
mới, nhiệm vụ đặt ra trước hết là phải đảm bảo các yếu tố cơ bản, cốt
lõi của An ninh Quốc gia, đồng thời phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn,
đấu tranh làm thất bại những nguy cơ đối với An ninh Quốc gia, phá
hoại An ninh Quốc gia. Vì vậy, bảo vệ an ninh quốc gia có nhiều nội
dung khác nhau.
Thứ nhất: Bảo vệ An ninh Quốc gia là bảo vệ chế độ chính trị
và nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc.
Bảo vệ An ninh Quốc gia trước hết là bảo vệ đường lối cách
mạng đi lên CNXH, bảo vệ hệ thống chính trị XHCN, bảo vệ Đảng
Cộng sản Việt Nam. Bảo vệ An ninh Quốc gia hướng vào mục tiêu
“Khơme Krôn” hòng chia cắt lãnh thổ của nước ta.
Thứ hai: Bảo vệ An ninh Quốc gia là bảo vệ an ninh về tư tưởng
và văn hoá, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hoá là bảo vệ nền tảng tư
tưởng của chế độ, là bảo vệ sự ổn định và phát triển của tư tưởng và
văn hoá XHCN trên nền tảng tư tưởng Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh. Gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá yêu
nước của dân tộc, đồng thời phải biết thẩm định, chắt lọc, bảo tồn vận
dụng và không ngừng bổ sung cái mới, làm phong phú thêm những
giá trị đã có cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới, góp phần tạo
25
những động lực tinh thần mới, nhân lên sức mạnh khối đại đoàn kết,
góp phần thắng lợi sự nghiệp bảo vệ An ninh Quốc gia. Nhiệm vụ này
còn đòi hỏi phải chủ động phòng ngừa và tích cực đấu tranh loại bỏ
những sản phẩm lỗi thời, xấu độc, phản văn hoá xâm nhập vào đời
sống tinh thần của xã hội, nhằm phá hoại tư tưởng, chiến tranh tâm lý.
Cùng với nhiệm vụ bảo vệ an ninh trên lĩnh vực tư tưởng và văn
hoá, việc bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn cuộc sống ổn định
tiến bộ và phát triển của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam cũng
là một nhiệm vụ cơ bản.
Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân được phát huy mạnh mẽ sẽ
tạo cho đất nước thế ổn định về chính trị, dân chủ rộng rãi, an ninh
quốc phòng đảm bảo.
Bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
theo đúng luật pháp quy định, phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp