ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THÚY TÌNH
Tính tích cực của ý thức xã hội và vai trò của
nó trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở
nước ta hiện nay LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THÚY TÌNH
Tính tích cực của ý thức xã hội và vai trò của
28
Chương 2. Vai trò của tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp
bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay và một số giải pháp nhằm
phát huy vai trò tích cực ấy.
39
2.1 Vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay
39
2.2 Vai trò của tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an
ninh quốc gia.
53
2.3 Một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của ý thức xã hội trong
sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia.
67
2.3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nâng cao ý thức của
cộng đồng về bảo vệ an ninh quốc gia.
67
2.3.2. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa nhằm
nâng cao tính tích cực của ý thức xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh
quốc gia.
68
2.3.3. Nâng cao ý thức xã hội của người dân trong phòng chống tội phạm, bảo
vệ an ninh quốc gia. 70
hiện nay, công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó đã và
đang góp phần không nhỏ vào việc truyền bá thông tin, nâng cao hiểu biết
cho con người, giúp con người nhanh chóng giải quyết hàng loạt những vấn
đề của đời sống xã hội. Nhưng các thế lực thù địch cũng lợi dụng công
nghệ thông tin để can thiệp sâu vào công việc nội bộ của Việt Nam như
truyền bá những luồng tư tưởng xấu, kích động vấn đề tự do tôn giáo, vấn
đề nhân quyền nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng
còn tuyên truyền luận điệu sai trái về con đường chủ nghiã xã hội mà Đảng
và nhân dân ta đã lựa chọn, về tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam
4
nhằm chia rẽ quần chúng nhân dân, gây nên sự hoang mang lo lắng trong
nhân dân. Chúng đưa những ấn phẩm đồi trụy lên mạng Internet nhằm tiêm
nhiễm lối sống hưởng thụ, hòng làm suy đồi đạo đức của tầng lớp thanh
niên ở nước ta. Điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế xã
hội nói chung và đời sống tinh thần của nhân dân nói riêng. Thực tế đó cho
thấy, việc bảo vệ an ninh quốc gia trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Để đất nước phồn vinh và phát triển thì yêu cầu đầu tiên
chính là sự ổn định chính trị - xã hội. Nhưng để có được sự ổn định chính
trị - xã hội thì an ninh quốc gia phải được đảm bảo như là một điều kiện
nền tảng. Điều đó càng đúng và càng cấp thiết khi thế giới đang ở trong
tình trạng không ổn định và có nguy cơ chiến tranh cục bộ thường xuyên
như hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Hội nghị lần thứ tám
Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ
bảo vệ tổ quốc của chúng ta hiện nay là bảo vệ vững chắc độc lập chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã
hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Nhận thức đúng đắn và kịp thời, phán đoán đúng tình hình thực tiễn
cuốn Cấu trúc và quy luật của ý thức xã hội của B.A.Traghen (Nxb Tiến
bộ, Matxcơva, Hà Nội 1968) v.v. .
Thời gian gần đây, việc nghiên cứu về ý thức xã hội cũng chưa
nhiều, chủ yếu được bàn trong các luận án hoặc những bài viết có liên
quan. Các tác giả như Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu; Trần Đức Thảo;
Hà Văn Tấn; Phan Ngọc; Nguyễn Tài Thư; Lê Hữu Tầng; Nguyễn Ngọc
Long v.v. đã có nhiều bài viết bàn về ý thức xã hội. Những công trình này
chủ yếu tập trung đi sâu vào khai thác về ý thức xã hội, đời sống tinh thần
nói chung. Một số luận án, luận văn, bài viết đã phân tích vai trò của ý thức
xã hội trong hoạt động thực tiễn nói chung chứ chưa đi sâu vào khai thác
vai trò của nó trong từng lĩnh vực cụ thể nên chưa thấy hết được ý nghĩa
6
thực tiễn, cụ thể của tính tích cực của ý thức xã hội. Một số bài viết mới chỉ
bàn đến tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, nguyên nhân của việc
tuyệt đối hoá vai trò của ý thức xã hội nói chung. Một số công trình cũng
đã nghiên cứu thực trạng đời sống tinh thần của nước ta và đã đưa ra những
giải pháp để nâng cao đời sống văn hoá tinh thần hiện nay. Cũng có một số
bài viết dưới góc độ liên ngành nhưng cũng chưa làm nổi bật tính tích cực
của ý thức xã hội trong đó. Đó là các công trình như Vấn đề vận dụng tính
độc lập tương đối của ý thức xã hội trong hoạt động thực tiễn [xem 28];
Phạm trù đời sống tinh thần xã hội và ý nghĩa của nó [xem 9]; Ph.
Ăngghen với vấn đề tính độc lập tương đối của ý thức xã hội [xem 11; Về
những nguyên nhân của sự cường điệu hoặc tuyệt đối hoá tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội [xem 29]; Vấn đề tội phạm xét từ lý luận về ý
thức xã hội [xem 18] v.v
Nhìn chung, những cuốn sách, luận án và các bài viết đã công bố về
đề tài ý thức xã hội hầu hết chỉ bàn đến ý thức xã hội với tư cách là một
nhân tố trong mối quan hệ với tồn tại xã hội. Hoặc là đi vào làm rõ các đặc
điểm, tính chất, cấu trúc của ý thức xã hội nói chung trong đời sống xã hội.
Mục đích của luận văn là làm rõ vai trò của tính tích cực của ý thức
xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay. Trên
cơ sở đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò tích cực đó
trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay.
- Nhiệm vụ.
Với mục đích như trên, nhiệm vụ của luận văn là:
+Trình bày quan điểm triết học mácxít về ý thức xã hội; tính tích cực
của ý thức xã hội, điều kiện cơ bản để phát huy tính tích cực của ý thức xã
hội.
+Phân tích vai trò và yêu cầu của việc bảo vệ an ninh quốc gia ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
+Phân tích tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an
ninh quốc gia và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy tính tích
8
cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn được viết dựa trên lý luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, trước hết và chủ yếu là lý luận về ý thức
xã hội và tính độc lập tương đối của nó. Luận văn còn dựa vào các văn kiện
Đảng, và các luận án, các công trình khoa học liên quan đến đề tài.
- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp
lôgic-lịch sử, trừu tượng hóa và khái quát hóa.
5. Đóng góp mới của luận văn:
Luận văn góp phần làm rõ tính tích cực của ý thức xã hội trong lĩnh
vực bảo vệ an ninh quốc gia đồng thời luận giải các giải pháp cơ bản để
phát huy tính tích cực của ý thức xã hội trong sự nghiệp bảo vệ an ninh
quốc gia ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
347 TCN ) thì nuxơ lại chính là ý niệm; các vật thể cảm tính chỉ là cái bóng
của ý niệm và bắt nguồn từ ý niệm. Trong thời kỳ này, các nhà triết học
Phương Đông như ấn Độ, Trung Quốc đã có những quan niệm khác nhau,
dù là duy tâm về ý thức. Triết học Tây Âu thế kỷ 17-18 đã có bước tiến bộ
hơn so với trước trong quan niệm về ý thức nói chung và ý thức xã hội nói
riêng. Hầu hết các nhà triết học thời kỳ này đều thấy được vai trò của ý
thức xã hội thông qua hoạt động của con người. Chẳng hạn, Hônbách đã
cho rằng trong xã hội thì ý kiến, tư tưởng của con người có thể điều khiển
thế giới và những ý kiến, tư tưởng của các nhà làm luật giữ vai trò quyết
định. Điđơrô lại cho rằng những tư tưởng, quan điểm của các tổ chức chính
trị quyết định tính chất của một chế độ xã hội. Khác với các nhà triết học
trong lịch sử, Hêghen - nhà triết học cổ điển Đức đã quá đề cao vai trò của
tư duy, ý thức đến mức tuyệt đối hoá nó. Ông cho rằng thế giới hiện thực
chẳng qua chỉ là biểu hiện của ý niệm, của tinh thần tuyệt đối, đó là quá
trình tự nhận thức của bản thân ý niệm tuyệt đối.
10
Bước chuyển quan trọng trong lịch sử triết học khi bàn về vấn đề này
được đánh dấu bởi quan niệm của C. Mác và Ph.Ăngghen. Bằng tư tưởng
biện chứng và lập trường duy vật, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc
và phê phán quan điểm của các nhà triết học trong lịch sử, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khẳng định: “không phải ý thức của con người quyết định
tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”.
Nguyên lý quan trọng đó được thể hiện rất rõ thông qua một số tác phẩm
tiêu biểu của C.Mác, Ph.Ăngghen như Góp phần phê phán triết học pháp
quyền của Hegel, Hệ tư tưởng Đức, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Luận
cương về Feuebach, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị v.v Trong
những tác phẩm này, các nhà kinh điển cũng nhấn mạnh tác dụng tích cực
của ý thức xã hội.
Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
hội chỉ là tư tưởng, quan điểm và học thuyết xã hội phản ánh tồn tại xã hội,
chế độ xã hội. Có quan điểm lại cho rằng: “ý thức xã hội là mặt tinh thần
của xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tâm trạng,
truyền thống nảy sinh từ tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển
nhất định”[14, tr. 568].
Vậy ý thức xã hội và đời sống tinh thần của xã hội có đồng nhất với
nhau không? Đây là câu hỏi khiến nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội
nói chung quan tâm, đặc biệt là trong lĩnh vực triết học. Đời sống tinh thần
xã hội và ý thức xã hội là hai phạm trù có mối liên quan mật thiết với nhau,
về bản chất chúng đồng nhất với nhau. Bởi vì “đời sống tinh thần” và “ý
thức xã hội” là sự biểu hiện cụ thể của hai phạm trù “tinh thần” và “ý thức”
trong lĩnh vực xã hội. Trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật, phạm trù
“tinh thần” được hiểu rất gần với phạm trù “ý thức”. Triết học duy vật biện
chứng khi rút ra vấn đề cơ bản của triết học đã mang lại cho chúng ta một
cơ sở lý luận để xem xét phạm trù ý thức xã hội. Bởi vì nếu xem xét trên
mặt nhận thức luận thì tinh thần và ý thức được hiểu là sản phẩm của vật
12
chất có tổ chức cao là bộ não con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan. Tuy nhiên, xét về mặt kết cấu thì “ý thức” rộng hơn “tinh
thần”. Điều đó được biểu hiện ở chỗ: Theo kết cấu chiều ngang thì ý thức
bao gồm những yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí Còn
xét theo chiều dọc thì ý thức được hiểu chính là thế giới nội tâm của con
người bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức “Tất cả những
yếu tố đó cùng với những yếu tố khác quy định tính chất phong phú, phức
tạp trong thế giới tinh thần và hoạt động tinh thần của con người” [14, tr.
204]
Đời sống tinh thần và ý thức xã hội còn có quá trình phát sinh, phát
triển như nhau. Ngay từ khi con người mới thoát thai khỏi đời sống động
vật, con người sống thành bầy đàn trong các cộng đồng người như Thị tộc,
thần còn để lại dấu vết trong những mối quan hệ xã hội. Còn ý thức là cái
đối lập với vật chất. Vì vậy khi định nghĩa phạm trù vật chất, Lênin đã
dùng phương pháp đặc biệt - phương pháp đối lập giữa vật chất và ý thức
để thấy được mức độ rộng lớn của phạm trù vật chất, đồng thời cũng khẳng
định sự khác biệt giữa vật chất và ý thức. Chính vì vậy, khác với ý thức,
trong mối quan hệ với vật chất, tinh thần vừa là chủ thể vừa là khách
thể.(vừa là cái phản ánh vật chất, vừa là đối tượng của phản ánh vật chất).
Xét về kết cấu cụ thể thì phạm trù đời sống tinh thần rộng hơn phạm
trù ý thức xã hội. Bởi vì đời sống tinh thần còn bao gồm cả những hoạt
động tinh thần và những quan hệ tinh thần phong phú của xã hội. Do đó,
nếu cho rằng ý thức xã hội là mặt tinh thần của xã hội thì có thể dẫn tới
cách hiểu là đồng nhất ý thức xã hội với đời sống tinh thần của xã hội hoặc
cũng có người lại hiểu ý thức xã hội là một mặt của đời sống tinh thần của
xã hội. Vì vậy theo chúng tôi, thì ý thức xã hội là một khái niệm thuộc lĩnh
vực tinh thần của xã hội. ý thức xã hội là một khái niệm thuộc lĩnh vực tinh
thần của xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng, học thuyết, lý thuyết
cùng những tình cảm, tâm trạng, tâm lý truyền thống, tập quán nảy sinh
từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử
14
nhất định. Cách hiểu nội dung khái niệm như vậy vừa nói lên được nguồn
gốc của ý thức xã hội là bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống vừa khẳng định
được bản chất của nó là phản ánh tồn tại xã hội.
Xét về cấu trúc của ý thức xã hội thì như trên đã nói ý thức xã hội
bao gồm các quan điểm, tư tưởng, học thuyết, lý thuyết và gắn liền với nó
là những tình cảm, tâm trạng, tâm lý, truyền thống, tập quán vv Tất cả
những yếu tố đó hoà quyện vào nhau trong ý thức xã hội. Trong hiện thực ý
thức xã hội được biểu hiện dưới các dạng như: “ý thức cá nhân”, “ý thức
xã hội thông thường”, “ý thức lý luận”, “tâm lý xã hội”, “hệ tư tưởng”.
Liên quan đến ý thức xã hội còn có khái niệm ý thức thường ngày. Vậy thì
cụ thể. ý thức của các cá nhân phản ánh tồn tại xã hội ở mức độ khác nhau
nên nó cũng mang tính xã hội. Bởi vì mỗi cá nhân có điều kiện sinh hoạt
vật chất riêng, thành phần xuất thân khác nhau, họ lại sống trong những
giai đoạn lịch sử nhất định nên ý thức cá nhân bao giờ cũng mang dấu vết
của các cá nhân riêng biệt. Song, ý thức xã hội không phải được hiểu đơn
giản, máy móc là tổng số những ý thức cá nhân. ý thức xã hội cũng không
thể là cái đứng trên, đứng bên ngoài ý thức cá nhân, không thể không bao
hàm ý thức cá nhân. Cần phải hiểu ý thức xã hội và ý thức cá nhân trong
một sự thống nhất biện chứng.
Đời sống tinh thần của xã hội và đời sống tinh thần của cá nhân cùng
với tính cộng đồng của các tập đoàn xã hội và toàn xã hội là thống nhất
trong sự khác biệt. Như C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định đời sống tinh
thần liên hệ biện chứng với đời sống xã hội, phản ánh những quá trình và
những mâu thuẫn xã hội, nó tương ứng với những hình thức muôn màu
muôn vẻ của hoạt động xã hội của con người. Song, ý thức cá nhân không
phải khi nào cũng thể hiện được quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến của
một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một thời đại nhất định. Vì vậy để thể
hiện được quan điểm, tư tưởng của mình thì cá nhân đó buộc phải thông
qua ý thức xã hội. Ph.Ăngghen viết: “Đối với từng người riêng lẻ, tất cả
những động lực thúc đẩy những hành động của người đó đều nhất định phải
16
đi qua đầu óc, phải biến thành lực đẩy ý chí của anh ta. Toàn bộ nhu cầu
của người đó, đều phải chuyển thành động cơ của ý muốn của người đó để
làm cho người đó hành động thì tất cả những nhu cầu của xã hội công dân,
dù giai cấp nào đang nắm quyền lực cũng vậy - đều nhất định phải thông
qua ý muốn của nhà nước để có được những hình thức phổ biến dưới hình
thức những đạo luật.”[40, tr. 412]
ý thức cá nhân cũng khác với tự ý thức cá nhân. Theo quan điểm của
I.Itresnokova trong cuốn Những vấn đề lý luận về tâm lý học nhân cách
thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội nhưng đều có chung một nguồn
gốc là tồn tại xã hội, đều phản ánh tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội có thể tạo
điều kiện thuận lợi hoặc cản trở sự hình thành, sự truyền bá, sự tiếp thu của
con người đối với một hệ tư tưởng nhất định. Hệ tư tưởng hướng tâm lý xã
hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh. Nếu là hệ tư tưởng
khoa học sẽ thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn,
nhưng nếu là hệ tư tưởng không khoa học sẽ kích thích những yếu tố tiêu
cực thuộc tâm lý xã hội phát triển. Trong tâm lý xã hội và hệ tư tưởng thì
tính giai cấp của ý thức xã hội được biểu hiện rõ nhất. Trong mỗi thời đại,
tư tưởng của giai cấp thống trị lúc nào cũng là tư tưởng chiếm địa vị thống
trị, nghĩa là: một giai cấp đã là lực lượng vật chất chiếm địa vị thống trị
trong xã hội thì đồng thời nó cũng là lực lượng tinh thần chiếm địa vị trong
xã hội ấy. Trong xã hội chiếm hữu nô nệ quan điểm phân chia xã hội thành
giai cấp của Aristốt đã trở thành tư tưởng thống trị trong xã hội: Một số
người, do bản tính của nó, sinh ra làm người tự do, một số người khác sinh
ra làm nô lệ; đối với hạng người thứ hai mà nói, thì họ làm nô lệ là có ích
và chính nghĩa. Khi xã hội phong kiến thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ thì
tôn giáo lại trở thành hình thái tư tưởng độc chiếm địa vị thống trị, tất cả
các hình thái khác đều phụ thuộc vào tôn giáo. Vì vậy trong thời kỳ đó
giáo hội là kẻ phân xử cao nhất trong chế độ phong kiến hồi bấy giờ.
1.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực của ý thức xã hội.
18
Trong lịch sử triết học trước Mác, hầu hết các nhà triết học chưa
đánh giá đúng mực tính tích cực của con người, từ đó họ cũng chưa thấy
hết được tính tích cực của ý thức xã hội. Ôguytstanh, TômatĐacanh đã cho
rằng ý chí của con người do trời định.
Hêghen lại cho rằng sự phát triển của lịch sử không phải là một quá
trình tự động mà được hình thành từ những hành động của những con
người riêng rẽ theo đuổi mục đích của mình. Nhưng Hêghen chỉ giới hạn
cho rằng tính tích cực đó là một nét phức tạp của tính cách biểu hiện qua
thái độ hăng hái của con người đối với lao động. Tính tích cực đòi hỏi phải
có sự nỗ lực thường xuyên nhằm vào một mục đích, phải có sự kiên tâm và
kiên nhẫn trong công việc, phải có hoạt động mang tính chất có kế hoạch
và có hệ thống, phải đạt kỳ được một kết quả nhất định.
Trong Từ điển Tiếng Việt, tích cực nghĩa là có tác dụng khẳng định,
tác dụng thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực và có thể hiểu tích cực theo
hai nghĩa sau.
Thứ nhất: Tích cực là tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo
ra sự biến đổi theo hướng phát triển. ở đây muốn chỉ hoạt động của con
người. Đó là những hoạt động đem lại lợi ích cho con người, cho xã hội, có
ý nghĩa cho sự phát triển, tiến bộ xã hội.
Thứ hai: Tích cực là hăng hái, tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với
công việc. ở đây muốn chỉ tính tích cực ở khía cạnh tâm lý ý thức, như là
tinh thần hăng hái, lòng nhiệt tình, ý chí quyết tâm của con người, thúc đẩy
con người hành động.
Trong tiếng Anh, từ “Active” nghĩa là hoạt động, tính năng động, sôi
nổi, hăng hái. Song, để có một quan niệm hoàn chỉnh về tính tích cực của ý
thức xã hội, chúng ta cần phải xem xét nó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, Mác đã khẳng định chính trong khi
cải biến thế giới khách quan mà con người đã tự khẳng định mình là một
sinh vật có tính loài, và sự sản xuất là đời sống có tính loài tích cực của con
người. Bằng hoạt động lao động, con người đã hoạt động một cách tích
20
cực, con người đã chiếm hữu được giới tự nhiên, đã tách mình ra khỏi tự
nhiên và đã tự khẳng định mình. Để có những hoạt động tích cực đó trước
hết con người ta phải ý thức được về nó. Con người không cải biến tự
nhiên một cách tự phát mà quá trình cải biến đó thường có mục đích, có
phương hướng theo nhu cầu của con người. Trong hoạt động này, như
khái niệm nói lên thuộc tính bản chất của con người. Đó là tính chủ động,
sáng tạo và lòng hăng hái, nhiệt tình, quyết tâm của con người trong những
hoạt động có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, sự
sáng tạo, hăng hái nhiệt tình đó chỉ mang ý nghĩa tính tích cực xã hội khi
nó thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người để tạo ra
những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Hiểu theo nghĩa đó thì tính
tích cực của ý thức xã hội cũng khác với tính tích cực cá nhân. “Tính tích
cá nhân” là sự hăng hái, tinh thần phấn đấu không biết mệt mỏi của cá nhân
con người vì một mục tiêu mà mình hướng tới. Do đó tính tích cực của cá
nhân có thể thúc đẩy sự tiến bộ xã hội nếu hành động và mục đích của con
người là tốt đẹp, phù hợp với quy luật phát triển xã hội. Và ngược lại, nếu
tính tích cực của cá nhân đó mà chỉ vì những mục tiêu cá nhân ích kỷ, tầm
thường thì nó đối lập với tích tích cực xã hội và đối lập với cả ý nghĩa tốt
đẹp của tính tích cực của ý thức xã hội.
Từ sự phân tích trên đây, có thể hiểu: Tính tích cực của ý thức xã hội
là sự biểu hiện vai trò năng động, sáng tạo của ý thức xã hội trong mối
quan hệ biện chứng với tồn tại xã hội, nhằm thúc đẩy sự phát triển và tiến
bộ xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Tính tích cực của ý
thức xã hội là sự thể hiện chức năng đặc thù của ý thức xã hội như là nhân
tố sáng tạo tích cực của con người hướng đến biến đổi thế giới khách quan.
Tính tích cực của nó không chỉ thể hiện ở sự sáng tạo khi phản ánh tồn tại
xã hội mà chủ yếu hơn, quan trọng và quyết định nhất là ở việc thông qua
hoạt động thực tiễn của con người để “sáng tạo” ra giới tự nhiên thứ hai -
thế giới các sự vật, hiện tượng không còn là tự nó mà là thế giới cho con
người.
22
Như vậy, tính tích cực của ý thức xã hội thể hiện vai trò của ý thức
xã hội, tác động, ảnh hưởng trở lại tồn tại xã hội. Nó thúc đẩy sự biến đổi
của những điều kiện vật chất nhờ nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
hội có tính độc lập tương đối. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối
với tồn tại xã hội nói chung còn thể hiện chức năng đặc thù của ý thức xã
hội như một nhân tố sáng tạo tích cực của con người đối với đời sống xã
hội của chính mình. Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã
hội theo hai hướng khác nhau. Nếu sự tác động của ý thức xã hội phù hợp
với tồn tại xã hội, thì nó sẽ thúc đẩy sự phát triển tiến bộ xã hội, đó là sự
tác động theo hướng tích cực - chúng ta xét tính tích cực của ý thức xã hội
theo hướng này. Nhưng sự tác động của ý thức xã hội cũng có thể làm cản
trở sự phát triển xã hội ở một mức độ nhất định, đó là sự tác động tiêu cực.
Khi nói đến tính tích cực của ý thức xã hội cần chú ý rằng đó phải là ý thức
xã hội nằm trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người, xã hội. Cũng
tương tự như bất kỳ một tư tưởng, quan điểm khoa học nào hay ý thức lý
luận nói chung, tự nó ý thức xã hội không có một sức mạnh nào, ý thức xã
hội chỉ thể hiện được tính tích cực khi nó là “ý thức thực sự của xã hội”, nó
chỉ có sức mạnh vật chất khi đã trở thành ý thức của quần chúng, chỉ đạo
hoạt động của quần chúng nhân dân, của con người và cộng đồng xã hội. ở
đây chúng ta chỉ có thể xét tính độc lập tương đối của ý thức xã hội trên
góc độ đó và được thể hiện bằng những khía cạnh cụ thể khác nhau.
Sở dĩ chúng tôi khẳng định tính tích cực của ý thức xã hội được biểu
hiện chủ yếu ở bốn đặc điểm của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
vì những lý do sau:
Thứ nhất: Khi nói tới tính tích cực của ý thức xã hội là muốn khẳng
định chức năng sáng tạo, tích cực của ý thức xã hội vì sự phát triển và tiến
bộ xã hội nhờ hoạt động thực tiễn của con người. Trong tính độc lập tương
đối của ý thức xã hội thì các đặc điểm tính vượt trước; tính kế thừa; sự tác
động lẫn nhau; tác động trở lại tồn tại xã hội đều thể hiện được chức năng
sáng tạo, tích cực của mình. Tất nhiên những đặc điểm đó của ý thức xã hội
24
chỉ thực sự trở thành tính tích cực, thực sự phát huy được chức năng của