Website: Email : Tel (: 0918.775.368
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
”Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến.
Vận dụng, phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với
vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay”.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368 Sinh viên thực hiện:Ngô Văn Huy Lớp: QTKD Thương Mại 48C
Giáo viên hướng dẫn:
Hà Nội, tháng 5/2007
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LI M U
Phát triển kinh tế là đòi hỏi tất yếu với mỗi quốc gia nếu các
quốc gia đó không muốn bị suy vong , thôn tính . Từ giữa thế kỷ 20
đến nay , cùng với sự phát triển nh vũ bão của khoa học và công
nghệ , kinh tế các nớc phát triển rất mạnh mẽ đồng thời môi trờng
sống của con ngời cũng đã bị tàn phá hết sức nặng nề. Vấn đề nan
duy vật biện chứng cho rằng các sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độc
lập khác nhau nhưng đều có sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn cho nhau.
Ví dụ như: môi trường của một đất nước không chỉ tác động tới đời sống
kinh tế - xã hội ở nước đó mà còn làm cho môi trường thế giới thay đổi
theo, vì môi trường của một đất nước là một bộ phận của môi trường thế
giới. Từ đó các hoạt động của con người, giới tự nhiên cũng bị ảnh hưởng
dù ít hay nhiều .
Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm đều cho
rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con
người. Các nhà duy vật biện chứng đã có quan điểm hoàn toàn khác với các
quan điểm trên.Họ cho rằng tuy các sự vật, hiện tượng vô cùng phong phú,
đa dạng nhưng chúng thống nhât với nhau ở tính vật chất.Nhờ có tính
thống nhất đó,chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại
trong sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn cho nhau theo những quan hệ xác
định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng đã khẳng định: liên
hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại,sự
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vât, hiện tượng hay giữa các mặt của một
sự vật, của một hiện tượng trong thế giới .
1.2. Tính chất của mối liên hệ.
Mối liên hệ giữa bất kì sự vật hiện tượng nào cũng có những đặc điểm
chung đó là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
Trước hết, mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là tất yếu, khách quan
vốn có của các sự vật, hiện tượng ấy. Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có
mối liên hệ với bên ngoài. Bởi như đã nói, thế giới vật chất là vô hạn,
không sinh ra, không mất đi mà chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng
khác. Con người không thể quyết định các sự vật, hiện tượng có mối liên
hệ hay không.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
liên hệ bên trong.
Mặc dù việc phân loại chỉ mang tính tương đối nhưng nó cho ta
xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi loại mối liên hệ. Thông qua đó, con người
có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động
của mình.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3. Ý nghĩa của nguyên lý
Như ta đã biết, vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển
hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang
tính khách quan, phổ biến nên trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận
thức con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét
phiến diện. Do đó, khi nhận thức bất kì một sự vật, hiện tượng nào, chúng
ta phải nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua giữa lại các bộ phận, các
yếu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại của chính sự
vật đó với các sự vật khác. Đây chính là quan điểm toàn diện. Có như vậy,
sự vật mới được nhận thức đúng đắn. Để nhận xét một con người, chúng ta
không thể chỉ nhận xét con người đó qua mối quan hệ với chính chúng ta
mà phải thông qua các mối quan hệ khác, cả môi trường của họ nữa. Khi đó
ta mới có được cái nhìn bao quát nhất, khách quan nhất về người đó. Đồng
thời quan điểm toàn diện còn đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt được
từng mối liên hệ, xác định được vị trí, vai trò của chúng trong sự vận động,
phát triển và tồn tại của sự vật. Trên cơ sở đó, trong hoạt động thực tiễn, ta
có các phương pháp tác động phù hợp vào sự vật, đem lại hiệu quả cao
nhất. Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”, một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta;
205,3%. Đã khắc phục được một phần lớn hậu quả chiến tranh, nhất là ở
các tỉnh phía Nam, thống nhất được cả hai miền về mọi mặt, xoá bỏ được
quan hệ sản xuất bóc lột ở phía Nam…
Mặc dù có không ít những thành tựu nhưng trong 10 năm xây dựng đã
bộc lộ không ít những hạn chế yếu kém, thể hiện chủ yếu trên các mặt sau:
kinh tế tăng trưởng chậm, nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm lần
thứ hai và ba không đạt được, thậm chí tỉ lệ hoàn thành ở mức rất thấp. Cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện có của nền kinh tế quốc dân còn yếu kém, thiếu
đồng bộ, cũ nát, trình độ kỹ thuật nói chung còn lạc hậu, lại chỉ phát huy
được công suất ở mức 50% là phổ biến. Nền kinh tế chủ yếu vẫn còn là sản
xuất nhỏ, phân công lao động xã hội kém phát triển, năng suất lao động xã
hội rất thấp. Cơ cấu kinh tế nước ta thì chậm thay đổi, nền kinh tế bị mất
cân đối nghiêm trọng. Sản xuất phát triển chậm, không tương xứng với sức
lao động và vốn đầu tư bỏ ra. Trong 10 năm này, thu nhập quốc dân sản
xuất trong nước chỉ bằng 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng.
2.1.1.2. Thời kì hội nhập và mở cửa (1986 đến nay)
a. Những thành tựu đạt được
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ
năm 1986 và đã có nhiều sự thay đổi to lớn. Trước hết là sự thay đổi về tư
duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, sang
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế
đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã
giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng đói nghèo, bước đầu xây dựng
nền kinh tế công nghiệp hoá, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối
cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội.
Tiếp theo đó là hàng loạt các đạo luật quan trọng của nền kinh tế thị
trường đã được hình thành tại Việt Nam như Luật đầu tư nước ngoài, Luật
doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty, Luật đất đai, Luật thuế, Luật phá
9
sự thay đổi tích cực. Trong khu vực nông nghiệp, tỷ trọng của ngành nông
và lâm nghiệp đã giảm từ 84,4% năm 1990 xuống 77,7% năm 2003, phần
còn lại là tỷ trọng ngày càng tăng của ngành thủy sản. Trong cơ cấu công
nghiệp, tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng từ 12,3% năm 1990
lên 20,8% năm 2003, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Cơ
cấu của khu vực dịch vụ thay đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của các
ngành dịch vụ có chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du
lịch…
Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theo
hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được
phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những
ngành nghề mà pháp luật không cấm. Từ năm 1991 đến năm 2003, tỷ trọng
của khu vực kinh tế tư nhân trong GDP đã tăng từ 3,1% lên 4,1%, kinh tế
10