Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay - Pdf 13

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Khơng
Vai trò của nhà nớc trong việc kết hợp
giữa tăng trởng kinh tế với bảo vệ môI trờng
sinh tháI ở nớc ta hiện nayluận án tiến sĩ triết học
PGS,TS Trần thành
2. PGS,Ts nguyễn minh hoàn
Hà nội - 2014

Tụi xin cam oan õy l cụng trỡnh nghiờn cu ca riờng
tụi. Cỏc s liu trong lun ỏn l trung thc. Nhng kt lun
nêu trong luận án chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình
khoa học nào khác.

 !"#$%#&'"
((
Trang
)*
1
#&'"+,-. ../0 6
1.1. Các công trình nghiên cứu về kết hợp tăng trưởng kinh tế với
bảo vệ môi trường sinh thái 6
1.2. Các công trình nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong tăng trưởng
kinh tế và vai trò của nhà nước trong bảo vệ môi trường sinh thái 20
#&'"
%1  .23  4  56)  1  7    8  9
56..:;/*<=3.5>
?@A5B<.A675=

sách, chiến lược, pháp luật của nhà nước trong kết hợp tăng
trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái 113
4.2. Nhóm giải pháp nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý,
điều hành của bộ máy nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh
tế với bảo vệ môi trường sinh thái 126
4.3. Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước trong việc tạo ra
sự đồng thuận của toàn xã hội nhằm thực hiện tốt việc kết hợp
tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 136
%1
149
.(95-.%..I<
151
.(A8.%.
153
3.((
165
.(.@1J5
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CN : Công nghệ
CT - XH : Chính trị - xã hội
ĐT : Đào tạo
GD : Giáo dục
KH : Khoa học
KT - XH : Kinh tế - xã hội
MT : Môi trường
MTST : Môi trường sinh thái
Nxb : Nhà xuất bản
PTBV : Phát triển bền vững
TN - MT : Tài nguyên - môi trường
TNTN : Tài nguyên thiên nhiên

CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tiến hành đổi mới mô hình phát
1
triển. Theo đó, mô hình “phát triển toàn diện” mà nội dung quan trọng là “phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến
bộ, công bằng xã hội và bảo vệ mội trường” [53, tr.162] đã ra đời. Nhờ thực hiện
mô hình này, nền kinh tế thị trường định hướng XHCH ở nước ta được hình
thành và có những bước đi khá vững chắc. Việt Nam được đánh giá là quốc gia
có nền kinh tế tăng trưởng cao trong khu vực.
Đặc biệt, những thành tựu mà TTKT đem lại đã giúp nước ta có được sự
tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Các vấn
đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, văn hóa… từng
bước được giải quyết. Tuy nhiên, không phải là không có những hạn chế trong
việc thực hiện mô hình phát triển mới. Trong hàng loạt các hạn chế, yếu kém thì
việc “quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn
lãng phí” [55, tr.166], “môi trường ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống cấp, một số nơi
đã đến mức báo động” [55, tr.169] đã được Đảng và Nhà nước ta đánh giá là
một trong những hạn chế lớn nhất. Hạn chế này do nhiều nguyên nhân gây
ra, trong đó nguyên nhân chủ quan vẫn là chính. Tư duy coi trọng tăng
trưởng kinh tế, xem nhẹ bảo vệ môi trường vẫn còn phổ biến; phát triển
kinh tế vẫn còn theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào khai thác TNTN; nhiều
ngành, lĩnh vực sản xuất còn sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm MT
nghiêm trọng; gia tăng dân số, đô thị hóa nhanh đang gây áp lực lớn lên
MT. Trong khi đó, thể chế, chính sách về bảo vệ MT và PTBV vẫn chưa
theo kịp với yêu cầu phát triển KT - XH của đất nước. Hệ thống tổ chức
quản lý nhà nước vẫn còn nhiều bất cập, thiếu nhân lực, nhất là ở các địa
phương. Đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cho bảo vệ môi
trường chưa đáp ứng được yêu cầu. Khâu tổ chức thực hiện còn nhiều yếu
kém, còn thiếu cương quyết và chưa xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm
pháp luật bảo vệ môi trường.
Đảng và Nhà nước ta khẳng định, hạn chế nêu trên, nếu không được giải

3
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của Nhà nước
trong kết hợp TTKT với bảo vệ MTST ở Việt Nam.
DbTR&c"ZSd#eYZT"#T["N\N]^_`"a"
5/0/6#4
Luận án tập trung nghiên cứu, tìm hiểu vai trò của nhà nước trong kết
hợp TTKT với bảo vệ MTST ở Việt Nam.
./5/78* 4
Luận án làm rõ việc kết hợp TTKT với bảo vệ MTST dưới góc độ triết
học. Thông qua chức năng xã hội của nhà nước với tư cách là nhân tố quan
trọng trong kiến trúc thượng tầng; luận án đề xuất những nội dung cơ bản thể
hiện vai trò của Nhà nước ta trong việc kết hợp TTKT với bảo vệ MTST thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH từ năm 1996 đến nay ở Việt Nam.
f'gh_K_`"ZSd#&'"d#ad"#T["N\N]^_`"a"
9/0/:';<;=
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh cùng các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta về phát triển KT - XH trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Trong
khi thực hiện, luận án còn kế thừa một số thành tựu của các công trình khoa
học có liên quan.
9/./7:$,$4
Luận án dựa trên cơ sở những nguyên tắc phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp với
các phương pháp khác như: lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp -
diễn dịch, điều tra, thu thập thông tin, khảo sát, tra cứu, đối chiếu so sánh
i"idYjTN]^_`"a"
- Luận án làm rõ được những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò
của Nhà nước trong kết hợp giữa TTKT với bảo vệ MTST ở Việt Nam thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
4

niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền
kinh tế trong một thời gian nhất định. Các chỉ tiêu để đánh giá TTKT thường
được sử dụng là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân
(GNP), GDP và GNP bình quân đầu người cùng một số chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp khác [127], [144].
Đi sâu hơn nữa về TTKT, nhiều công trình đã có những luận chứng sâu
sắc về quá trình TTKT ở Việt Nam, qua đó đề ra các giải pháp giúp nâng cao
tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế ở nước ta, tiêu biểu như các công trình sau:
Trong công trình “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” của tác giả Trần
Thọ Đạt [57] và “Mô hình tăng trưởng kinh tế” của tác giả Trần Văn Tùng
[147] đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về các mô hình TTKT trên thế giới như:
Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes, Harrod Domar, tăng trưởng tân cổ
điển mở rộng, tăng trưởng nội sinh. Các nghiên cứu này còn chỉ rõ những nội
dung cơ bản của các lý thuyết TTKT, lý thuyết TTKT dưới dạng các mô hình
6
toán học và tập trung phân tích quá trình tăng trưởng ở các khu vực, các quốc
gia trên thế giới và ở nước ta hiện nay. Về mô hình TTKT ở nước ta hiện nay,
các nghiên cứu đều khẳng định cho đến nay mô hình TTKT trong nước vẫn
tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào tăng quy mô tài sản cố định và
khai thác TNTN là chính. Mô hình này, ở phương diện tích cực đã đem lại
nhiều lợi thế để kinh tế đất nước tăng trưởng với tốc độ nhanh, song, mô hình
kinh tế đó còn để lại nhiều hạn chế, trong đó có hạn chế lớn nhất là làm cho
kinh tế tăng trưởng chưa thật sự bền vững.
Bài viết “Về chất lượng phát triển của Việt Nam thời kỳ 2000 - 2010”,
được biên soạn theo tài liệu của các cơ quan Trung ương, Tạp chí Lý luận
chính trị [148] đã khẳng định, “trong thời kỳ chiến lược 2001 - 2010, nước ta
đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, ước tính tăng trưởng GDP
đạt khoảng 7,2%/năm. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí là một trong những nước
có sự tăng trưởng nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới” [148,
tr.48], “tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh có ý nghĩa rất quan trọng giúp nước ta

nhân lực chất lượng cao; phát triển KH và CN để KH, CN trở thành động lực
phát triển đất nước, cần mạnh dạn đổi mới tư duy trong quản lý, điều hành,
điều tiết nền kinh tế của Nhà nước; tăng cường giám sát, kiểm tra việc sử
dụng vốn của Nhà nước và xử lý dứt điểm các kết luận sau thanh tra, kiểm tra.
Nghiên cứu dưới góc độ tăng trưởng bền vững, các tác giả Hoàng Đức
Thân, Đinh Quang Ty trong cuốn sách “Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công
bằng xã hội ở Việt Nam” [127]; tác giả Nguyễn Phú Trọng trong cuốn “Về
các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [144] đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa
TTKT với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như mối quan hệ giữa
TTKT với tiến bộ, công bằng xã hội, mối quan hệ giữa TTKT với phát triển
văn hoá, mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN, mối quan
hệ giữa TTKT với bảo vệ MT Các tác giả cho rằng, đó là những mối quan
hệ cơ bản, phức tạp, có liên quan đến sự tồn vong của quốc gia dân tộc, đòi
8
hỏi Nhà nước ta phải có những biện pháp để giải quyết thỏa đáng. Trong nội
dung về mối quan hệ giữa TTKT và bảo vệ MT, các tác giả khẳng định, ở
nước ta, kể từ khi đổi mới, kinh tế có sự tăng trưởng khá, song vấn đề MT lại
ngày một xuống cấp. Nhà nước cần phải có những chính sách, chiến lược hợp
lý để giải quyết dứt điểm tình trạng này.
Các tác giả Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt trong nghiên cứu “Tốc độ
và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [102] đã hệ thống hóa những
vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tốc độ, chất lượng TTKT ở Việt
Nam. Qua việc phân tích thực trạng, chất lượng TTKT ở nước ta giai đoạn
cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, các tác giả cho rằng, những yếu tố thể
hiện chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta là: tổng giá trị sản xuất,
tổng sản phẩm quốc nội, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu
người và một số các tiêu chí định tính khác như: xóa đói giảm nghèo, phúc lợi
xã hội, công bằng xã hội, môi trường môi sinh. Cũng trong cuốn sách này, các
tác giả đã chỉ ra và phân tích những giải pháp cơ bản để thúc đẩy kinh tế Việt

con người đã làm suy thoái MTST, thể hiện rõ nhất ở sự suy thoái tầng ôzon,
gây “hiệu ứng nhà kính”, ô nhiễm nguồn nước sạch. Các giải pháp cơ bản mà
tác giả nêu ra nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm MTST là: xây dựng ý thức
sinh thái, kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái trong quá trình
sản xuất…
Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm trong bài viết “Khía cạnh triết học - xã
hội của vấn đề môi trường sinh thái ở Việt Nam” [138] cho rằng, MTST hay
MT sống vốn là MT tự nhiên, là đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên,
trực tiếp là của sinh thái học - sinh học. Nói đến MTST là nói đến môi trường
tự nhiên - xã hội hay môi trường sinh thái - nhân văn và thực chất vấn đề
MTST là vấn đề về mối quan hệ giữa con người - xã hội - tự nhiên. Theo tác
giả, cùng với sự phát triển của xã hội, dưới tác động của con người, MTST
đang ngày càng biến đổi theo chiều hướng xấu. Do vậy, để bảo vệ MTST, cần
phải có sự thay đổi cơ bản trong quan niệm về sự phát triển, thay đổi quan
10
niệm về tự nhiên, về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên; đồng thời kết
hợp với việc ngăn chặn, loại bỏ các tệ nạn trong xã hội; đưa vấn đề giáo dục
MT trở thành một nội dung quan trọng trong GD và ĐT.
Tác giả Nguyễn Văn Kim trong bài viết “Mối quan hệ giữa phát triển
và bảo vệ môi trường - kinh nghiệm của Nhật Bản” [80] lại khẳng định, chính
con người là tác nhân chủ yếu gây ra tình trạng ô nhiễm MT, làm mất cân
bằng sinh thái. Phân tích sự phát triển kinh tế của Nhật Bản trong những năm
đầu thế kỷ XX có ảnh hưởng tới MTST, tác giả cho rằng, sự tập trung quá
mức các ngành sản xuất và dân cư vào những khu vực địa lý nhất định đã dẫn
đến tình trạng mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm MT sống. Từ đây, tác giả
đưa ra một số kinh nghiệm của Nhật Bản trong bảo vệ MT và phát triển kinh
tế như luật hóa các chính sách về MT, động viên nhân dân tham gia bảo vệ
MT, có lối sống hòa hợp với nhiên nhiên. Cũng trong bài viết này, tác giả còn
khẳng định, Việt Nam nên coi kinh nghiệm của Nhật Bản như một bài học để
phát triển kinh tế và bảo vệ MT bền vững.

nhiễm MTST là các vấn đề về công nghiệp hóa, kỹ thuật hóa, sự phát triển
dân số… Không chỉ nhấn mạnh một phương diện quan trọng trong việc giải
quyết vấn đề ô nhiễm MTST đó là giáo dục đạo đức sinh thái, tức là giáo dục
thái độ, ý thức, hành vi tôn trọng và yêu quý thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ
MTST cho mọi chủ thể, tác giả còn khẳng định sự thống nhất giữa nghĩa vụ
đạo đức với nghĩa vụ pháp lý trong việc giữ gìn và bảo vệ MTST là đòi hỏi
cấp bách đối với mỗi người và đó cũng là giải pháp cơ bản để giải quyết vấn
đề ô nhiễm MTST ở Việt Nam hiện nay.
Tác giả Nguyễn Danh Sơn trong bài viết “Một số vấn đề về bảo vệ tài
nguyên và môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở nước ta” [71] nhấn
mạnh, tài nguyên và MT là một yếu tố nền tảng của PTBV. Nguy cơ suy
giảm, cạn kiệt tài nguyên, suy thoái MT đang hiện hữu và đe dọa đến tiến
trình PTBV của nước ta. Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của
biến đổi khí hậu mà một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do
12
nạn cạn kiệt TNTN. Do đó, các quyết định phát triển và quản lý phát triển
trong thời gian tới ở nước ta cần phải tính đến tác động của biến đổi khí hậu.
Để thực hiện việc này, cần thiết phải bảo vệ TN - MT, cần hướng quá trình
phát triển vào việc tăng trưởng xanh, phát triển xanh.
Như vậy, thông qua nghiên cứu các công trình khoa học trên, có thể
thấy, MTST là tổng hợp các yếu tố vật chất tự nhiên và các loại TNTN, chúng
giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Do vậy, việc bảo vệ
MTST là hết sức quan trọng. Bảo vệ MTST là bảo vệ các yếu tố tự nhiên và
các loại TNTN. Bảo vệ MTST không những tạo điều kiện cho kinh tế tăng
trưởng ngày một bền vững hơn, mà còn giúp cho con người ngày một tiếp cận
với cuộc sống văn minh hơn, tốt đẹp hơn.
0/0/5/,4 >"#$%&'" () !
*+,
Ở Việt Nam, trong những năm qua, vấn đề về phòng chống ô nhiễm
MTST, khai thác bền vững nguồn TNTN, gắn TTKT với bảo vệ MTST cùng

động, thực hiện các cam kết, giải quyết những vấn đề cấp thiết của các nước
đang phát triển nhằm thúc đẩy toàn diện tiến trình PTBV của thế giới; xem xét,
giải quyết các hoạt động xây dựng trong sự PTBV về kinh tế, xã hội, môi
trường; đánh giá tổng quát về tình hình năng lượng tại Việt Nam, chỉ ra những
thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt như: khai thác đa dạng và hiệu quả
các nguồn tự nhiên trong nước, phát triển các dự án mới, phát triển năng lượng
đi kèm với bảo vệ MT, thành lập thị trường công nghệ cạnh tranh, thúc đẩy
chương trình năng lượng nông thôn được bàn luận khá sôi nổi tại các hội thảo
này.
Phát triển bền vững, gắn TTKT với bảo vệ MTST còn là chủ đề của
nhiều bài viết và công trình nghiên cứu khoa học theo các hướng khác nhau
của các tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm, Nguyễn Văn Kim, Chu Thái Thành,
Trương Mạnh Tiến, Bùi Văn Dũng…
Trong rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như:“Sự kết hợp giữa các
14
mục tiêu kinh tế và sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
[136]; “Khía cạnh triết học - xã hội của vấn đề môi trường sinh thái ở Việt
Nam” [138]; “Về cách tiếp cận triết học - xã hội đối với hiện trạng môi trường
sinh thái nhân văn ở Việt Nam: các vấn đề, nguyên nhân và giải pháp” [139];
“Xây dựng đạo đức sinh thái - một trách nhiệm của con người đối với tự nhiên”
[142]… tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm đã đề cập tới nhiều phương diện khác
nhau của vấn đề bảo vệ MTST. Theo tác giả, nói đến MTST là nói đến môi
trường tự nhiên - xã hội hay môi trường sinh thái - nhân văn; thực chất của vấn
đề MTST là vấn đề về mối quan hệ giữa con người - xã hội - tự nhiên. Khi
nghiên cứu về mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái, tác giả khẳng định, mục
tiêu sinh thái là sự khai thác hợp lý các nguồn TNTN, bảo vệ và không ngừng
cải thiện chất lượng môi trường sống. Trên cơ sở luận giải về sự tác động qua lại
giữa con người và tự nhiên, tác giả đề cập một cách sâu sắc tới sự tác động của
quá trình TTKT đối với MTST, qua đó khẳng định rằng, để gắn kết TTKT với
bảo vệ MTST, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau như sử dụng

Tác giả Chu Thái Thành trong bài viết “Mấy vấn đề về phát triển bền
vững” [124], xuất phát từ khía cạnh PTBV trên cơ sở kết hợp giữa TTKT với
bảo vệ MTST, tác giả đã coi phát triển kinh tế, dân số, TNTN và bảo vệ
MTST là bốn trụ cột của một căn nhà. Tác giả khẳng định phát triển kinh tế
phải gắn với bảo vệ MTST, đó là đòi hỏi tất yếu khách quan của PTBV và sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước. Một số giải pháp cho vấn đề PTBV được tác giả
đề cập tới trong bài viết này là: thực hiện chiến lược quốc gia về tài nguyên
MT; thực hiện các dự án về cải tạo, bảo vệ TN - MT, giữ gìn đa dạng sinh
học; chấm dứt tình trạng làm suy thoái tài nguyên, quy hoạch cơ cấu sản xuất
để đảm bảo gắn TTKT với bảo vệ MTST.
Ngoài các bài viết dưới dạng tạp chí, còn có nhiều công trình nghiên
cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa TTKT với bảo vệ MTST. Dưới đây là
một trong số các công trình đó.
Luận án tiến sỹ khoa học kinh tế với tiêu đề “Sự phát triển của thương
16
mại tự do trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay với vấn đề
bảo vệ môi trường sinh thái” của tác giả Trương Mạnh Tiến [131]. Các vấn
đề được tác giả đề cập trong luận án là:
Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phù hợp với chuyên ngành kinh tế
học, tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về tự do thương mại và
bảo vệ MTST ở nước ta. Thông qua nghiên cứu về nền kinh tế thị trường và
quá trình tự do hoá thương mại, tác giả phân tích liên kết xã hội - kinh tế -
môi trường sinh thái và chỉ ra rằng quá trình TTKT chỉ có thể đạt được khi có
sự bền vững về MTST. Theo tác giả, con đường khả thi duy nhất để TTKT
lâu bền là cân bằng các nguồn lực kinh tế, sinh thái, con người.
Trên cơ sở đánh giá những hậu quả về mặt MT của các chính sách kinh
tế như tự do hoá thương mại gây ra. Tác giả Trương Mạnh Tiến cho rằng, quy
mô hoạt động thương mại tăng, sẽ dẫn đến việc sử dụng các nguồn TNTN và
ô nhiễm MTST cũng tăng theo. Trong khi khẳng định bảo vệ MTST “được
hiểu là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện

khái niệm TTKT, phát triển kinh tế. Từ đó, đi tới kết luận, các nhân tố quyết
định tới sự TTKT là: số lượng, chất lượng nguồn nhân lực; số lượng, chất
lượng nguồn tài nguyên; mức độ tích luỹ vốn và sự đổi mới công nghệ.
Nội dung nghiên cứu thứ hai của tác giả Bùi Văn Dũng là: “phát triển
lâu bền: sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường” [47,
tr.48], tác giả đã chứng minh phát triển lâu bền là sự thống nhất giữa TTKT
với bảo vệ môi trường. Qua việc làm rõ mâu thuẫn giữa TTKT và bảo vệ MT,
tác giả khẳng định hệ thống “tự nhiên - con người - xã hội” vốn có sự gắn bó
mật thiết với nhau trong một chỉnh thể, song lại có sự khác nhau qua từng giai
đoạn. Ở thời kỳ đầu trong sự phát triển của nền văn minh loài người, các lực
lượng tự nhiên gần như thống trị con người, sau đó, do sự phát triển của công
cụ lao động con người đã học cách chế ngự tự nhiên, thiết lập “sự thống trị”
của mình đối với tự nhiên, làm xuất hiện mâu thuẫn giữa con người và tự
nhiên, biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn này trong nền sản xuất vật chất là mâu
18
thuẫn giữa TTKT với bảo vệ MT. Để giải quyết mâu thuẫn giữa TTKT với
bảo vệ MT cho sự phát triển lâu bền, tác giả đưa ra năm giải pháp cơ bản, đó
là: thay đổi thái độ và hành động của con người; duy trì tỷ lệ tăng dân số một
cách hợp lý; xoá bỏ nghèo nàn; mở rộng cách mạng KH và CN vào sản xuất;
hoà bình và hợp tác toàn cầu; xoá bỏ chế độ người áp bức bóc lột người.
Nội dung thứ ba mà tác giả Bùi Văn Dũng nghiên cứu là “Mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền” [47,
tr.107]. Trong nội dung này, tác giả đã vạch rõ những thuận lợi và khó khăn
cho sự phát triển lâu bền ở Việt Nam. Về thuận lợi, tác giả cho rằng đó là: sự
tăng trưởng nhanh của nền kinh tế từ khi đổi mới, nguồn nhân lực dồi dào…
Còn về khó khăn, thách thức, theo tác giả đó là điều kiện cạnh tranh gay gắt
trên thế giới, yêu cầu về thể chế kinh tế, về phát triển nhanh và bền vững…
Luận án còn đưa ra một số giải pháp có ý nghĩa quan trọng để nước ta có thể
kết hợp tốt TTKT với bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Các giải pháp đó là: thống nhất quan điểm về sự

nhà khoa học trong những năm gần đây. Điều đó thể hiện ở số lượng ngày càng
nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, các công trình nghiên cứu luận văn thạc sỹ,
luận án tiến sỹ, các loại sách tham khảo, chuyên khảo dưới góc độ nhiều
chuyên ngành khác nhau như triết học, kinh tế học, kinh tế chính trị học Cụ thể
là các công trình sau: “Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Hậu [63]; “Vai trò định hướng xã hội chủ
nghĩa của nhà nước đối với phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay” của tác
giả Lê Thị Hồng [69]; “Vai trò của Nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam” của tác giả Mai Lan Hương [76]; “Vai trò nhà nước đối với
việc xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay” của tác giả Trần Thị Thu Hường [78]; “Quản lý nhà
nước về kinh tế ở nước ta hiện nay” của tác giả Ngô Quang Minh [101]; “Thể
chế kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế ở Việt Nam” của hai tác giả Lương Xuân Quỳ và Đỗ Đức Bình [121]; “Vai
20
trò của nhân tố chủ quan trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển
nền kinh tế ở nước ta hiện nay” của tác giả Trần Thành [125]; “Về vai trò của
nhà nước trong nền kinh tế thị trường” của tác giả Lê Nguyễn Hương Trinh
[143]; “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi
mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” của tác giả Nguyễn Phú Trọng [144]…
Nghiên cứu các các công trình này, tác giả luận án rút ra những kết luận sau:
Các khái niệm về TTKT, kinh tế thị trường, toàn cầu hoá kinh tế, hội
nhập kinh tế quốc tế… đã được nhiều công trình nghiên cứu đặt ra và giải
quyết một cách công phu, nghiêm túc. Mặc dù các công trình đã tiếp cận khái
niệm TTKT theo nhiều hướng khác nhau, song, nhìn chung đều thống nhất ở
nội dung: TTKT và phát triển kinh tế là hai khái niệm không đồng nhất với
nhau. TTKT và phát triển kinh tế luôn gắn liền với việc phát huy vai trò của
nhà nước nhằm hoàn thiện cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế và nâng cao chất
lượng cuộc sống [63], [69], [78], [101], [121], [125], [143], [144]…
Các nghiên cứu đã tập trung làm rõ sự thay đổi vai trò của Nhà nước ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status