Vai trò của Chính phủ trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế đồng thời liên hệ với vai trò kinh tế của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LờI Mở ĐầU
Ngày nay , chúng ta đang đợc chứng kiến sự phát triển đầy năng
động ,sáng tạo của các nền kinh tế trên thế giới cùng với xu hớng toàn cầu
hoá đang diễn ra mạnh mẻ, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đẻ có thể
đứng vững và giành thắng lợi trong cạnh tranh các quốc gia đều phải tìm ra
cho mình một phơng hớng đẻ có thể vơn lên. Ta có thể lấy những ví dụ rất
điển hình nh Nhật , Mỹ , EU , và khối ASEAN (trong đó có VN ) . Nắm
bắt đợc xu thế của thời đại, Đảng ta đã có những bớc chuyển kịp thời .Tại
đại hội Đảng 6 Đảng ta đã đề ra dờng lối đổi mới trong đó quan trọng nhất
là sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trờng . nền KTTT (kinh tế thị trờng ) đã từng là động lực
thúc đẩy CNTB phát triển một cách mạnh mẽ trong những giai đoạn trớc
đây và cả hiện nay . Thực tế đã chứng minh cơ chế thị trờng phát triển vô
cùng nhanh chóng từ khi nó ra đời.Cơ chế thị trờng làm cho nền kinh tế trở
nên năng động và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nền kinh tế thị trờng luôn
là sự cạnh tranh giữa các hãng sản suất với nhau do đó họ phải luôn tìm
tòi,sáng tạo các phơng thức sản suất mới để mang lại lợi nhuận cao trong
kinh doanh. Chính vì thế nó làm cho nền kinh tế của đất nớc ngày càng phát
triển và phồn thịnh. (tốc độ tăng trởng kinh tế giai đoạn 90 95 luôn đạt
8,5%, GDP trên đầu ngời đạt 380 $ / năm tính đến thời điểm năm 2001)
Tuy nhiên cơ chế thị trờng không phải là một hoạt động kinh tế hoàn
hảo mà nó mang trên mình mặt trái của nó nh:sự cạnh tranh không hoàn
hảo; vấn đề ngoại ứng; sự phân hoá giàu nghèo...và các vấn đề xã hội khác.
Chính vì vậy, nhà nớc đã tham gia vào quá trình hoạt động của nền kinh tế
để giảm nhẹ hoặc khắc phục những hậu quả của nó. Nhng trên thực tế
không thể tồn tại một nền kinh tế chỉ đợc điều hành bằng mệnh lệnh và
cũng không có nền kinh tế nào hoạt động trên cơ sở tự nguyện mà không có
sự điều tiết của nhà nớc. Chính phủ ngày càng khẳng định đợc vai trò của
mình trong hoạt đọng của nền kinh tế, đặc biệt đối với một nớc đang trong
thời kì quá độ lên CNXH nh nớc ta .Chính vì vậy sau khi đợc học tập và

ờng là một quá trình trong đó ngời mua và ngời bán một thứ hàng tác động
qua lại nhau để xác định giá cả và số lợng hàng (Paul A.Samuelson).
Vai trò của thị trờng : kinh tế hàng hoá gắn liền cới thị trờng .Sản xuất cho
thị trờng .Tiêu dùng phải thông qua thị trờng .Thị trờng là trung tâm của
toàn bộ quá trình tái sản xuất .Thị trờng là yếu tố cơ bản của môi trờng kinh
doanh, là nơi hình thành các quan hệ kinh tế. Các quan hệ kinh tế này là cơ
sở quan trọng để hình thành cơ cấu kinh tế. Thông qua thị trờng các quan
Chu Thị Phơng Anh
4022 Kế toán Kiểm toán.
Trang 2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hệ kinh tế giữa các ngành, các khu vực kinh tế mới đợc biểu hiên. Thị trờng
có khả năng dự báo và hớng dẫn ngới sản suất và tiêu dùng trong hành vi
kinh tế. Nói một cách khác,trong nền kinh tế hàng hoá tất nhiên tồn tại một
cơ chế thị trờng
b) Cơ chế thị trờng
Đề cập đến khái niệm cơ chế thị trờng thì hiện nay còn có nhiều ý kiến
khác nhau nhng hiểu theo một nghĩa khái quát thì cơ chế thị trwongf chính
là bộ máy kinh tế điều tiết toàn bộ sự vận động của kinh tế thị trờng ,điều
tiết quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá thông qua sự tác động của các
quy luật kinh tế ,đặc biệt là quy luật giá trị quy luật kinh tế căn bản của
sản xất và lu thông hàng hoá . Tuy nhiên ,cơ chế thị trờng là sự cạnh tranh
khốc liệt .Đó là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm dành phần sản
xuất và tiêu thụ hànghoá cólợi cho mình để thu lợi nhuận cao .
Sự tồn tại cơ chế thị trờng là một tất yếu khách quan đối với những
xã hội còn tồn tại nền kinh tế hàng hoá . Coi nhẹ hoặc bỏ qua vai trò của
kinh tế thị trờng là một trong những nguyên nhân thất bại trên lĩnh vực kinh
tế . Cơ chế thị trờng đợc coi là bàn tay vô hình điều tiết sự vận động
của nềnkinh tế hàng hoá.
Cơ chế thị trờng có những u thế và khuyết tật của nó mà ta phải nắm

không thể giải quyết đợc . Ngời ta gọi đó là những thất bại thị trờng .
Đó là :
Thứ nhất : khủng hoảng kinh tế .Khủng hoảng sản xuất thừa luôn là
căn bệnh cố hữu của các nền kinh tế thị trờng phát triển . Lúc này , sản l-
ợng hàng hoá trên thị trờng vợt quá mức mức cầu có khả năng thanh toán
dẫn đến tình trạng d thừa hàng hoá và cùng với đó là sự phá sản của
hàng loạt các doanh nghiệp do hàng hoáẩan xuất ra không tiêu thụ đợc ,
khoong có khả năng thu hồi vốn để tái sản xuất .
Thứ hai : gắn liền với khủng hoảng kinh tế là nạn thất nghiệp của
ngời lao động , đây luôn là vấn đề nan giải đối với kinh tế thị trờng .
Thứ ba : sự phân hoá giai cấp sâu sắc càng làm cho mâu thuẫn giai
cấp vốn đã không thể điều hoà đợc trở nên gay gắt hơn . Các tác động của
nền kinh tế thị trờng đã dẫn đến tình trạng một số ngòi trở nên giàu có còn
một số khác làm ăn thua lỗ phá sản trơ thành những ngòi làm thuê . Sự đối
kháng về lợi ích kinh tế là cơ sở của đấu tranh giai cấp .
Thứ t : cơ chế thị trờng gây ô nhiễm môi trờng sinh thái , tàn phá
nghiêm trọng các tài nguyên thiên nhiên .
Thứ năm: Thị trờng phát triển dẫn đến độc quyền do đó làm giảm
động lực phát triển.
Chu Thị Phơng Anh
4022 Kế toán Kiểm toán.
Trang 4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thứ sáu: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nó gây ra những
tệ nạn xã hội nh: hàng giả, buôn lậu, tham nhũng, hối lộ ...
Thứ bẩy: Thị trờng trong nhiều trờng hợp là kìm hãm chứ không phải
là thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Tóm lại, cơ chế thị trờng có tác động điều tiết sản xuất và lu thông
hàng hoá , chi phối sự vận đọng của nền kinh tế thị trờng , song tuy nhiên
sự điều tiết đó là mù quáng . Các chủ thể tham gia chỉ vì lợi ích của riêng

đủ công ăn việc làm cho ngời lao động , ổn định giá cả và cán cân ngoại th-
ơng .
Mục tiêu 1: Ngày nay, thớc đo cuối cùng để đánh giá thành công
kinh tế, là khả năng của một nớc để tạo ra sản lợng cao và tăng nhanh đợc
sản lợng hàng hoá và dịch vụ kinh tế <Paul Samuelson>.Có nghĩa là tốc
độ tăng trởng kinh tế ở mức cao.
Mục tiêu 2: tỉ lệ thất nghiệp cao luôn là vấn đề làm đau đầu những
nhà quản lý kinh tế của chính phủ .Một quốc gia có số lao động thất nghiệp
thấp chứng tỏ nền kinh tế đó đang ở giai đoạn tăng trởng kinh tế cao.
Mục tiêu 3: ổn định giá cả và tỉ lệ lạm phát thấp . Việc ổn định đợc
giá cả trên thị trờng giúp cho các nhà kinh doanh có thể định hớng đầu t
sản xuất . Khi đồng tiền mất giá ,giá cả hàng hoá tăng thì đó là lạm phát .
Chính phủ luôn muốn duy trì tỉ lệ lạm phát ở mức hai con số bởi vì nếu tỉ lệ
lạm phát quá thấp thì cũng không có lợi cho phát triển kinh tế .
Mục tiêu 4: Cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tỷ giá hối
đoái. Hầu hết nền kinh tế của các nớc đều là nền kinh tế mở cửa, buôn bán
với nớc ngoài do đó luôn tồn tại việc xuất-nhập khẩu hàng hoá hoặc vay m-
ợn giữa các nớc... Cân bằng cán cân thanh toán và ổn định tỷ giá hối đoái
nhằm làm cho cán cân hơng mại không có những cú sốc lớn .
2 Chức năng kinh tế của Chính phủ
Khi thảo luận vai trò của chính phủ, chúng ta thờng đơng chấp nhận
rằng chính phủ là ngời đề ra luật lệ đi đờng. Để khẳng định vai trò của
mình chính phủ thực hiện các chức năng của mình.
Hiệu quả,nh đã nói ở trên, các nền kinh tế trên thực tế đôi khi chịu
thất bại thị trờng. Ơ hệ thống kinh tế cạnh tranh, nhiều nhà sản xuất đơn
giản không biết kỹ thuật sản xuất rẻ nhất, và chi phí sản xuất không hạ
xuống mức tối thiểu đợc. Trên thị trờng thực tế, một doanh nghiệp có thể
có lãi bằng cách giữ giá cao cũng nh bằng cách giữ mức sản xuất cao.
Trong nhiều lĩnh vực khác có rất nhiều tác động bên ngoài, vì ô nhiễm độc
hại hoặc vì kiến thức quí giá, đối với các nhà doanh nghiệp khác hoặc ngời

ra một loại dầu đốt đã có mác với những đặc tính độc đáo, họ vẫn phải tính
đến giá của các loại dầu đốt khác cũng nh giá của củi, khí đốt và chất cách
nhiệt. Nh vậy, sức mạnh kinh tế của những ngời cạnh tranh không hoàn
hảo luôn bị kiềm chế phần nào.
Các ông chủ doanh nghiệp và công nhân vừa a vừa ghét cạnh tranh
khi nó giúp chúng ta mở rộng thị trờng. Nhng chúng ta gọi nó là có tính
chất đục đẽo, không công bằng hoặc tai hại khi đối thủ cạnh tranh
của ta làm chúng ta chúnh ta mất lợi nhuận. Những công nhân sống phụ
thuộc vào giá bán sức lao động của mình trên thị trờng có thể là những ngời
đầu tiên la ó khi cạnh tranh nớc ngoài đe doạ tiền lơng của họ ở trong nớc.
Khi sức mạnh độc quyền- tức là khi một doanh nghiệp lớn có khả
năng tác động đến giá cả ở một thị trờng nào đó- thực sự trở thành quan
trọng về kinh tế, chúng ta sẽ thấy giá cả cao hơn mức hiệu quả, kiểu mẫu
méo mó về cầu và sản xuất, và lợi nhuận siêu thờng. Những lợi nhuận này
Chu Thị Phơng Anh
4022 Kế toán Kiểm toán.
Trang 7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có thể bị biến thành điều quảng cáo lừa dối hoặc là thậm chí có thể mua
ảnh hởng và sự bảo hộ của ngành lập pháp.
Chính phủ không coi mọi hoạt động của độc quyền là tất yếu. Từ
những năm 1890 chính phủ Liên bang đã ra các luật chống độc quyền và
luật lệ kinh tế để tăng hiệu lực của hệ thống thị trờng cạnh tranh không
hoàn hảo của chúng ta.
Tác động bên ngoài. Một cách thứ hai để cơ chế thị trờng không bị
kiềm chế có thể dẫn đến kết quả không có hiệu quả xuất khẩu khi có nhân
tố tác động bên ngoài.
Vì xã hội chúng ta đã trở nên đông dân hơn xa, vì sản xuất ngày
càng dựa trên những quy trình sử dụng chất độc tác động bên ngoài đã từ
những phiền toái nhỏ mà trở thành những mối đe doạ lớn. Kết quả là chính

phồn thịnh nhng cũng có lúc nền kinh tế nằm trong vùng đại suy thoái do
nhiều nguyên nhân: do lạm phát cao, những thay đổi của nền kinh tế thế
giới... Do đó chính phủ góp phần làm cho nền kinh tế dần dần ổn định bằng
cách đa ra những chính sách hợp lý.
Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm hai nhóm yếu tố: Cơ chế thị trờng-
nhóm yếu tố chịu sự chi phối của bàn tay vô hình tức các quy luật kinh
tế thị trờng . Nhóm yếu tố này mang tính chất tự điều chỉnh. Nhóm hai là
sự quản lý của chính phủ ở tầm vĩ mô, nhóm này gắn liền với bàn tay hữu
hình , tức các công cụ quản lý của nhà nớc nh: pháp luật, chính sách, kế
hoạch.
Tóm lại, chính phủ có vai trò thúc đẩy nền kinh tế hớng tới sự công
bằng, hiệu quả và ổn định. Tuy nhiên chính phủ không thể hô hào nhân dân
là phải làm thế này hay thế kia thì mới đạt đợc hiệu quả mà chính phủ phải
sử dụng các công cụ của kinh tế vĩ mô đang có trong tay một cách hữu hiệu
nhất để thực hiện vai trò không thể thiếu đợc đối với nền kinh tế đất nớc .
3, Các công cụ quản lý vĩ mô của Chính phủ
Nhà nớc muốn thực hiện chức năng quản lý của mình thì phải có những
công
cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế có hiệu quả . . Một công cụ chính sách là một
biến số kinh tế chịu sự quản lý trực tiếp hay gián tiếp của chính phủ thay
đổi công cụ chính sách này sẽ có tác động đến một hoặc nhiều mục tiêu
kinh tế vĩ mô.
a) Hệ thống pháp luật :
Hệ thống pháp luật tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho các hoạt
động kinh tế, đến mọi thành phần kinh tế ... nhằm tạo ra sự yên tâm cho các
nhà đầu t đồng thời đảm bảo trật tự kinh tế cũng nh đảm bảo trật tự xã hội
để nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh. Nó đa xã hội nói chung và
nền kinh tế nói riêng vận động theo ý muốn chủ quan của chính phủ. Hệ
thống pháp luật có thể đợc sửa đổi bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn
cụ thể .

khích đầu t, việc giảm các sắc thuế đánh vào các khoản bổ sung cho đầu t
hoặc kinh doanh máy móc thiết bị mới sẽ kích thích đầu t ở nhiều ngành từ
đó làm tăng nguồn vốn của nền kinh tế dẫn đến GDP sẽ tăng lên trong tơng
lai. Ngoài ra, thuế còn ảnh hởng đến việc xuất-nhập khẩu ở mỗi nớc. Nếu
các sắc thuế đánh vào các mặt hàng nhập khẩu cao thì sẽ hạn chế đợc việc
nhập khẩu các mặt hàng đó, tơng tự đối với xuất khẩu, từ đó chính phủ điều
tiết đợc lợng hàng hoá nội địa và nhập ngoại. Nh vậy, khi chính phủ muốn
bảo hộ một loại mặt hàng nào đó ở trong nớc thì chỉ cần tăng thuế nhập
khẩu của mặt hàng đó lên cao đến mức các doanh nghiệp không muốn nhập
khẩu loại mặt hàng đó nữa.
Chu Thị Phơng Anh
4022 Kế toán Kiểm toán.
Trang 10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nh vậy, để ổn định sản lợng gần với sản lợng tiềm năng thì chính
phủ có thể sử dụng chính sách tài khoá bằng cách: Nếu các bộ phận của
tổng cầu hạ thấp một cách không bình thờng thì chính phủ phải kích thích
nhu cầu bằng cách giảm thuế hoặc tăng chi tiêu hoặc là kết hợp cả hai cách.
Trong trờng hợp các bộ phận của tổng cầu cao hơn mức bình thờng thì
chính phủ có thể tăng thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả hai cách.
Cính sách thuế đúng đắn không chỉ có mục đích tạo nguồn thu cho ngân
sách mà còn khyuến khích sản xuất , xuất khẩu , điều tiết tiêu dùng ,khắc
phục có hiệu quả các hiện tợng tiêu cực trog nền kinh tế , thu hút đợc nhiều
vốn đầu t của nớc ngoài , khuyến khích việc đầu t có hiệu quả kinh tế - xã
hội cao.
c, Chính sách tiền tệ
Trong nền kinh tế thị trờng , tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng
Chính sách tiền tệ là một cônh cụ kinh tế vĩ mô đợc dùng tơng đối phổ biến
của chính phủ. Chính sách tiền tệ chủ yếu tác động đến đầu t t nhân, hớng
nền kinh tế vào mức sản lợng và việc làm mong muốn.

e.Chính sách kinh tế đối ngoại:
Trong nền kinh tế mở cửa thì không thể không có chính sách kinh tế
đối ngoại để sự trao đổi mua bán giữa các nớc đợc thuận lợi. Chính sách
kinh tế đối ngoại bao gồm nhiều loại công cụ nh: quản lý tỷ giá hối đoái,
chính sách ngoại thơng, trợ giá, hàng rào thuế quan, hạn nghạch. Việc tác
động đến hàng hoá xuất-nhập khẩu vào giá cả hàng hoá đó đều thông qua
các công cụ này.Chẳng hạn nh để khuyến khích xuất khẩu thì chính phủ có
thể tác động đến tỷ giá bằng cách hạ thấp tỷ giá xuống làm cho giá ngoại tệ
giảm,điều đó là rất thuận lợi cho xuất khẩu, hoặc có thể tác động bằng cách
hạ thuế suất các mặt hàng xuất khẩu, hoặc trợ giá... làm cho chi phí xuất
khẩu hạ xuống từ đó làm giá thành hạ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cạnh
tranh với các hãng sản xuất cùng loại mặt hàng ở các nớc khác. Nh vậy,
những biện pháp này nhằm duy trì sự cân bằng trên thị trờng ngoại hối và
giữ cho xuất-nhập khẩu theo nh mong muốn của chính phủ .
Tóm lại, đây là các công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu của chính phủ,
ngoài ra còn có các công cụ khác nh các kế hoạch, các chơng trình phát
triển...Việc sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô này trong từng thời kỳ hay ở
mỗi quốc gia là không giống nhau. Vì vậy, khi sử dụng chúng cần phải xem
xét điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở quốc gia mình .
Qua nghiên cứu việc điều tiết của Nhà nớc trong nền kinh tế thị tr-
ờng ta có thể thấy đợc mặt tiến bộ vợt trội hơn hẳn so với trong nền kinh tế
chỉ huy :
Nền kinh tế chỉ huy là nền kinh tế mà ở đó Chính phủ trực tiếp giải
quyết ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế .Còn trong nền kinh tế thị trờng có
sj điều tiết của Nhà nớc thì cả Chính phủ và thị trờng đều tham gia giải
quyết những vấn đề cơ bản của nền kinh tế . Ba vấn đề đó là : sản xuát cái
gì , sản xuất nh thế nào , và sản xuất cho ai .
Chu Thị Phơng Anh
4022 Kế toán Kiểm toán.
Trang 12

này đã đợc áp dụng ở các nớc XHCN trớc đây và nó đã bị tan rã . Chính vì
vậy việc chuyển đổi cơ cấu cấu kinh tế ở nức ta là một quyết định đúng
đắn.

Chu Thị Phơng Anh
4022 Kế toán Kiểm toán.
Trang 13

Trích đoạn Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế của chính phủ Cải cách bộ máy Nhà nớc, trọng tâm là nềnkinh tế hành chính Nhà nớc, đi đôi với cải cách kinh tế bằng cách Nhà nớc đề xớng và nền hành
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status