Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
Kinh tế thị trờng từng là động lực thúc đẩy nền kinh tế t bản phát triển
vô cùng nhanh chóng từ khi nó ra đời.Thực tế đã chứng minh cơ chế thị tr-
ờng làm cho nền kinh tế trở nên năng động và mang lại hiệu quả kinh tế
cao.Nền kinh tế thị trờng luôn là sự cạnh tranh giã các hãng sản xuất với
nhau, do đó họ phải luôn tìm tòi, sáng tạo các phơng thức sản xuất mới để
mang lại lợi nhuận cao trong kinh doanh.Chính vì thế nó làm cho nền kinh
tế của đất nớc ngày càng phát triển và phồn thịnh. Tuy nhiên cơ chế thị tr-
ờng không phải là một hoạt động kinh tế hoàn hảo mà nó mang trên mình
mặt trái của nó nh: sự cạnh tranh không hoàn hảo, vấn đề ngoại ứng, sự
phân hoá giaù nghèo và các vấn đề xã hội khác. Chính vì vậy, Nhà n ớc đã
tham gia vào quá trình hoạt động của nền kinh tế để giảm nhẹ hoặc khắc
phục những hậu quả của nó.Nhng trên thực tế không thể tồn tại một nền
kinh tế chỉ đợc điều hành bằng mệnh lệnh và cũng không có nền kinh tế nào
hoạt động trên cơ sở tự nguyện.Chính phủ ngày càng khẳng định đợc vai trò
của mình trong quá trình hoạt động của nền kinh tế. Đặc biệt là đối với Việt
Nam- một nớc mới chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng có sự đIều tiết vĩ mô của Nhà nớc nên còn có nhiều
mới mẻ và bỡ ngỡ nên chónh phủ Việt Nam lại càng có vai trò to lớn trong
việc hơng nền kinh tế đi theo đúng mục tiêu đã chọn. Với hiểu biết của một
sinh viên mới đợc hớng dẫn học tập môn này, em xin đợc trình bày những
hiểu biết của mình về vai trò và các chức năng cơ bản chính phủ trong điều
tiết vĩ mô nền kinh tế đồng thơì liên hệ đến vị trí kinh tế của chính phủ ở n-
ớc Cộng hoà XHCN Việt Nam trong giai đoạn từng bớc công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nớc.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phần I
vai trò và các chức năng cơ bản của chính phủ trong
nh bằng cách giữ mức sản xuất cao. Trong nhiều lĩnh vực khác có rất nhiều tác động
bên ngoài, vì ô nhiễm độc hại hoặc vì kiến thức quí giá, đối với các nhà doanh nghiệp
khác hoặc ngời tiêu dùng. Trong mỗi một trờng hợp này, một thất bại thị trờng dẫn
đến sản xuất không hiệu quả hoặc tiêu dùng không hiệu quả, và ở đây, chính phủ có
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thể đóng vai trò chữa bệnh. Nhng trong khi đánh giá vai trò của chính phủ chữa bệnh
kinh tế, chúng ta cũng phải cảnh giác với những thất bại của chính phủ - đó là tình
huống chính phủ gây thêm bệnh hoặc làm cho bệnh trầm trọng thêm.
Cạnh tranh không hoàn hảo. Một sai lệch nghiêm trọng của cạnh tranh hoàn
hảo là cạnh tranh không hoàn hảo hoặc nhân tố độc quyền.
Chúng ta phải luôn luôn nhớ định nghĩa chinnhs xác của nhà kinh tế về ngời
cạnh tranh hoàn hảo . Mới chỉ có một vài địch thủ cha đủ có cạnh tranh hoàn hảo.
Định nghĩa kinh tế về cạnh tranh hoàn hảo trên một thị trờng là có đủ một số lợng
doanh nghiệp hoặc mức độ cạnh tranh đến mức không có một doanh nghiệp nào có
thể ảnh hởng đến giá cả của hàng hoá đó. Một ngời cạnh tranh không hoàn hảo là
một ngời mà hành động có thể ảnh hởng đến giá của một mặt hàng. Thực tế, điều này
có nghĩa là hầu hết các ông chủ doanh nghiệp, có lẽ trừ số hàng triệu nhà nông mà
từng ngời một sản xuất ra một phần không đáng kể trong toàn bộ thu hoạch, đều là
những ngời cạnh tranh không hoàn hảo. Ơ đầu cực cạnh tranh không hoàn hảo là
nhà độc quyền, ngời duy nhất cung cấp một mặt hàng cụ thể.
Toàn bộ sinh hoạt kinh tế là sự kết hợp giữa các nhân tố độc quyền và cạnh
tranh. Cạnh tranh không hoàn hảo chứ không phải cạnh tranh hoàn hảo là hình thái
chính. Nhng nói rằng, Một doanh nghiệp có thể tác động tới giá cả sản phẩm của
mình không có nghĩa là độc tài . Phần sau chúng ta sẽ thấy rõ, một doanh nghiệp
không thể định giá hàng hoàn toàn theo ý muốn riêng mà vẫn có lãi. Doanh nghiệp
đó phải tính đến giá của các hàng có thể thay thế cho hàng của mình. Thậm chí nếu
doanh nghiệp đó sản xuất ra một loại dầu đốt đã có mác với những đặc tính độc đáo,
họ vẫn phải tính đến giá của các loại dầu đốt khác cũng nh giá của củi, khí đốt và
chất cách nhiệt. Nh vậy, sức mạnh kinh tế của những ngời cạnh tranh không hoàn
trả.
Vì xã hội chúng ta đã trở nên đông dân hơn xa, vì sản xuất ngày càng dựa trên
những quy trình sử dụng chất độc tác động bên ngoài đã từ những phiền toái nhỏ mà
trở thành những mối đe doạ lớn. Kết quả là chính phủ đã sử dụnh đến luật lệ điều tiết
hành vi kinh tế nh là một cách để ngăn chặn những tác động tiêu cực bên ngoài nh ô
nhiễm nớc và không khí, khai thác đến cạn khoáng sản, chất thải-gây nguy hiểm thức
ăn, uống thiếu an toàn và các chất phóng xạ...
Những ngời phê phán việc quy định luật lệ than phiền rằng hoạt động kinh tế
của chính phủ có tính chất cỡng bức không cần thiết. Chính phủ giống nh cha
mẹ, luôn nói không đợc: Không đợc bán thiếu cân, không đợc sử dụng lao động trẻ
em, không đợc để ống khói nhà máy nhả khói ra bầu trời, không đợc bán hoặc hút
Cocaine.v.v...
Mặt khác, khi kinh doanh, các nhà sản xuất luôn muốn thu đợc lợi nhuận cao
nhất, nguồn vốn quay vòng nhanh... Do đó, một số loại hàng hoá quan trọng cho việc
phát triển kinh tế, cho sự bảo đảm an ninh trật tự cho nền kinh tế lại không đợc đầu t
vì nó không mang lại lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít. Vì thế chính phủ pnải đầu t vào
các loại hàng hoá này. Sự can thiệp của chính phủ vào thị trờng để nâng cao hiệu
quả của nền kinh tế chứng tỏ những việc làm nh thế không phải do ý thích .(Paul
A.Samuel).
b- Công bằng: Cho đến nay chúng ta đã tập trung vào các thiếu sót trong vai trò
chỉ đạo của bàn tay vô hình-những sự thiếu hoàn hảo có lẽ có thể sửa chữa đợc bằng
sự can thiệp đúng đắn. Nhng hãy tạm cho rằng nền kinh tế hoạt động hoàn toàn có
hiệu quả-luôn ở trên ranh giới khả năng sản xuất và không bao giờ ở bên trong ranh
giới này cả, luôn chọn đúng số lợng hàng hoá công cộng so với hàng hoá t nhân.v.v...
Nhng thậm chí nếu hệ thống thị trờng hoạt động hoàn hảo nh vừa mô tả thì nhiều ng-
ời vẫn không cho nó là lý tởng. Tại sao vậy?
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, hàng hoá đi theo số phiếu bằng đồng đô la chứ không phải là theo nhu
cầu lớn nhất. Một con mèo của ngời giàu có thể đợc nhận số sữa mà một đứa trẻ
năm 1930, khó khăn gian khó kéo dài một thập kỷ vì các nhà lãnh đạo chính trị
không có đủ hiểu biết kinh tế để có biện pháp phục hồi kinh tế. Gần đây hơn, đầu
những năm 1980, chính phủ Mỹ và các nớc khác đã có biện pháp nhằm giảm tỷ lệ
lạm phát cao. Những biện pháp này đã dẫn đến thất nghiệp cao và lạm phát thì giảm.
Nhng trong thành công lại có hạt giống của thất bại. Bằng cách bảo đảm một thời kỳ
nhiều công ăn việc làm và tăng trởng nhanh, nhiều nớc đã vô tình nuôi dỡng một nền
kinh tế trong đó nhân dân bắt đầu cho rằng phồn vinh là lẽ đơng nhiên. Nhiều nớc
đảm bảo cho công nhân và ngời hởng thu nhập định kỳ mức sống trong điều kiện
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thời tiết xấu nh mức sống chỉ có thể có đợc với thời tiết tốt. Trong các hệ thống giá
cả, tiền lơng và hỗ trợ thu nhập có những điểm cứng nhắc. Khi những rối loạn của
những năm 1970 xảy ra sau hai lần tăng mạnh giá dầu lửa, mất mùa ngô, trục trặc
trong hệ thống tài chính quốc tế-ngời ta đã không giữ đợc lời hứa. Trong sự phát triển
của mỗi quốc gia, không có một nền kinh tế ở quốc gia nào đều luôn ổn định mà nó
luôn có sự biến động. Có những thời kỳ nền kinh tế cực kỳ phồn thịnh nhng cũng có
lúc nền kinh tế nằm trong vùng đại suy thoái do nhiều nguyên nhân: do lạm phát cao,
những thay đổi của nền kinh tế thế giới... Do đó chính phủ góp phần làm cho nền
kinh tế dần dần ổn định bằng cách đa ra những chính sách hợp lý. Các mục tiêu của
đời sống kinh tế vĩ mô không phải là vấn đề để bàn cãi gay gắt nữa. Nhng các nớc có
thể đạt đợc các mục tiêu đó một tốt nhất nh thế nào? Một nớc muốn cải tiến thành
tựu của mình có thể có những sự lựa chọn gì? Trả lời cho câu hỏi này nằm một phần
trong các công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô .
Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm hai nhóm yếu tố: Cơ chế thị trờng-nhóm yếu tố
chịu sự chi phối của bàn tay vô hình tức các quy luật kinh tế thị trờng . Nhóm yếu
tố này mang tính chất tự điều chỉnh. Nhóm hai là sự quản lý của chính phủ ở tầm vĩ
mô, nhóm này gắn liền với bàn tay hữu hình , tức các công cụ quản lý của nhà nớc
nh: pháp luật, chính sách, kế hoạch... Nh vậy không thể điều tiết sự vận động của nền
kinh tế thị trờng khi chỉ có một trong hai yếu tố trên, điều đó giống nh ngời ta định
vỗ tay bằng một tay
nó nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, làm cho xã hội có sự công bằng hơn. Bởi vì chi
tiêu của chính phủ là một bộ phận của tổng cầu do đó nó làm cho tổng sản phẩm
quốc dân thay đổi. Trong trờng hợp sản lợng của nền kinh tế còn dới mức sản lợnh
tiềm năng thì chính phủ tăng cờng chi tiêu đẻ làm tăng tổnh cầu từ đó làm cho sản l-
ợng tiến gần sản lợng tiềm năng. Trong trờng hợp ngợc lại, sản lợng vợt qua sản lợng
tiềm năng hay trong thời kì lạm phát cao, chính phủ cắt giảm chi tiêu của mình để
cùng với các công cụ vĩ mô khác làm giảm lạm phát. Điều đó chứng tỏ chính phủ
không thể chi tiêu một cách lãng phí nguồn ngân sách mà vấn đề là chi tiêu thế nào
cho hợp lí trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó, chính phủ cần phải kiểm soát chặt chẽ
nhu cầu chi tiêu của mình để hạn chế tối đa việc thâm hụt ngân sách. Trong trờng
hợp thiếu hụt ngân sách chính phủ phải vay tiền dân chúng hoặc vay nớc ngoài để bù
đắp ngân sách.
Tóm lại, tất cả các chính phủ ở các quốc gia đều phải chi tiêu nhng không phải tự
nhiên có tiền để chi tiêu mà phải có nguồn thu. Nguồn thu chủ yếu của ngân sách
nhà nớc là thuế, còn các nguồn thu khác là không đáng kể.
.Thuế khoá :
Thuế khoá là khoản đóng góp mang tính pháp lệnh mà nhà nớc bắt buộc mỗi công
dân và các tổ chức kinh tế phải nộp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Tất cả
các quốc gia đều quy định mức thuế suất với mỗi loại thuế và buộc mọi ngời phải
tuân theo. Các loại thuế đều làm giảm thu nhập của ngời dân dẫn tới mức chi tiêu cho
tiêu dùng của các hộ gia đình giảm. Thuế còn ảnh hởng đến việc đầu t của mỗi doanh
nghiệp, nếu thuế cao sẽ không khuyến khích đầu t, việc giảm các sắc thuế đánh vào
các khoản bổ sung cho đầu t hoặc kinh doanh máy móc thiết bị mới sẽ kích thích đầu
t ở nhiều ngành từ đó làm tăng nguồn vốn của nền kinh tế dẫn đến GDP sẽ tăng lên
trong tơng lai. Ngoài ra, thuế còn ảnh hởng đến việc xuất-nhập khẩu ở mỗi nớc. Nếu
các sắc thuế đánh vào các mặt hàng nhập khẩu cao thì sẽ hạn chế đợc việc nhập khẩu
các mặt hàng đó, tơng tự đối với xuất khẩu, từ đó chính phủ điều tiết đợc lợng hàng
hoá nội địa và nhập ngoại. Nh vậy, khi chính phủ muốn bảo hộ một loại mặt hàng
nào đó ở trong nớc thì chỉ cần tăng thuế xuất-nhập khẩu của mặt hàng đó lên cao đến
mức các doanh nghiệp không muốn nhập khẩu loại mặt hàng đó nữa.
nh: việc hớng dẫn, khuyến khích bằng thuế thu nhập...
Chính sách thu nhập chỉ đặc biệt có ý nghĩa trong thời kỳ lạm phát cao. Thực chất
của chính sách thu nhập là chính sách về giá-lơng-tiền. Trong thời kỳ lạm phát cao
chính phủ thực hiện chính sách đônh giá và đông tiền lơng, tức là cố định giá cả và
tiền công trong một thời gian nhất định nhằm giảm bớt lợng tiền.
e. Chính sách kinh tế đối ngoại:
Trong nền kinh tế mở cửa thì không thể không có chính sách kinh tế đối ngoại để
sự trao đổi mua bán giữa các nớc đợc thuận lợi. Chính sách kinh tế đối ngoại bao
gồm nhiều loại công cụ nh: quản lý tỷ giá hối đoái, chính sách ngoại thơng, trợ giá,
hàng rào thuế quan, hạn nghạch. Việc tác động đến hàng hoá xuất-nhập khẩu vào giá
cả hàng hoá đó đều thông qua các công cụ này.Chẳng hạn nh để khuyến khích xuất
khẩu thì chính phủ có thể tác động đến tỷ giá bằng cách hạ thấp tỷ giá xuống làm
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cho giá ngoại tệ giảm,điều đó là rất thuận lợi cho xuất khẩu, hoặc có thể tác động
bằng cách hạ thuế suất các mặt hàng xuất khẩu, hoặc trợ giá... làm cho chi phí xuất
khẩu hạ xuống từ đó làm giá thành hạ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cạnh tranh với
các hãng sản xuất cùng loại mặt hàng ở các nớc khác. Nh vậy, những biện pháp này
nhằm duy trì sự cân bằng trên thị trờng ngoại hối và giữ cho xuất-nhập khẩu theo nh
mong muốn của chính phủ .
Tóm lại, đây là các công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu của chính phủ, ngoài ra còn
có các công cụ khác nh các kế hoạch, các chơng trình phát triển...Việc sử dụng các
công cụ kinh tế vĩ mô này trong từng thời kỳ hay ở mỗi quốc gia là không giống
nhau. Vì vậy, khi sử dụng chúng cần phải xem xét điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở
quốc gia mình .
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phần II
Cụ thể hoá vị trí kinh tế của Chính phủ ở nớc Cộng hoà
x hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn công nghiệpã
bằng hành động) trong vai trò của Nhà nớc. Tuy nhiên, để các lực lợng sản xuất
đợc huy động tốt hơn và việc phân bổ các nguồn lực hợp lý hơn, điều quan
trọng là vai trò can thiệp trực tiếp của Nhà nớc vào nền kinh tế phải tiếp tục
giảm bớt và tăng cờng hơn nữa vai trò hoạch định chính sách và xây dựng
khuôn khổ pháp lý của Nhà nớc . Mặc dụ đã liên tục đạt đợc tiến bộ trong việc
sửa đổi các bộ luật cũ và soạn thảo các bộ luật mới, song Việt Nam vẫn cần
phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý toàn diện hơn, rõ ràng và thuận lợi nhằm
tạo cơ sở cho sự ra đời và phát triển của một khu vực t nhân và một xã hội dân
sự lành mạnh để cuối cùng có thể chia sẻ trách nhiệm với Chính phủ, ở mức độ
tiin cậy cao, đối với sự nghiệp phát triển của đất nớc.
Chính phủ đã nhận thức đợc các vấn đề nh tham nhũng, lạm dụng chức
quyền và nhu cầu tôn trọng cácc quyền công dân và đòi hỏi giải quyết các vấn
đề này một cách toàn diện trong khuôn khổ của quá trình cải cách. Tham
nhũng phần nào đó là kết quả của việc trả lơng cha gắn với kết quả làm việc
cũng nh của việc bố trí công tác. Chính phủ đã bắt tay vào giải quyết các vấn đề
này. Ngoài ra còn có một số thách thức khác nh tăng cờng tính công khai minh
bạch và nâng cao nhận thức của quần chúng về công tác chính trị cũng nh
khuyến khích họ tham gia vào công tác này.
Mặc dù có nhiều bộ luật đã đợc ban hành song trong nhiều trờng hợp việc
thực hiện có hiệu quả và nhất quán vẫn còn hạn chế. Có những vấn đề nảy sinh
trong quá trình xây dựng các quy định thi hành luật cũng nh trong quá trình
triển khai thi hành trên thực tế. Việc khuyến khích tăng cờng tham khảo các cơ
quan có liên quan ở bên ngoài trong quá trình phân tích chính sách và luật pháp
có thể nâng cao tính công khai minh bạch của quá trình này cũng nh đảm bảo
sự tham gia đóng góp của nhiều đối tợng hơn. Điều đó còn tạo điều kiện thuận
lợi cho việc thực hiện và chấp hành tốt những bộ luật sau khi ban hành.
Để tăng cờng tính công khai minh bạch và khả năng tiếp cận của luật
pháp. Chính phủ đã thể hiện mong muốn đẩy mạnh hơn nữa công tác phổ biến
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quyền, giao những trách nhiệm quan trọng về quản lý ngân sách cho chính
quyền địa phơng, đặc biệt là cấp tỉnh.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Quan hệ giữa các cấp chính quyền mang tính phức tạp ở nhiều khía cạnh.
Thứ nhất, Hội đồng Nhân dân ở tất cả các cấp chịu sự giám sát và chỉ đạo của
Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội và Chính phủ . Thứ hai, Uỷ ban Nhân dân chịu trách
nhiệm trớc Hội đồng Nhân dân cùng cấp cũng nh trớc cơ quan hành pháp ở cấp
cao hơn (có thể là Uỷ ban Nhân dân cấp cao hơn hoặc Chính phủ, tuỳ theo cấp
của Uỷ ban Nhân dân đó). Thứ ba, một số Bộ có cơ quan chi nhánh đặt ở mỗi
địa phơng. Những cơ quan này vừa chịu sự quản lý hành chính của Uỷ ban nhân
dân địa phơng lại vừa chịu sự quản lý về chức năng chuyên môn của cơ quan
cấp cao hơn trực thuộc Bộ chủ quản. Thứ t, hầu hết các nguồn thu từ thuế thuộc
quyền quản lý của Chính phủ Trung ơng. Chính quyền địa phơng, về lý thuyết,
đợc phân bổ các nguồn thu theo chỉ tiêu do Trung ơng quy định. Tuy nhiên, trên
thực tế, việc phân bổ các nguồn thu và các khoản chi ở địa phơng không phải đ-
ợc quyết định một cách nghiêm ngặt từ trung ơng mà thờng đợc quyết định sau
một loạt cuộc đàm phán giữa các cấp chính quyền.
Cải cách hành chính.
Trên tinh thần thể chế hoá công tác quản lý quốc gia nhằm đảm bảo tính
giải trình trong các chi tiêu công cộng, cải cách hành chính là cần thiết nhằm
cải thiện việc cung cấp các dịch vụ công cộng của các cơ quan Nhà nớc thuộc
tất cả các cấp chính quyền. Cải cách hành chính bao gồm tổ chức lại quá trình
làm việc, nâng cao năng lực công chức để có tính chuyên môn cao hơn, các dịch
vụ công cộng có tính hớng đích cao hơn với qui trình làm việc đơn giản hơn và
minh bạch hơn; hiệu quả hơn về chi phí và mang tính phục vụ cao hơn. Chơng
trình cải cách hành chính của Chính phủ đợc công bố vào tháng 3 năm 1995 và
tập trung vào 3 lĩnh vực: cải cách về thể chế, cải cách bộ máy Nhà nớc và cải
cách ngành công chức. Báo cáo mới đây của Chính phủ về công tác cải cách
hành chính có đoạn viết: Nhiệm vụ cần đợc u tiên trong công tác cải cách
hoá công nghệ thông tin ở các cơ quan Nhà nớc cũng nh đã tiến hành các hoạt
động đào tạo nhằm xây dựng năng lực.
Mặc dù đã đạt đợc kết quả đáng kể về một số lĩnh vực trong công tác cải
cách hành chính, song một trong những khó khăn chính cản trở việc thực hiện
trọn vẹn công cuộc cải cách này là cho đến nay vẫn cha có một cách nhìn toàn
diện và một chiến lợc cải cách hành chính tổng thể xác định rõ các bớc cần tiến
hành để đổi mới vài trò của Chính phủ trong nền kinh tế hớng hơn về thị trờng.
Hậu quả là tạo ra khoảng cách giữa công tác xây dựng chính sách và thực hiện
chính sách về cải cách hành chính. Vấn đề này đã trở nên tồi tệ hơn bởi năng
lực thực hiện còn yếu kém. Chính vì cha có một chiến lợc cải cách hành chính
rõ ràng nên mức độ nhất trí và quyết tâm thực hiện cong cuộc cải cách này còn
thấp và đã taọ điều kiện thuận lợi để cho những cơ chế không chính thức tồn tại
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
song song với những cơ chế chính thức gây ảnh hởng xấu tới việc thực hiện mục
tiêu cải cách.
Một khó khăn nữa là trong nhiều trờng hợp các cán bộ công chức còn
thiếu những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho việc thực hiện cải cách
hành chính một cách hiệu quả. Thiếu động cơ và hiệu quả trong công việc; thiếu
tinh thần thái độ phục vụ cũng là những vấn đề tồn tại. Những vấn đề này cùng
với việc không thực hiện nghiêm chỉnh những chính sách đổi mới một phần
xuất phát từ lý do thu nhập và lợi ích thấp. Chính phủ đã coi việc trả lơng theo
kết quả công tác nh một công cụ quản lý tốt, tuy nhiên việc đa công cụ đó vào
trong kế hoạch quản lý nguồn nhân lực sẽ là một phần trong cuộc thảo luận của
Chính phủ tiếp theo Hội nghị TƯ 7 bàn về cơ cấu tiền lơng và chính sách công
chức.
2. Khu vực t nhân.
Không có nớc nào trên thế giới có thể phát triển thành công mà không cần
đến một khu vực t nhân khoẻ khoắn và năng động nh là động lực chính tạo ra
công ăn việc làm, thu nhập, tiết kiệm trong nớc, đầu t và tăng trởng. Khu vực t
hình kinh doanh khác nhau mà còn đề nghị cho phép hình thành các mối quan
hệ đối tác, cho phép các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nớc hoạt động nh công
ty. Bộ luật mới gửi tới khu vực t nhân một thông điệp quan trọng, đó là Chính
phủ thực sự khuyến khích đầu t của khu vực t nhân. Thực hiện luật này một
cách hiệu quả là điều rất quan trọng. Tuy nhiên, trớc mắt các doanh nghiệp
Nhà nớc, trong đó có những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, vẫn giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế và nh vậy làm chậm lại quá trình cải cách.
Nếu Chính phủ muốn chuyển một cách hiệu quả sang một nền kinh tế h-
ớng về thị trờng nhiều hơn, ngay cả khi các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn giữ vai
trò chủ đạo trong một số lĩnh vực nhất định, thì khuôn khổ pháp lý cần đợc tiếp
tục tăng cờng hơn nữa để cho phép khu vực t nhân gánh vác trách nhiệm của nó
và trở thành động lực tăng trởng của đất nớc. Một khu vực t nhân thịnh vợng có
thể là lối thoát và con đờng để thu nhận những công chức d thừa vào các hoạt
động kinh tế. Bằng cách đó nó hỗ trợ cho công cuộc cải cách hành chính và tinh
giản bộ máy Nhà nớc. Chuyển giao cho khu vực t nhân một số chức năng hiện
đang đợc đảm nhiệm bởi Chính phủ với chi phí cao không những tạo động lực
cho khu vực t nhân mà còn tiết kiệm và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn kinh
phí công cộng.
Thách thức chủ yế đối với Chính phủ trong việc khuyến khích khu vực t
nhân là làm sao đảm bảo đối xử công bằng giữa khu vực này với khu vực Nhà
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368