Mục lục
Trang
Lời mở đầu 3
Phần I: Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trờng 4
I. Ưu thế và khuyết tật của thị trờng 4
1. Khái niệm cơ chế thị trờng 4
2. Ưu thế của thị trờng 5
3. Những khuyết tật của cơ chế thị trờng 6
II. Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trờng 6
1. Mục tiêu của kinh tế vĩ mô 7
2. Chức năng kinh tế của chính phủ 7
3. Các công cụ điều tiết của chính phủ 12
Phần II: Vị trí kinh tế của chính phủ ở nớc CHXHCN Việt Nam trong giai
đoạn từng bớc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nớc 17
I. Vị trí kinh tế của chính phủ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế 17
II. Vị trí kinh tế của chính phủ Việt Nam trong giai đoạn từng bớc công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nớc 20
1. Công nghiệp hóa và hiện đạI hóa ở Việt Nam 20
2. Vai trò của chính phủ trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa
ở nớc ta 22
3. Các chính sách kinh tế mà chính phủ áp dụng trong giai đoạn
công nghiệp hóa và hiện đại hóa 26
4. Những vấn đề chính phủ phải giải quyết trong giai đoạn
công nghiệp hóa và hiện đại hóa 31
Phần III: Thực trạng và giải pháp cho nền kinh tế Việt Nam và vai trò của
chính phủ trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế ở nớc ta trong giai
đoạn hiện nay 33
I. Thực trạng nền kinh tế và vai trò của chính phủ trong điều tiết vĩ mô nền
kinh tế 33
1. Thực trạng của nền kinh tế 33
2. Thực trạng quản lý kinh tế của nhà nớc ta 34
Để hiểu rõ vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trờng, trớc hết ta phải hiểu
khái niệm về thị trờng và cơ chế thị trờng.
1.Khái niệm cơ chế thị trờng:
a.Thị trờng: Có rất nhiều khái niệm về thị trờng tuỳ theo mỗi quan điểm,mỗi góc
độ khác nhau song một khái niệm tơng đối khái quát nhất là: Thị trờng là một quá trình
trong đó ngời mua và ngời bán một thứ hàng tác động qua lại nhau để xác định giá cả và
số lợng hàng (Paul A.Samuelson).
Thị trờng là yếu tố cơ bản của môi trờng kinh doanh, là nơi hình thành các quan
hệ kinh tế. Các quan hệ kinh tế này là cơ sở quan trọng để hình thành cơ cấu kinh tế.
Thông qua thị trờng các quan hệ kinh tế giữa các ngành, các khu vực kinh tế mới đợc
biểu hiên. Thị trờng có khả năng dự báo và hớng dẫn ngới sản suất và tiêu dùng trong
hành vi kinh tế. Nói một cách khác,trong nền kinh tế hàng hoá tất nhiên tồn tại một cơ
chế thị trờng.
b.Cơ chế thị trờng (Sự vận động của thị trờng ): Cơ chế thị trờng là một hình
thức tổ chức kinh tế trong đó cá nhân ngời tiêu dùng và các nhà doanh nghiệp tác động
lẫn nhau qua thị trờng để xác định 3 vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế (Paul A.
Samuelson ). Ba vấn đề trung tâm đó là: sản xuất ra cái gì; sản xuất nh thế nào và sản
xuất cho ai.
Sản xuất cái gì: Nhằm thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng và còn do khả năng
kỹ thuật và chi phí sản xuất quyết định. Trong nền kinh tế thị trờng,việc sản xuất ra cái
gì khác so với nền kinh tế tự nhiên ở chỗ:trong nền kinh tế tự nhiên họ sản xuất ra
những gì mà họ cần để phục vụ cho mục đích tiêu dùng trực tiếp của mình, còn trong
nền kinh tế thị trờng các nhà doanh nghiệp sản xuất ra những mặt hàng mà thị trờng
cần. Cho nên giá cả chính là tín hiệu tập trung nhất mách bảo cho ngời ta sản xuất ra cái
gì. Ngời tiêu dùng sẽ bỏ phiếu bằng tiền cho những gì cần sản xuất
Sản xuất nh thế nào: Là do cạnh tranh giữa những ngời sản xuất quyết định. Để
có sự cạnh tranh về giá cả và lợi nhuận thì các nhà doanh nghiệp phải biết sử dụng hợp
lý nguồn lực mà mình có để tạo ra chi phí đầu vào thấp và chi phí đầu ra hợp lý mà thị
trờng chấp nhận đợc
Sản xuất cho ai: Trong nền kinh tế thị trờng, các hãng sản xuất ra những loại hàng
Thứ 5:Trong nền kinh tế thị trờng, tất cả các ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau thì
yếu tố chung duy nhất tác động đến doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận. Các doanh nghiệp
chỉ khác nhau ở hình thái quy mô tổ chức. Nhng chúng có điểm giống nhau là hoạt động
trực tiếp với thị trờng. Do đó họ là những ngời dám chịu trách nhiệm trớc các quyết định
của mình, từ đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có trình độ,năng lực tổ chức kinh doanh.
3.Những khuyết tật của cơ chế thị trờng :
Bên cạnh những u điểm có thể nói là tuyệt vời của nền kinh tế thị trờng thì trong
quá trình vận động thì nó nảy sinh các nhợc điểm sau:
Thứ 1:Sự tác động, điều khiển của bàn tay vô hình mang tính chất tự phát, mù quáng
vì không ai biết trớc đợc cung cầu của xã hội.
Thứ 2:Thị trờng mang trên mình những thông tin không đầy đủ nên dễ dẫn đến mất
cân đối trong nền kinh tế.
4
Thứ 3:Sự vận động của cơ chế thị trờng dẫn đến sự phân hóa sâu sắc giữa giàu và
nghèo bởi trên thơng trờng chỉ tồn tại những kẻ mạnh ,từ đó có sự mất bình đẳng về
kinh tế-xã hội.
Thứ 4:Thị trờng phát triển dẫn đến độc quyền do đó làm giảm động lực phát triển.
Thứ 5:Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nó gây ra những tệ nạn xã hội nh:
hàng giả, buôn lậu, tham nhũng, hối lộ ...
Thứ 6:Thị trờng trong nhiều trờng hợp là kìm hãm chứ không phải là thúc đẩy tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Thứ 7:Hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trờng tàn phá môi sinh một cách ghê gớm,
tình trạng ô nhiễm môi trờng đang ở mức báo động ở nhiều quốc gia.
Chính những khiếm khuyết đó đã gây ra sự lãng phí của cải xã hội, do sự nhận
thức nhu của cầu thị trờng của từng đơn vị là độc lập, là riêng lẻ dẫn đến đầu t trùng lặp,
gây lãng phí. Đồng thời do sự cạnh tranh giành giật lợi nhuận dẫn đến việc chi phí cho
quảng cáo là quá mức cần thiết. Mặt khác, các lĩnh vực thu đợc ít lợi nhuận hoặc không
có lợi nhuận lại không đợc các doanh nghiệp chú ý, mà chính những hàng hoá đó lại là
những cơ sở, tiền đề cho nền kinh tế phát triển, đó chính là cơ sở hạ tầng của xã hội,
mạng lới giao thông,môi trờng sinh thái... Chính vì vậy, phải có sự can thiệp hữu hiệu
cú sốc lớn .
2.Chức năng kinh tế của chính phủ:
Khi thảo luận vai trò của chính phủ, chúng ta thờng đơng chấp nhận rằng chính
phủ là ngời đề ra luật lệ đi đờng. Để khẳng định vai trò của mình chính phủ thực hiện
các chức năng của mình.
Hiệu quả,nh đã nói ở trên, các nền kinh tế trên thực tế đôi khi chịu thất bại thị tr-
ờng. Ơ hệ thống kinh tế cạnh tranh, nhiều nhà sản xuất đơn giản không biết kỹ thuật sản
xuất rẻ nhất, và chi phí sản xuất không hạ xuống mức tối thiểu đợc. Trên thị trờng thực
tế, một doanh nghiệp có thể có lãi bằng cách giữ giá cao cũng nh bằng cách giữ mức
sản xuất cao. Trong nhiều lĩnh vực khác có rất nhiều tác động bên ngoài, vì ô nhiễm độc
hại hoặc vì kiến thức quí giá, đối với các nhà doanh nghiệp khác hoặc ngời tiêu dùng.
Trong mỗi một trờng hợp này, một thất bại thị trờng dẫn đến sản xuất không hiệu quả
hoặc tiêu dùng không hiệu quả, và ở đây, chính phủ có thể đóng vai trò chữa bệnh. Nh-
ng trong khi đánh giá vai trò của chính phủ chữa bệnh kinh tế, chúng ta cũng phải cảnh
giác với những thất bại của chính phủ - đó là tình huống chính phủ gây thêm bệnh
hoặc làm cho bệnh trầm trọng thêm.
Cạnh tranh không hoàn hảo. Một sai lệch nghiêm trọng của cạnh tranh hoàn hảo
là cạnh tranh không hoàn hảo hoặc nhân tố độc quyền.
Chúng ta phải luôn luôn nhớ định nghĩa chinnhs xác của nhà kinh tế về ngời
cạnh tranh hoàn hảo . Mới chỉ có một vài địch thủ cha đủ hco cạnh tranh hoàn hảo.
Định nghĩa kinh tế về cạnh tranh hoàn hảo trên một thị trờng là có đủ một số lợng doanh
nghiệp hoặc mức độ cạnh tranh đến mức không có một doanh nghiệp nào có thể ảnh h-
ởng đến giá cả của hàng hoá đó. Một ngời cạnh tranh không hoàn hảo là một ngời
mà hành động có thể ảnh hởng đến giá của một mặt hàng. Thực tế, điều này có nghĩa là
hầu hết các ông chủ doanh nghiệp, có lẽ trừ số hàng triệu nhà nông mà từng ngời một
sản xuất ra một phần không đáng kể trong toàn bộ thu hoạch, đều là những ngời cạnh
6
tranh không hoàn hảo. Ơ đầu cực cạnh tranh không hoàn hảo là nhà độc quyền, ngời
duy nhất cung cấp một mặt hàng cụ thể.
Toàn bộ sinh hoạt kinh tế là sự kết hợp giữa các nhân tố độc quyền và cạnh tranh.
chuyển giao tới những đối tợng bên ngoài các thị trờng. Tác động bên ngoài xảy ra khi
doanh nghiệp hoặc con ngời tạo ra chi phí lợi ích cho doanh nghiệp khác hoặc nguời
khác mà những doanh nghiệp hoặc con ngời nào không đợc nhận đúng số tiền cần đợc
trả hoặc không phải trả đúng số chi phí phải trả.
7
Vì xã hội chúng ta đã trở nên đông dân hơn xa, vì sản xuất ngày càng dựa trên
những quy trình sử dụng chất độc tác động bên ngoài đã từ những phiền toái nhỏ mà trở
thành những mối đe doạ lớn. Kết quả là chính phủ đã sử dụnh đến luật lệ điều tiết hành
vi kinh tế nh là một cách để ngăn chặn những tác động tiêu cực bên ngoài nh ô nhiễm n-
ớc và không khí, khai thác đến cạn khoáng sản, chất thải-gây nguy hiểm thức ăn, uống
thiếu an toàn và các chất phóng xạ...
Những ngời phê phán việc quy định luật lệ than phiền rằng hoạt động kinh tế của
chính phủ có tính chất cỡng bức không cần thiết. Chính phủ giống nh cha
mẹ, luôn nói không đợc: Không đợc bán thiếu cân, không đợc sử dụng lao động trẻ em,
không đợc để ống khói nhà máy nhả khói ra bầu trời, không đợc bán hoặc hút
Cocaine.v.v...
Mặt khác, khi kinh doanh, các nhà sản xuất luôn muốn thu đợc lợi nhuận cao
nhất, nguồn vốn quay vòng nhanh... Do đó, một số loại hàng hoá quan trọng cho việc
phát triển kinh tế, cho sự bảo đảm an ninh trật tự cho nền kinh tế lại không đợc đầu t vì
nó không mang lại lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít. Vì thế chính phủ pnải đầu t vào các
loại hàng hoá này. Sự can thiệp của chính phủ vào thị trờng để nâng cao hiệu quả của
nền kinh tế chứng tỏ những việc làm nh thế không phải do ý thích .(Paul A.Samuel).
Công bằng. Cho đến nay chúng ta đã tập trung vào các thiếu sót trong vai trò chỉ
đạo của bàn tay vô hình-những sự thiếu hoàn hảo có lẽ có thể sửa chữa đợc bằng sự can
thiệp đúng đắn. Nhng hãy tạm cho rằng nền kinh tế hoạt động hoàn toàn có hiệu quả-
luôn ở trên ranh giới khả năng sản xuất và không bao giờ ở bên trong ranh giới này cả,
luôn chọn đúng số lợng hàng hoá công cộng so với hàng hoá t nhân.v.v... Nhng thậm chí
nếu hệ thống thị trờng hoạt động hoàn hảo nh vừa mô tả thì nhiều ngời vẫn không cho
nó là lý tởng. Tại sao vậy?
Thứ nhất, hàng hoá đi theo số phiếu bằng đồng đô la chứ không phải là theo nhu cầu
chiến tranh. Đôi lúc, nh thời kỳ Đại suy thoái ở Mỹ trong những năm 1930, khó khăn
gian khó kéo dài một thập kỷ vì các nhà lãnh đạo chính trị không có đủ hiểu biết kinh tế
để có biện pháp phục hồi kinh tế. Gần đây hơn, đầu những năm 1980, chính phủ Mỹ và
các nớc khác đã có biện pháp nhằm giảm tỷ lệ lạm phát cao. Những biện pháp này đã
dẫn đến thất nghiệp cao và lạm phát thì giảm. Nhng trong thành công lại có hạt giống
của thất bại. Bằng cách bảo đảm một thời kỳ nhiều công ăn việc làm và tăng trởng
nhanh, nhiều nớc đã vô tình nuôi dỡng một nền kinh tế trong đó nhân dân bắt đầu cho
rằng phồn vinh là lẽ đơng nhiên. Nhiều nớc đảm bảo cho công nhân và ngời hởng thu
nhập định kỳ mức sống trong điều kiện thời tiết xấu nh mức sống chỉ có thể có đợc với
thời tiết tốt. Trong các hệ thống giá cả, tiền lơng và hỗ trợ thu nhập có những điểm cứng
nhắc. Khi những rối loạn của những năm 1970 xảy ra sau hai lần tăng mạnh giá dầu lửa,
mất mùa ngô, trục trặc trong hệ thống tài chính quốc tế-ngời ta đã không giữ đợc lời
hứa. Trong sự phát triển của mỗi quốc gia, không có một nền kinh tế ở quốc gia nào đều
luôn ổn định mà nó luôn có sự biến động. Có những thời kỳ nền kinh tế cực kỳ phồn
thịnh nhng cũng có lúc nền kinh tế nằm trong vùng đại suy thoái do nhiều nguyên nhân:
do lạm phát cao, những thay đổi của nền kinh tế thế giới... Do đó chính phủ góp phần
làm cho nền kinh tế dần dần ổn định bằng cách đa ra những chính sách hợp lý. Các mục
tiêu của đời sống kinh tế vĩ mô không phải là vấn đề để bàn cãi gay gắt nữa. Nhng các
nớc có thể đạt đợc các mục tiêu đó một tốt nhất nh thế nào? Một nớc muốn cải tiến
thành tựu của mình có thể có những sự lựa chọn gì? Trả lời cho câu hỏi này nằm một
phần trong các công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô .
9
Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm hai nhóm yếu tố: Cơ chế thị trờng-nhóm yếu tố chịu
sự chi phối của bàn tay vô hình tức các quy luật kinh tế thị trờng . Nhóm yếu tố này
mang tính chất tự điều chỉnh. Nhóm hai là sự quản lý của chính phủ ở tầm vĩ mô, nhóm
này gắn liền với bàn tay hữu hình , tức các công cụ quản lý của nhà nớc nh: pháp luật,
chính sách, kế hoạch... Nh vậy không thể điều tiết sự vận động của nền kinh tế thị trờng
khi chỉ có một trong hai yếu tố trên, điều đó giống nh ngời ta định vỗ tay bằng một tay
Tóm lại, chính phủ có vai trò thúc đẩy nền kinh tế hớng tới sự công bằng, hiệu quả và
Trong trờng hợp sản lợng của nền kinh tế còn dới mức sản lợnh tiềm năng thì chính phủ
tăng cờng chi tiêu đẻ làm tăng tổnh cầu từ đó làm cho sản lợng tiến gần sản lợng tiềm
năng. Trong trờng hợp ngợc lại, sản lợng vợt qua sản lợng tiềm năng hay trong thời kì
lạm phát cao, chính phủ cắt giảm chi tiêu của mình để cùng với các công cụ vĩ mô khác
làm giảm lạm phát. Điều đó chứng tỏ chính phủ không thể chi tiêu một cách lãng phí
nguồn ngân sách mà vấn đề là chi tiêu thế nào cho hợp lí trong từng thời kỳ. Bên cạnh
đó, chính phủ cần phải kiểm soát chặt chẽ nhu cầu chi tiêu của mình để hạn chế tối đa
việc thâm hụt ngân sách. Trong trờng hợp thiếu hụt ngân sách chính phủ phải vay tiền
dân chúng hoặc vay nớc ngoài để bù đắp ngân sách.
Tóm lại, tất cả các chính phủ ở các quốc gia đều phải chi tiêu nhng không phải tự
nhiên có tiền để chi tiêu mà phải có nguồn thu. Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà n-
ớc là thuế, còn các nguồn thu khác là không đáng kể.
.Thuế khoá :
Thuế khoá là khoản đóng góp mang tính pháp lệnh mà nhà nớc bắt buộc mỗi công dân
và các tổ chức kinh tế phải nộp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Tất cả các
quốc gia đều quy định mức thuế suất với mỗi loại thuế và buộc mọi ngời phải tuân theo.
Các loại thuế đều làm giảm thu nhập của ngời dân dẫn tới mức chi tiêu cho tiêu dùng
của các hộ gia đình giảm. Thuế còn ảnh hởng đến việc đầu t của mỗi doanh nghiệp, nếu
thuế cao sẽ không khuyến khích đầu t, việc giảm các sắc thuế đánh vào các khoản bổ
sung cho đầu t hoặc kinh doanh máy móc thiết bị mới sẽ kích thích đầu t ở nhiều ngành
từ đó làm tăng nguồn vốn của nền kinh tế dẫn đến GDP sẽ tăng lên trong tơng lai. Ngoài
ra, thuế còn ảnh hởng đến việc xuất-nhập khẩu ở mỗi nớc. Nếu các sắc thuế đánh vào
các mặt hàng nhập khẩu cao thì sẽ hạn chế đợc việc nhập khẩu các mặt hàng đó, tơng tự
đối với xuất khẩu, từ đó chính phủ điều tiết đợc lợng hàng hoá nội địa và nhập ngoại.
Nh vậy, khi chính phủ muốn bảo hộ một loại mặt hàng nào đó ở trong nớc thì chỉ cần
tăng thuế xuất-nhập khẩu của mặt hàng đó lên cao đến mức các doanh nghiệp không
muốn nhập khẩu loại mặt hàng đó nữa.
Nh vậy, để ổn định sản lợng gần với sản lợng tiềm năng thì chính phủ có thể sử dụng
chính sách tài khoá bằng cách: Nếu các bộ phận của tổng cầu hạ thấp một cách
không bình thờng thì chính phủ phải kích thích nhu cầu bằng cách giảm thuế hoặc tăng
e.Chính sách kinh tế đối ngoại:
Trong nền kinh tế mở cửa thì không thể không có chính sách kinh tế đối ngoại để sự
trao đổi mua bán giữa các nớc đợc thuận lợi. Chính sách kinh tế đối ngoại bao gồm
nhiều loại công cụ nh: quản lý tỷ giá hối đoái, chính sách ngoại thơng, trợ giá, hàng rào
thuế quan, hạn nghạch. Việc tác động đến hàng hoá xuất-nhập khẩu vào giá cả hàng hoá
đó đều thông qua các công cụ này.Chẳng hạn nh để khuyến khích xuất khẩu thì chính
phủ có thể tác động đến tỷ giá bằng cách hạ thấp tỷ giá xuống làm cho giá ngoại tệ
giảm,điều đó là rất thuận lợi cho xuất khẩu, hoặc có thể tác động bằng cách hạ thuế suất
các mặt hàng xuất khẩu, hoặc trợ giá... làm cho chi phí xuất khẩu hạ xuống từ đó làm
giá thành hạ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cạnh tranh với các hãng sản xuất cùng loại
mặt hàng ở các nớc khác. Nh vậy, những biện pháp này nhằm duy trì sự cân bằng trên
thị trờng ngoại hối và giữ cho xuất-nhập khẩu theo nh mong muốn của chính phủ .
Tóm lại, đây là các công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu của chính phủ, ngoài ra còn có
các công cụ khác nh các kế hoạch, các chơng trình phát triển...Việc sử dụng các công cụ
kinh tế vĩ mô này trong từng thời kỳ hay ở mỗi quốc gia là không giống nhau. Vì vậy,
khi sử dụng chúng cần phải xem xét điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở quốc gia mình .
12
Sự khác biệt giữa điều tiết của nhà nớc trongnền kinh tế chỉ huy và nền kinh tế thị
trờng ở chỗ :
Nền kinh tế là nền kinh tế mà chính phủ ở nớc đó trực tiếp giải quyết ba vấn đề cơ bản
của nền kinh tế. Còn trong nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc (nền kinh tế
hỗn hợp)thì cả chính phủ và thị trờng đều tham gia giải quyết ba vấn đề cơ bản của nền
kinh tế, có ngiã là kết hợp cả hai yếu tố là sự dung hoà của nhà nớc và thị trờng. Cách
giải quyết đó là :
Sản xuất ra cái gì: Trong nền kinh tế chỉ huy, nhà nớc trực tiếp phân bố các nguồn lực
(đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật...)cho các ngành, các địa phơng, các đơn vị kinh tế (các
xí nghiệp, các công ty...), chính phủ quyết định cho công ty này sản xuất ra cái gì và bao
nhiêu. Còn trong nền kinh tế thị trờng, chính phủ để tự các doanh nghiệp sản xuất ra
những mặt hàng gì mang lại lợi nhuận cho họ, chính phủ tham gia sản xuất ra những
hàng công cộng hay còn gọi là xây dựng hạ tầng cơ sở để phục vụ cho nền kinh tế, đồng
khẩu hàng hoá đó, do vậy ngành sản xuất loại hàng hoá tơng tự ở nội địa đợc bảo hộ.
Điều này làm cho ngành đó không có tính cạnh tranh, không tìm kiếm những phơng
thức sản xuất mới để giảm chi phí dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm .
Về hạn ngạch (quota) là giới hạn số lợng hàng nhập khẩu quota do chính phủ cấp và
tuỳ từng tình hình mà chính phủ cho phép nhập khẩu từng loại hàng hoá là bao nhiêu.
Tác động của quota cũng giống nh của thuế quan nhng khác một điều là phần thuộc về
chính phủ khi có thuế quan thì bây giờ lại thuộc về những ngời có quota. Do vậy có sự
tranh giành nhau để có quota nhập khẩu dẫn đến xuất hiện các tệ nạn xã hội nh tham
nhũng, hối lộ...
Về chính sách tiền tệ có tỷ giá hối đoái thả nổi: Khi chính phủ thực hiện chính sách
thắt chặt tiền tệ (để chống lạm phát) làm cho lãi suất tăng lên, do đó việc đầu t vào nớc
này là rất hấp dẫn dẫn đến mức cầu về đồng tiền đó tăng, nên làm cho xuất khẩu giảm,
hàng nhập khẩu rẻ hơn (do giá trị đồng tiền nớc đó cao), làm cho xuất khẩu ròng giảm
từ đó tổng cầu (AD) giảm nên công ăn việc làm giảm, cán cân thơng mại bị thâm hụt.
Việc định giá đồng tiền quá cao cùng với tỷ giá hối đoái thả nổi làm ảnh hởng lớn đến
nền kinh tế. (Điều này thực tế đã xảy ra ở Mỹ và Nhật đầu những năm 80). Chính phủ
quy định mức lơng tối thiểu cao hơn mức lơng bình quân nhằm bảo vệ lợi ích của ngời
lao động, hạn chế sự bóc lột của ngời thuê công nhân. Mức lơng tối thiểu có thể đảm
bảo lợi ích trớc mắt cho một bộ phận công nhân nhng xét về mặt dài hạn nó làm thệt hại
đến lợi ích của toàn bộ lực lợng lao động ở chỗ làm tăng đội quân thất nghiệp. Nh thế nó
đã ảnh hởng không tốt đến việc sử dụng một nguồn lực quan trọng của xã hội. Tơng tự,
trên thị trờng hàng hóa, việc quy định mức giá tối thiểu cao hơn giá trị cân bằng của thị
trờng có thể đảm bảo lợi ích trớc mắt cho ngời bán nhbg trong dài hạn giá tối thiểu
không khuyến khích đổi mới kỹ thuật và hạ thấp chi phí do đó sẽ gây thiệt hại cho toàn
bộ nền kinh tế. Chính phủ quy định chính sách giá tối đa tức là bằng cách ban hành đạo
luật quy định một mức giá thấp hơn giá trị cân bằng của thị trờng buộc ngời mua phải
thanh toán theo giá đó. Nó đợc sử dụng khi ở trên thị trờng nào đó hàng hoá trở nên
khan hiếm và có xu hớng tăng giá mạnh ảnh hởng xấu đến lợi ích kinh tế của những ng-
ời tiêu dùng. Việc quy định giá hàng hoá đó thấp hơn giá trị cân bằng của thị trờng sẽ
dẫn đến việc giảm sản lợng của các doanh nghiệp trong nớc và ngợc lại làm tăng cầu