ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********************
NGÔ THỊ PHƯỢNG VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRI THỨC KHOA
HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VIỆT NAM
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2005 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********************
Những kết quả và nội dung trong luận án là trung
thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên
cứu khác.
Tac giả Ngô Thị Phượng
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH,HĐH
2. Chủ nghĩa xã hội CNXH
3. Chủ nghĩa tư bản CNTB
4. Giáo sư GS
5. Khoa học xã hội và nhân văn KHXH&NV
6. Nhà xuất bản Nxb
7. Phó giáo sư PGS
8. Phó tiến sĩ PTS
9. Tiến sĩ TS
10. Tiến sĩ khoa học TSKH
11. Thạc sĩ Th.s
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
Nội dung
11
3.1 Quan điểm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội
và nhân văn Việt Nam
129
3.2 Giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội
và nhân văn Việt Nam
144
Kết luận
179
Những công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan
đến luận án
182
Danh mục tài liệu tham khảo
183
DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 1.1. Cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam theo lĩnh
vực lao động
46
Bảng 1.2. Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam
trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
50
Bảng 1.3. Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam
trong lĩnh vực giáo dục
93
Bảng 2.5. Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam
so với các ngành khác
117
Bảng 2.6. Nguồn tài chính của các viện nghiên cứu được điều tra
126 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam đang đứng trước yêu cầu mới của
sự nghiệp cách mạng hiện nay. Đảng ta đã xác định: "Khoa học xã hội và nhân
văn tập trung nghiên cứu những luận cứ cho việc tạo động lực phát huy sức
mạnh của toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới sâu rộng, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh, đi lên chủ nghĩa xã hội" [44, tr294]. Để
hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang đó, đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt
Nam sẽ có vai trò ngày càng tăng trong việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm
xây dựng và phát triển lý luận, tiếp tục đổi mới sâu rộng đất nước; truyền bá
tri thức KHXH&NV, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, chính sách của Đảng góp phần xây dựng nền văn hoá mới, con người mới;
thực hiện vai trò thẩm định, phản biện, phê bình, dự báo sự phát triển của xã
hội. Đặc biệt, đội ngũ này còn có vai trò là lực lượng nòng cốt trên mặt trận
chính trị, tư tưởng, góp phần chống nguy cơ chệch hướng XHCN ở nước ta.
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ trí thức
KHXH&NV là một yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới.
Trong sự nghiệp đổi mới vừa qua, đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt
nói riêng đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Hiện có nhiều công
trình, bài viết tiêu biểu, liên quan đến đề tài đã được công bố. Có thể xem xét
các công trình đó qua ba nhóm vấn đề sau:
Nhóm công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam, chủ yếu là các luận án
TS, PTS và kết quả của các chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước, nghiên
3
cứu trí thức Việt Nam như là một nguồn nhân lực quan trọng của sự nghiệp xây
dựng CNXH ở nước ta.
Công trình đầu tiên mà chúng tôi kể đến, thuộc nhóm vấn đề này là luận
án PTS Triết học của Phan Viết Dũng với đề tài: "Vị trí, vai trò của tầng lớp
trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", bảo vệ năm
1988, tại Học viện Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh). Công trình này đã phân tích một cách tương đối rõ
về đặc điểm, vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích sự
hình thành của tầng lớp trí thức Việt Nam, đặc biệt là xác định vai trò của họ
trong lĩnh vực công tác lý luận, trong ba cuộc cách mạng (cách mạng quan hệ
sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng - văn hoá) của
thời kỳ quá độ ở nước ta. Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã đề xuất
những vấn đề cần thực hiện để phát huy vai trò của tầng lớp trí thức Việt Nam
trong giai đoạn cách mạng mới - giai đoạn đất nước ta bắt đầu thực hiện đổi
mới.
Tiếp sau là luận án PTS Triết học của tác giả Trần Thước với đề tài: "Sự
hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí thức Việt Nam", bảo
vệ năm 1992 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Ở đây, tác giả đã
đi sâu nghiên cứu một phương diện của tầng lớp trí thức Việt Nam là "thế giới
quan", nhưng lại là phương diện quan trọng nhất, tạo nên bản chất của người
trí thức Việt Nam. Qua công trình này, người đọc không chỉ nhận thấy sự
chuyển biến về thế giới quan của tầng lớp trí thức mà còn biết được cả diện
và chính sách để xây dựng, phát triển trí thức Việt Nam trong giai đoạn
CNH,HĐH đất nước.
5
Tiếp theo hướng nghiên cứu trên là cuốn “Định hướng phát triển đội ngũ trí
thức Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, cũng do GS.TS Phạm Tất
Dong chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Công trình này là kết quả của
một chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước (KHXH.03.09), giai đoạn 1996-
2000, là sự tiếp nối của công trình "Trí thức Việt Nam- thực tiễn và triển vọng".
Cuốn sách đã trình bày tổng quát những yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đất
nước đối với trí thức Việt Nam; làm rõ vai trò quan trọng của họ ở các lĩnh vực:
kinh tế - xã hội, sáng tạo văn hoá, giữ vững nền tảng tinh thần của xã hội, phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc; phân tích tương đối toàn diện về lịch sử phát triển
và thực trạng của trí thức Việt Nam và đề xuất những định hướng chính sách để
xây dựng đội ngũ này giai đoạn 2000-2010.
Nhìn chung, những công trình trên nghiên cứu các mảng vấn đề khác
nhau nhưng đã có sự thống nhất trong nhiều nội dung cơ bản về trí thức và trí
thức Việt Nam. Đây là điều thuận lợi và là nguồn tư liệu phong phú, rất bổ ích
cho những người quan tâm và nghiên cứu về trí thức sau này.
Nhóm công trình về KHXH&NV, chủ yếu là các công trình nghiên cứu
của tập thể các nhà khoa học, quản lý trong lĩnh vực KHXH&NV và các
bài viết đăng trên các tạp chí: Khoa học xã hội, Triết học, Nghiên cứu lý
luận
Trước hết là bài viết "Khắc phục sự chậm chễ của khoa học xã hội ở
nước ta" của GS.TS Nguyễn Duy Quý tham gia Hội thảo khoa học về "Đổi
mới tư duy lý luận dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội VI của Đảng", được tổ
chức vào năm 1988, tại Học viện Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Bài viết đã
khái quát sự phát triển của khoa học xã hội nước ta, nêu thành tựu, đặc biệt là
những hạn chế, nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến hạn chế của
khoa học xã hội trong những năm trước đổi mới. Từ đó, tác giả khẳng định
7
đạo, quản lý ở các viện nghiên cứu, trường đại học trên cả nước (đã đăng lần
đầu trên các tạp chí chuyên ngành) được hệ thống lại trên sáu nhóm vấn đề:
chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối chính sách của Đảng, vấn đề phát triển
kinh tế - xã hội, vấn đề văn hoá, văn học, ngôn ngữ, vấn đề lịch sử và khảo
cổ, vấn đề dân tộc tôn giáo, vấn đề quốc tế và khu vực. Hai cuốn sách này đã
cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu quý về thành tựu của KHXH&NV
trong 15 năm đầu đổi mới đất nước.
Ngoài các công trình lớn trên, còn có nhiều bài viết về nhiệm vụ và
thành tựu của các lĩnh vực thuộc KHXH&NV ở nước ta, được đăng trên các
tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Triết học, Tạp chí Khoa học xã hội, Tạp
chí Nghiên cứu lý luận, Tạp chí Khoa giáo, Tạp chí Hoạt động khoa học…
Những công trình và bài viết trên là nguồn tư liệu phong phú cho thấy sự
phát triển mạnh mẽ của KHXH&NV những năm qua.
Nhóm công trình nghiên cứu về đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam
có các công trình tiêu biểu sau:
Thứ nhất, luận án tiến sĩ Triết học: “Phát huy tiềm năng của trí thức
Khoa học xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta.” của Nguyễn An Ninh,
bảo vệ năm 1999, tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ở đây, tác
giả quan niệm: "Tiềm năng của con người là những năng lực, phẩm chất còn
tiềm tàng, hoặc chưa bộc lộ ra đầy đủ…" để phân tích, kiến giải sâu sắc về
tiềm năng của trí thức khoa học xã hội, những nội dung thể hiện tiềm năng
của trí thức khoa học xã hội nước ta: năng lực lao động khoa học, tính tích
cực chính trị - xã hội, khả năng tiếp nhận và truyền bá giá trị khoa học. Thực
trạng tiềm năng và việc khai thác tiềm năng của trí thức khoa học xã hội
nước ta cũng được đề cập đến khá rõ trong công trình này, từ đó, tác giả kiến
nghị những giải pháp cơ bản nhằm phát huy tiềm năng của họ. Như vậy,
8
vậy, đề tài của luận án không trùng với các công trình đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
* Mục đích:
Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận và thực trạng việc thực hiện
vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam những năm đổi mới vừa
qua, đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của
đội ngũ này trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ khái niệm “trí thức KHXH&NV” và vai trò của họ đối với sự
phát triển của xã hội.
- Phân tích những đặc điểm và xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức
KHXH&NV Việt Nam .
- Xác định những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt
Nam dưới tác động của sự nghiệp đổi mới đất nước.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân cũng như xác
định mâu thuẫn nảy sinh trong việc thực hiện vai trò của đội ngũ trí thức
KHXH&NV Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới vừa qua.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò
của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
đổi mới hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án
* Luận án triển khai trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị của Đảng ta về trí thức, về khoa học -
công nghệ, về giáo dục - đào tạo Luận án cũng kế thừa kết quả nghiên cứu
của các công trình khoa học có liên quan.
10
* Cơ sở thực tiễn của luận án là những tài liệu, số liệu nghiên cứu thực
trạng số lượng, cơ cấu, chất lượng của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam
và tình hình thực hiện vai trò của họ trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
vấn đề liên quan đến trí thức KHXH&NV; góp thêm cơ sở cho việc hoạch định
chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm xây dựng và phát huy hơn nữa vai trò
của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.
9. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung
được kết cấu thành 3 chương 7 tiết. 12
NỘI DUNG
Chương 1
TRÍ THỨC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN.
ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VIỆT NAM
1.1 Trí thức khoa học xã hội và nhân văn
Trí thức KHXH&NV bao gồm những trí thức hoạt động trong lĩnh vực
KHXH&NV. Do vậy, để hiểu về lực lượng trí thức này, cần có quan niệm
đúng về trí thức nói chung.
1.1.1 Quan niệm về trí thức
Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Intelligentia”, nghĩa
là sự hiểu biết, sự thông thái, sự thông minh, trí tuệ… Đến nay, thuật ngữ đó
được đề cập đến với những nội dung không hoàn toàn giống nhau, nên đã có
rất nhiều định nghĩa khác nhau về “trí thức”. Song, những định nghĩa này đều
dựa vào một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, trí thức là người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động của mình tác
động vào tự nhiên, nhằm khai thác và cải tạo tự nhiên theo những phương thức
nhất định, phục vụ cho nhu cầu của mình. Phương thức mà con người sử dụng
để tác động vào tự nhiên trong các thời đại và ngay cả trong một thời đại cũng
khác nhau. Họ có thể tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới tự nhiên
Cũng như trong hệ thống tự nhiên, đầu và tay gắn với nhau, thì trong
quá trình lao động, lao động trí óc và lao động chân tay cũng kết hợp
lại với nhau [87, tr.718].
Thứ hai, sản phẩm lao động của trí thức là tri thức khoa học mới
Tri thức khoa học liên quan chặt chẽ với tri thức kinh nghiệm, xuất phát
từ tri thức kinh nghiệm, nhưng khác về chất so với với tri thức kinh nghiệm.
14
Tri thức kinh nghiệm chỉ phản ánh bề ngoài hoặc từng mặt rời rạc của sự vật,
hiện tượng, hình thành từ những hoạt động hàng ngày, lặp đi lặp lại, từ nhận
thức cảm tính. Còn tri thức khoa học phản ánh bản chất, quy luật của sự vật,
hiện tượng, phản ánh những mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế
giới khách quan. Tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức lý tính,
bắt nguồn từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm thông qua hoạt động
lao động của tầng lớp trí thức - lao động trí óc phức tạp. Sản phẩm lao động
của tầng lớp trí thức chính là tri thức khoa học. Sản phẩm này có đặc điểm:
tồn tại ở dạng tinh thần, mới, có tính kế thừa nhưng không lặp lại, có giá trị xã
hội cao. Vì vậy, lao động của trí thức là lao động mang tính sáng tạo rõ nét.
Tri thức khoa học rất đa dạng, phong phú, có thể xem xét ở các lĩnh vực
khác nhau: khoa học tự nhiên, KHXH&NV, khoa học công nghệ, khoa học liên
ngành. Mỗi lĩnh vực đó lại có nhiều chuyên ngành khác nhau: Toán học, Văn
học, Vật lý, Sinh - Hoá, Địa - Vật lý, Địa chính trị, Xã hội học lịch sử, Tâm lý xã
hội học, v.v Chúng ta cũng có thể xem xét tri thức khoa học thông qua các loại
hình: nghiên cứu cơ bản, ứng dụng hay triển khai. Tri thức khoa học được kết
tinh ở nhiều dạng sản phẩm khác nhau: các học thuyết, lý thuyết khoa học, các
đề án thiết kế, kế hoạch, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, giáo trình, bài giảng,
bài báo, v.v Các dạng sản phẩm, chuyên ngành khoa học trên đều phản ánh sâu
một vấn đề của tự nhiên hoặc đời sống xã hội, nên nhiều khi, không thể nhận
biết ngay một cách dễ dàng giá trị của các công trình khoa học. Có những công
trình hàng nhiều năm sau mới được thừa nhận và ứng dụng vào sản xuất và đời
định xã hội các đề án phát triển kinh tế - xã hội, tham gia hỗ trợ chuyển giao
công nghệ, đưa tiến bộ khoa học vào đời sống, trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp. Mặt khác, họ là lực lượng chủ yếu duy trì, phát triển nền văn hoá
dân tộc, xây dựng, phát triển con người. Trí thức còn có trách nhiệm lớn
16
trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu của thời đại, qua đó góp phần
làm cho xã hội phát triển bền vững Ngày nay, trí thức là một chủ thể của
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đang dần trở thành một bộ phận
quan trọng trong nền kinh tế tri thức.
Từ những đặc trưng trên có thể quan niệm: Trí thức là một tầng lớp xã hội
bao gồm những người lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn và chuyên
môn cao, có khả năng sáng tạo tri thức khoa học mới, đồng thời truyền bá, nhất
là ứng dụng tri thức này vào thực tiễn, góp phần to lớn đến sự phát triển và trình
độ văn minh của nhân loại.
1.1.2 Đặc điểm của trí thức khoa học xã hội và nhân văn
Trí thức KHXH&NV là một bộ phận của tầng lớp trí thức, bao gồm những
người lao động trí óc phức tạp và sáng tạo trong lĩnh vực KHXH&NV. Từ đối
tượng nghiên cứu, đặc điểm của lĩnh vực khoa học này, nên trí thức KHXH&NV
có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, trí thức KHXH&NV, ngoài trình độ học vấn cao, chuyên môn
sâu còn cần sự hiểu biết về các lĩnh vực khoa học gần kề, đồng thời phải có vốn
sống và sự trải nghiệm thực tiễn nhất định
Trí thức KHXH&NV cũng như trí thức nói chung, để thực hiện lao động
sáng tạo, cần phải có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu trong lĩnh vực mà
mình nghiên cứu. Mặt khác, do đặc điểm của những hiện tượng xã hội - tính
hay thay đổi và bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các nhân tố tạo nên các hiện
tượng xã hội rất đa dạng và có sự đan xen, thâm nhập vào nhau giữa các lĩnh
vực KHXH&NV, nên trí thức KHXH&NV không chỉ cần sự hiểu biết sâu sắc
ở lĩnh vực của mình mà còn cần sự hiểu biết rộng rãi ở các lĩnh vực khoa học
tưởng, phục vụ trước hết cho yêu cầu chính trị và tư tưởng của một giai cấp,
một chế độ xã hội nhất định. Không thể có một công trình KHXH&NV chung
18
chung, siêu giai cấp, tồn tại ngoài mà luôn hướng tới giải đáp những vấn đề
của đời sống chính trị và tư tưởng. Chính đời sống chính trị và tư tưởng đã đặt
ra những vấn đề, yêu cầu trí thức KHXH&NV phải lý giải để tìm ra hướng
giải quyết sao cho có lợi cho công tác đó. Nếu không gắn với đời sống chính
trị, tư tưởng thì lao động của trí thức KHXH&NV dễ mất phương hướng. Tuy
nhiên, không thể đồng nhất hoạt động nghiên cứu của trí thức KHXH&NV
với công tác chính trị, tư tưởng. Có những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu khoa
học nhưng chưa chắc đã áp dụng ngay vào thực tiễn cuộc sống. Có những vấn
đề được nghiên cứu với nhiều cách tư duy khác nhau nhằm đem lại sự hiểu
biết một cách toàn diện, nhưng khi vận dụng vào thực tiễn lại chỉ có thể chọn
một cách phù hợp với mục đích chính trị.
Tính năng động chính trị - xã hội của trí thức KHXH&NV thể hiện ở
các yếu tố: trình độ nhận thức về chính trị, sự nhạy bén trước những vấn đề
chính trị - xã hội, tính tích cực tham gia các hoạt động chính trị - xã hội
Do có được vốn kiến thức sâu rộng về xã hội, con người, về những quy
luật vận động và phát triển của xã hội, nên trí thức KHXH&NV thường là
những người nhạy bén trước những vấn đề chính trị - xã hội. Họ có điều kiện
hơn cả trong việc nhận thức và giải quyết các vấn đề đó bằng chính vũ khí lý
luận của mình. Nếu trí thức phục vụ cho giai cấp, đảng phái, nhà nước tiến bộ,
thì tính năng động chính trị của họ sẽ góp phần tích cực vào sự phát triển của
xã hội. Kết quả sẽ ngược lại nếu họ phục vụ cho giai cấp thống trị, bóc lột, vì
mục đích phản nhân văn. Họ không chỉ nghiên cứu những vấn đề chính trị - xã
hội để cung cấp cơ sở lý luận cho mỗi cuộc cách mạng xã hội, mà còn là những
người trực tiếp tham gia giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội, hơn nữa,
trong đó, có những người đi tiên phong, trở thành lãnh tụ của các phong trào
cách mạng. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, và rất nhiều