2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang dần chuyển sang một giai đoạn mới là xã hội tri thức,
trong đó trước hết là kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, việc sở hữu,
phân phối, sử dụng trí lực và khả năng sáng tạo có ý nghĩa quan trọng nhất.
Theo các nhà kinh điển mác xít, lực lượng sản xuất có thể chia thành lực lượng
sản xuất vật chất và lực lượng sản xuất tinh thần. Lực lượng sản xuất tinh thần
do khoa học, do tri thức tạo nên. Khi chuyển sang nền kinh tế tri thức thì lực
lượng sản xuất tinh thần là chủ yếu và mang lại giá trị gia tăng rất cao. Vì vậy,
xã hội loài người càng phát triển thì vị trí, vai trò của trí thức ngày càng tăng.
Phát huy nguồn lực trí thức là xu thế của thời đại, là một chiến lược phát triển
của các quốc gia. Sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm “từng bước phát triển
kinh tế tri thức” [22, tr. 91] đòi hỏi phát huy hơn nữa vai trò to lớn của đội ngũ
trí thức nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trí thức KHXH-NV là một bộ phận của đội ngũ trí thức nước ta, trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN có vai trò quan trọng
là tổng kết thực tiễn, đi sâu nghiên cứu những vấn đề lớn của đất nước, khu
vực và toàn cầu, giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH
và bảo vệ Tổ quốc, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chủ
trương, chính sách phát triển KT-XH, xây dựng con người, phát huy những di
sản văn hoá dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hoá mới của Việt Nam.
Trí thức KHXH-NV trong quân đội là một lực lượng đáng kể của trí
thức KHXH-NV quốc gia. Đội ngũ này, với tính cách là nguồn lực phát triển,
phải vận dụng những nhiệm vụ nêu trên vào hoàn cảnh đặc thù của mình, vừa
góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước, vừa trực tiếp hướng tới giải quyết
3
những phát triển mới của xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng,
xã hội chủ nghĩa” của Trịnh Quốc Tuấn, Nghiên cứu lý luận, số 4, 1995; Định
hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của Phạm Tất Dong (chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 v.v..
Nhóm vấn đề nói lên vị trí, vai trò, đặc điểm, động lực sáng tạo của trí
thức trong quá trình cách mạng có các công trình: Vị trí và vai trò của tầng
lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Phạm
Việt Dũng, luận án PTS triết học, Hà Nội, 1988; Động lực của trí thức trong
lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay của Phan Thanh Khôi, luận án PTS triết
học, Hà Nội, 1992; “Vai trò trí thức trong sự nghiệp đổi mới” của Hà Học
Trạc, Khoa học và Tổ quốc, số 1, 1994 v.v..
Nhóm vấn đề về KHXH-NV và trí thức KHXH-NV trong sự nghiệp đổi
mới ở nước ta có các công trình: Khoa học xã hội và nhân văn, mười năm đổi
mới và phát triển của Phạm Tất Dong (chủ biên), NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1997; Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội trong công cuộc
đổi mới ở nước ta của Nguyễn An Ninh, Luận án TS triết học, Hà Nội, 1999;
“Khoa học xã hội và nhân văn với sự nghiệp đổi mới” của Nguyễn Duy Quý,
Công tác Khoa giáo, số 6, 2002 v.v...
Nhóm vấn đề về nguồn lực con người đã có các công trình: “Con người
và nguồn lực con người trong phát triển” (tài liệu dich) trung tâm KHXH-NV
Quốc gia xuất bản, Hà Nội, 1995; Vấn đề con người trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của Phạm Minh Hạc (chủ nhiệm), NXB Chính trị Quốc
gia, Hà nội, 1996; “Suy nghĩ về xây dựng nguồn lực con người cho quân đội
trong tình hình hiện nay” của Đức Lê, Quốc phòng toàn dân, số 7, 2001 v.v..
Nhóm vấn đề về trí thức quân đội đã có các công trình: “Mấy ý kiến về
đội ngũ trí thức trong quân đội ta hiện nay”của Nguyễn Hữu An, Quốc phòng
toàn dân, số 4, 1994; “Tăng cường đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn
5
trong lực lượng vũ trang nhân dân ta” của Lê Hồng Quang, Quốc phòng toàn
tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, nguồn lực con người; các văn kiện, nghị quyết của
Đảng cộng sản Việt Nam, của Đảng uỷ quân sự Trung ương, chỉ thị của Bộ quốc
phòng về KH-CN, trí thức và công tác trí thức trong quá trình cách mạng nước ta.
Cơ sở thực tiễn của luận án là tình hình quốc tế, sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội, hoạt động KH-CN, các tư liệu tổng kết,
các công trình khoa học, các số liệu thống kê và kết quả điều tra xã hội học
của tác giả ở một số đơn vị trong và ngoài quân đội.
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu như: phân tích- tổng hợp; lôgíc- lịch sử; quy nạp, diễn dịch;
đối chiếu, so sánh; điều tra xã hội học; nghiên cứu tư liệu và thu thập thông
tin... để làm sáng tỏ góc độ chính trị -xã hội của vấn đề.
6. Cái mới về mặt khoa học của luận án:
- Luận án bước đầu khái quát khái niệm “nguồn lực trí thức KHXH-NV
trong quân đội”, chỉ ra những đặc trưng, vai trò của nó và thực chất phát huy
vai trò nguồn lực trí thức KHXH- NV trong quân đội.
- Đánh giá được tình hình hiện thực việc phát huy vai trò nguồn lực trí
thức KHXH-NV trong quân đội và dự báo xu hướng phát triển của nguồn lực
này trong những năm tới.
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò
nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội ta hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án.
- Luận án góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình
phát huy vai trò nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội hiện nay.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa
học và giảng dạy những nội dung có liên quan; góp thêm cơ sở cho việc
7
hoạch định chủ trương, biện pháp của lãnh đạo, chỉ huy các cấp để xây dựng
Nhìn chung, các định nghĩa “trí thức” thường đề cập tới một số dấu
hiệu cơ bản: là một tầng lớp xã hội; lao động trí óc sáng tạo; phát triển và phổ
biến văn hoá; có trình độ học vấn cao. Tuy nhiên, không thể căn cứ một cách
9
máy móc và giản đơn vào các dấu hiệu cơ bản ấy để xác định người đó có
phải là trí thức hay không.
Trong xã hội, tuỳ theo mối quan hệ của các giai tầng với tư liệu sản xuất,
vai trò tổ chức xã hội đối với lao động mà các giai cấp, các tầng lớp xã hội có vị
trí, vai trò khác nhau. Trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu tư
liệu sản xuất và càng không đại biểu cho một phương thức sản xuất độc lập nào
cả. Cho nên, trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội. Trong
xã hội có giai cấp, trí thức với tính cách là cộng đồng- tầng lớp, luôn của một
giai cấp nhất định, mà trước hết là của giai cấp thống trị đã đào tạo ra họ, bắt họ
tiếp thu hệ tư tưởng của mình và lao động sản xuất tinh thần phụ thuộc vào sản
xuất vật chất và sức mạnh kinh tế. Cho nên, V.I. Lê nin đã từng khẳng định:
“Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không
mà thôi”. [45, tr.552]. Trong từng chế độ xã hội, giai cấp thống trị muốn hoàn
thành sứ mệnh lịch sử nhất thiết phải tạo dựng cho mình một tầng lớp trí thức.
Vì vậy, chế độ xã hội Chiếm hữu Nô lệ có tầng lớp trí thức chủ nô; chế độ xã hội
Phong kiến có tầng lớp trí thức phong kiến; chế độ xã hội Tư bản chủ nghĩa có
tầng lớp trí thức tư sản; chế độ xã hội XHCN có tầng lớp trí thức vô sản.
Trí thức là người lao động trí óc, nhưng không phải người lao động
trí óc nào cũng là trí thức. “Người trí thức cũng giống như những người lao
động bình thường có mặt ở mọi nơi, mọi chốn, tham gia nhiều nghề nghiệp
khác nhau, duy chỉ có một điểm khác ở chỗ họ hướng sự nghiệp lao động
của mình chủ yếu bằng lao động trí tuệ hoặc bằng tư duy sáng tạo mang
tính chất cá thể và thường có cá tính” [12, tr. 126]. Vì vậy, họ phải là người
có trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo, có trình độ học vấn cao và chuyên
phong phú, mang tính kế thừa nhưng không lặp lại và có giá trị xã hội. Những
sản phẩm lao động sáng tạo là những giá trị tinh thần. Nó được sáng tạo ở
trình độ tư duy lý luận, là một nấc thang mới của nhận thức mang tính khoa
11
học chứ không dừng lại ở mức kinh nghiệm, là sự phản ánh sâu sắc hơn bản
chất của sự vật, hiện tượng.
Tính xã hội hoá của lao động sáng tạo khoa học ngày càng tăng, thể
hiện ở sự phát triển nhanh về số lượng trí thức và sự hợp tác lao động khoa
học giữa trí thức của các ngành, các lĩnh vực trong phạm vi quốc gia, quốc tế
ngày càng nhiều. Thế nhưng, một trong những đặc điểm hoạt động của trí
thức vẫn không đổi, đó là tính độc lập cá nhân cao. Sau khi có những nhiệm
vụ cụ thể, từng người trí thức vận động tư duy, tìm tòi, trăn trở, sáng tạo... để
có được những sản phẩm khoa học.
Trí thức chân chính phải là người thực học, để có thực lực và thực tài,
có năng lực tự đào tạo một cách chủ động, sáng tạo, có cấu trúc nhân cách
đức- tài hoàn chỉnh, có phương pháp và bản lĩnh của một nhân cách khoa học,
là những chủ thể của một nhân cách khoa học với sự hài hoà giữa lý tưởng
nghề nghiệp chuyên môn với lý tưởng chính trị, thể hiện qua thái độ lao động,
trong tư duy khoa học, trong đạo đức, lối sống. Trí thức là người lao động
sáng tạo ra tri thức, ra các giá trị văn hoá tinh thần, thuộc về những đại diện
ưu tú cho trí tuệ của dân tộc, cho phẩm chất trọng chân lý và trọng đạo lý.
Trong cách mạng vô sản, nhất là sau khi đã giành chính quyền, giai cấp
công nhân nhất định phải xây dựng tầng lớp trí thức mới cho mình, bằng cách
cải tạo, bồi dưỡng trí thức cũ và đào tạo trí thức mới. Đội ngũ trí thức mới
ngày càng đông đảo, có thế giới quan vô sản, có phẩm chất đạo đức cách
mạng, có kiến thức khoa học, chuyên ngành cần thiết, có bản lĩnh, phương
pháp và ý thức trách nhiệm cao trong hoạt động khoa học. Họ có môi trường
xã hội và những điều kiện thuận lợi để cống hiến tài năng sáng tạo của mình
tri thức KHXH-NV trong đời sống xã hội, có tri thức sâu, rộng về xã hội và về
con người. Họ vừa là người lao động sáng tạo khoa học trong lĩnh vực
KHXH-NV vừa là người tham gia các hình thức hoạt động chính trị- xã hội
13
và đào tạo lớp trí thức mới cho đất nước. Họ có phẩm chất chính trị, đạo đức,
trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, yêu cầu của nhiệm vụ KHXH-NV trong giai đoạn cách mạng mới.
Trí thức KHXH-NV trong quân đội là một bộ phận của đội ngũ trí
thức KHXH-NV quốc gia, một bộ phận của trí thức quân đội, là người lao
động trí óc, sáng tạo, phổ biến và nghiên cứu ứng dụng tri thức KHXH-NV
trong quân đội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có
trình độ học vấn ở bậc cao đẳng, đại học trở lên, có tri thức sâu, rộng về xã
hội quân đội và về con người quân nhân.
Trí thức KHXH-NV trong quân đội là một nhóm quân nhân đặc thù, bao
gồm: cán bộ nghiên cứu KHXH-NV, giảng viên KHXH-NV và những cán bộ
làm các công tác khác trong lĩnh vực KHXH-NV của quân đội. Họ là những sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng làm công tác
chuyên môn, nghiệp vụ theo chức trách, nhiệm vụ được giao và tham gia lao
động trí óc sáng tạo, phổ biến và ứng dụng KHXH-NV trong quân đội.
Trí thức KHXH-NV trong quân đội, ngoài những đặc điểm chung với
trí thức KHXH-NV nước ta, còn có những đặc trưng riêng do điều kiện sống
và hoạt động trong môi trường quân sự tạo nên.
Trước hết, trí thức KHXH-NV trong quân đội có đối tượng nghiên
cứu đặc thù. Họ không chỉ nghiên cứu con người- xã hội nói chung mà còn
lấy vấn đề xã hội và con người- quân nhân trong quân đội, trong hoạt động
quân sự làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu. Hoạt động quân sự có quy luật
riêng, bởi lẽ lao động quân sự là loại hình lao động đặc biệt, con người luôn
gắn với vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ
Người trí thức KHXH-NV trong quân đội được chuẩn bị những phẩm
chất phản ánh tính đặc thù khoa học mà mình nghiên cứu. Họ có bản lĩnh
chính trị vững vàng; trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân
15
dân; có tinh thần trách nhiệm, ý chí quyết tâm cao, dũng cảm, đoàn kết, kỷ
luật tự giác nghiêm minh, đức tính trung thực, cẩn thận, tỉ mỷ, kiên trì và
nhân văn trong hoạt động khoa học; có tâm huyết với nghề nghiệp, say mê
nghiên cứu sáng tạo, cống hiến cho KHXH-NV trong quân đội. Những phẩm
chất đó là sự phản ánh nhân cách người trí thức KHXH-NV trong quân đội.
Với nhân cách ấy, ở cương vị “nhà khoa học”, hay cương vị “người
lính”, người lãnh đạo, chỉ huy trong chiến đấu, huấn luyện quân sự, lao động
sản xuất và công tác, người trí thức KHXH-NV trong quân đội đều có thể
vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, căng thẳng và nguy hiểm, sẵn sàng hy sinh
cả tính mạng của mình để lao động sáng tạo khoa học và hoàn thành chức
trách, nhiệm vụ được giao. Nếu không, họ sẽ không có đủ bản lĩnh, ý chí
quyết tâm, tinh thần trách nhiệm để giải quyết những vấn đề khoa học mà
mình theo đuổi, nói gì đến sáng tạo văn hoá, đấu tranh phê phán những hiện
tượng sai trái trong và ngoài quân đội.
Thực tế cho thấy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ, có biết bao trí thức KHXH-NV trong quân đội đã bám sát thực tiễn
hoạt động quân sự, vừa cầm súng để chiến đấu, vừa cầm bút để sáng tạo khoa
học ngay trên chiến trường. Nhiều công trình khoa học, dự án, nhiều tác phẩm
văn học, nghệ thuật có giá trị to lớn đã thấm máu của chính mình và đồng đội,
góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Ngày
nay, trí thức KHXH-NV trong quân đội luôn chắc tay súng tay bút bảo vệ Tổ
quốc và lao động sáng tạo khoa học.
Ba là, trí thức KHXH-NV trong quân đội có kiến thức sâu, rộng về xã hội
và vốn sống thực tiễn quân sự phong phú. Các chuyên ngành KHXH-NV trong
đối với trí thức KHXH-NV trong quân đội. Người trí thức khoa học kỹ thuật
quân sự trẻ có vốn sống thực tiễn quân sự chưa nhiều, nhưng có kiến thức
17
chuyên ngành sâu thì họ hoàn toàn có thể nghiên cứu, phát minh, sáng chế ra
vũ khí mới, phương tiện kỹ thuật quân sự... có uy lực lớn. Trái lại, người trí
thức KHXH-NV trong quân đội trẻ cũng có kiến thức chuyên ngành sâu
nhưng lại rất khó khăn, lúng túng khi nghiên cứu KHXH-NV trong quân đội
và thường có kết quả không cao vì họ còn thiếu những kiến thức liên ngành cần
thiết và vốn sống thực tiễn hoạt động quân sự. Để có kiến thức sâu, rộng và vốn
sống phong phú, họ phải qua đào tạo, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện ở nhà
trường, trong thực tiễn hoạt động quân sự. Vì vậy, họ thường vào nghề muộn
hơn, có tuổi quân, tuổi đời cao hơn các bộ phận trí thức khác trong quân đội.
Bốn là, phương pháp nghiên cứu và sản phẩm lao động sáng tạo của
trí thức KHXH-NV trong quân đội cũng có nét đặc thù. Trong lao động sáng
tạo khoa học, trí thức KHXH-NV trong quân đội vận dụng phương pháp
nghiên cứu của KHXH-NV để nghiên cứu các hiện tượng xã hội và con
người- quân nhân trong quân đội, trong hoạt động quân sự. Đó là cả một hệ
thống phương pháp nghiên cứu xã hội phức tạp do tính biến đổi mau lẹ,
thường xuyên và mối liên hệ phức tạp của đối tượng nghiên cứu qui định. Do
có phương pháp duy vật lịch sử, tư duy trừu tượng, tư duy biện chứng trong
nghiên cứu khoa học, người trí thức KHXH-NV trong quân đội dễ nhìn thấy
những cái mới đang nảy sinh, những dấu hiệu của sự phát triển và giúp con
người- quân nhân chủ động, tích cực trong hoạt động quân sự.
Việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội trong chừng mực đáng kể
thường được hiệu chỉnh dưới tác động của nhân tố chủ quan của người trí
thức KHXH-NV trong quân đội. Do vậy, những sản phẩm khoa học phản ánh
thế giới quan, quan điểm, chính kiến của họ. Ở đó, tính khoa học và tính
chính trị cách mạng kết hợp biện chứng với nhau.
* Nguồn lực con người
19
Nguồn lực là hệ thống các yếu tố cả vật chất và tinh thần đã, đang và sẽ
có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần thúc đẩy quá trình cải biến tự
nhiên và xã hội của một quốc gia, dân tộc.
Khái niệm nguồn lực có phạm vi bao quát rộng, nó hàm chứa không chỉ
các yếu tố vật chất, tinh thần đã và đang tạo ra sức mạnh trên thực tế mà cả
những yếu tố mới ở dạng tiềm năng; nó không chỉ nói lên sức mạnh mà còn
chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hay nơi có thể cung cấp sức mạnh; nó phản
ánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố và sự biến đổi không
ngừng của các yếu tố đó.
Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể và góc độ nghiên cứu trong các mối
quan hệ xác định mà nguồn lực được tính đến như thế nào, mở rộng hay thu
hẹp. Có thể nêu ra một số loại nguồn lực sau: nguồn lực vật chất và nguồn lực
tinh thần; nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài; nguồn lực chủ quan và
nguồn lực khách quan... Có những yếu tố tạo nên một nguồn lực nào đó lại trở
thành những nguồn lực của chính nguồn lực đó, như trí tuệ cũng được coi là
một nguồn lực trong nguồn lực con người.
Hiện nay, các nguồn lực quan trọng nhất thúc đẩy quá trình CNH,HĐH
đất nước có thể được qui về 5 loại sau: nguồn nhân lực và con người Việt
Nam; nguồn tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực do vị trí địa lý thuận lợi;
nguồn lực bắt nguồn từ cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học kỹ thuật; các
nguồn lực nước ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng
tác động vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong
đó, nguồn lực con người Việt Nam là quí nhất, quyết định nhất.
Khái niệm “nguồn lực con người” mới được dùng từ những năm 60 của
thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á, hiện nay, nó
được sử dụng khá phổ biến trên thế giới [35, tr. 32].
21
phản ánh lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động); nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có trong tương lai gần).
Thứ hai, phản ánh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành,
các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo, cơ cấu trình độ lao động, cơ cấu độ
tuổi trong lực lượng lao động, cơ cấu nguồn lao động dự trữ... Cơ cấu này ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn lực con người.
Thứ ba, phản ánh chất lượng dân số, chất lượng lực lượng lao động trong
hiện tại và trong tương lai gần (dạng tiềm năng), bao gồm các yếu tố: thể chất và
tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm
việc... Nói một cách khác, đó là toàn bộ những năng lực và phẩm chất của con
người tạo nên nhân cách tiêu biểu cho một quá trình biến đổi xã hội nhất định.
Các nội dung trên là một thể thống nhất, liên hệ, tác động lẫn nhau
trong cấu trúc nguồn lực con người.
Các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ... chỉ phát
huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển xã hội khi được kết
hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động của con người. Vì vậy,
nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi
nguồn lực, là nội lực của sự phát triển.
Nguồn lực con người có những đặc tính cơ bản sau:
Một là, nguồn lực có trí tuệ, có khả năng phục hồi và tự tái sinh. Nó
thường xuyên được bổ sung về số lượng và chất lượng qua tái sản xuất ra
con người, tái sản xuất giá trị xã hội. Sự tiềm tàng sức mạnh của nguồn lực
con người nằm chủ yếu ở khả năng bản chất của con người là trí tuệ. Trí tuệ
là sản phẩm đặc biệt của cái “khối vật chất đặc biệt phức tạp mà con người
gọi là bộ óc của con người”. Nó là nguồn lực duy nhất có năng lực sáng tạo
với khả năng tái sinh và tái sinh mở rộng không ngừng năng lực sáng tạo đó.
Trong quá trình sử dụng, trí tuệ không chỉ sáng tạo ra giá trị tự bù đắp hao
23
Từ khái niệm chung về nguồn lực con người có thể hiểu nguồn lực trí
thức KHXH-NV trong quân đội- một bộ phận của nguồn lực con người quân
đội, nguồn lực trí thức quân đội, là tổng hoà các yếu tố về số lượng, chất lượng
và cơ cấu đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội. Họ là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng làm công tác nghiên cứu khoa học,
giảng dạy và các hoạt động khác trong lĩnh vực KHXH-NV của quân đội.
Sức mạnh nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân đội là sự thống
nhất giữa chất lượng của từng người trí thức với số lượng trí thức và cơ cấu
đội ngũ trí thức KHXH-NV trong quân đội, được biểu hiện ra ở kết quả hoạt
động KHXH-NV trong quân đội theo chức trách, nhiệm vụ được giao.
Số lượng trí thức là một yếu tố vật chất nền tảng có vai trò rất quan
trọng trong các yếu tố tạo thành sức mạnh của nguồn lực trí thức KHXH-NV
trong quân đội. Không có số lượng thích hợp thì không thể tạo dựng được một
tổ chức khoa học và qui mô của tổ chức đó, càng không thể triển khai hoạt
động KHXH-NV trong quân đội có hiệu quả. Sức mạnh của nguồn lực này
bắt nguồn từ sức mạnh của từng cá nhân được tổ chức. Nhờ có tổ chức mà
sức mạnh của từng người trí thức và của cả nguồn lực được nhân lên gấp bội
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của KHXH-NV trong quân đội.
Số lượng trí thức KHXH-NV trong quân đội phải đảm bảo tính phổ quát về
nội dung và các lĩnh vực hoạt động KHXH-NV trong quân đội. Trên cơ sở yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng quân đội, nhiệm vụ chính trị của các đơn vị và yêu
cầu của nhiệm vụ KHXH-NV trong quân đội để xác định số lượng trí thức làm
công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy, lãnh đạo, chỉ huy, chuyên môn, nghiệp
vụ... ở các ngành, các cơ quan và đơn vị trong quân đội một cách hợp lý. Và do
đó, sẽ bảo đảm sức mạnh thực tế cho nguồn lực trí thức KHXH-NV trong quân
đội phát huy tác dụng cả bề rộng và chiều sâu nghiên cứu khoa học, phổ biến và
ứng dụng KHXH-NV trong quá trình xây dựng quân đội và hoạt động quân sự. Vì
25
trình độ giác ngộ chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý
tưởng cộng sản. Họ còn có phẩm chất trung thực, cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì,
trách nhiệm xã hội và nhân văn trong lao động sáng tạo khoa học; có tâm
huyết với nghề nghiệp, say mê nghiên cứu sáng tạo, cống hiến cho KHXHNV trong quân đội; không bảo thủ, thiên vị, không cục bộ, đố kỵ, có tinh thần
hợp tác khoa học, chống chủ nghĩa cá nhân, trân trọng yếu tố sáng tạo, bảo vệ
cái đúng, phê phán cái sai... Đó là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của người
trí thức KHXH-NV trong quân đội.
Phẩm chất của người trí thức KHXH-NV trong quân đội giữ vị trí đặc
biệt quan trọng. Nó được coi là cội nguồn của sức mạnh, là cái “gốc” để họ
có thể vượt qua mọi trở lực, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,
không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân”[72, tr. 252]. Vì vậy, phải coi “đức là
gốc” [19, tr. 146]. Thực tế đã chứng tỏ, nhờ có những phẩm chất quý báu đó
người trí thức KHXH-NV trong quân đội mới có ý chí quyết tâm cao, gương
mẫu, vượt lên trên hoàn cảnh, không tính toán mưu lợi cho cá nhân, sẵn sàng
hy sinh cả tính mạng cho sự nghiệp khoa học. Và do đó, họ mới có được
những sản phẩm khoa học, những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị xã
hội cao, mới có thể đoàn kết, tập hợp, tổ chức được cán bộ, chiến sỹ tham
gia hoạt động KHXH-NV trong quân đội có hiệu quả.
Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc “tự nhiên sẵn có” (bao
gồm cả năng khiếu) để thực hiện một hoạt động nào đó [104, tr. 639]. Mỗi
lĩnh vực hoạt động cụ thể của con người đòi hỏi phải có một năng lực tương
ứng với nó. Không có sự phù hợp giữa năng lực hoạt động và yêu cầu hoạt
động của con người thì kết quả hoạt động sẽ không cao.
26