BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Chủ nghĩa xã hội
Đại đoàn kết dân tộc
Dân tộc thiểu số
Hệ thống chính trị
Quân đội nhân dân Việt Nam
Xã hội chủ nghĩa
CNXH
ĐĐKDT
DTTS
HTCT
QĐNDVN
XHCN
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đã
đoàn kết chặt chẽ, gắn bó keo sơn, chung sức chung lòng đấu tranh chống giặc xâm lăng, khắc
phục thiên tai bảo vệ và xây dựng đất nước. Đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một truyền
thống quý báu, là nguồn sức mạnh lớn lao, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của dân
tộc.
dân tộc xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai
đoạn mới.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Phát huy vai trò của quân đội nhân dân Việt
Nam trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta theo tư
tưởng Hồ Chí Minh” làm luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là vấn đề đã, đang tập trung sự chú ý,
quan tâm của Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học. Đảng ta đã đề cập vấn đề này trong các
văn kiện, nghị quyết như Văn kiện Đại hội Đảng IX, Nghị quyết chuyên đề của Ban chấp hành
TW lần thứ 7 khoá IX về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và Nghị quyết TW 7 khoá IX “về công tác dân tộc”... Các
công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cũng đã đề cập tới vấn đề này ở những góc độ
khác nhau như: Đề tài “Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh”, Phùng Hữu Phú- chủ biên, Nxb
CTQG, H.1995; “Tìm hiểu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết”, Phạm Văn Khánh, Tạp chí
cộng sản, số 18, tháng 9/2000; “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị”, Nông Đức Mạnh, Tạp chí cộng sản số 24, tháng 12/2001; sách “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đại đoàn kết và mặt trận đoàn kết dân tộc” của Nguyễn Bích Hạnh và Nguyễn Văn
Khoan, tái bản lần một, Nxb Lao động, H.2001; “Đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí
Minh”, Vũ Văn Châu, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 6-2003...
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn
đề ĐĐKDT trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách hệ thống vấn đề “Phát huy vai trò của quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện
chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đề tài này không trùng
lặp với các công trình khoa học đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích:
Thông qua việc nghiên cứu một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
ĐĐKDT và thực trạng vai trò của quân đội trong thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà
dạy và vận dụng ở một số đơn vị quân đội trong quá trình thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng,
Nhà nước ta hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn:
Đề tài gồm phần mở đầu, 2 chương, 4 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục.
Chương 1
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN
TỘC VÀ VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN
TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Dân tộc, xét theo nghĩa hẹp là một cộng đồng tộc người có chung một tiếng nói, một lịch
sử, cùng nguồn gốc, cùng một đời sống văn hoá dân tộc truyền thống, có ý thức tự giác dân tộc,
cùng cư trú trên một địa bàn đầu tiên.
Dân tộc, xét theo nghĩa rộng là một cộng đồng người ổn định xuất hiện trong lịch sử, là
cộng đồng về đời sống kinh tế, có tiếng nói chung, có lãnh thổ chung và có nền văn hoá chung,
trong đó đặc trưng quan trọng nhất là cộng đồng về kinh tế và cộng đồng về văn hoá.
Chỉ khi nào hội đủ các yếu tố trên thì dân tộc mới hình thành hẳn. Cho nên, theo nghĩa
này, dân tộc được gắn liền với sự hình thành và phát triển các quốc gia dân tộc. Đề tài này tiếp
cận vấn đề dân tộc theo nghĩa rộng.
Theo từ điển chính trị vắn tắt, đoàn kết là hợp nhiều người thành một khối vững chắc,
cùng một lòng, một dạ nhất trí với nhau; là sự ủng hộ các phong trào, các tổ chức hoặc cá nhân
trên cơ sở quan điểm và lợi ích gần nhau hoặc thống nhất [76, tr.128].
Như vậy có thể khái quát:
Đại đoàn kết dân tộc trong quá trình cách mạng Việt Nam là sự kết lại tất cả mọi người thuộc
dân tộc Việt Nam, không phân biệt đảng phái, thành phần dân tộc, tín ngưỡng, giới tính, lứa
tuổi, giàu nghèo, đang công tác hay đã nghỉ hưu, ở trong nước hay đang sống ở nước ngoài.
.. thành một khối vững chắc, ổn định, lâu dài, trên cơ sở thống nhất về mục tiêu và những lợi
ích chung cơ bản, để tạo nên sức mạnh vô địch thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT là một bộ phận trong toàn bộ tư tưởng của Người, là
tầng cùng đồng tâm, hiệp lực, chung sức, chung lòng đánh thực dân phong kiến, giành độc lập,
tự do cho dân tộc. Trong thư kêu gọi tổng khởi nghĩa, Người viết: “Bốn năm trước đây, tôi có thư
kêu gọi đồng bào ta đoàn kết, vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc
lập, tự do”[25, tr. 553]. Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời, trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Hồ Chủ tịch đã khẳng định trước toàn thể
quốc dân đồng bào và toàn thế giới biết rằng: do sức đoàn kết tranh đấu của toàn dân tộc mà
nước Việt Nam đã trở thành một nước tự do, độc lập và “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem
tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Sau cách mạng tháng Tám 1945, thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ tiếp tục xâm lược Việt
Nam, gây nên cảnh chia cắt giữa hai miền Nam- Bắc. Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, với
ý chí “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”,
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, toàn dân Việt Nam không phân biệt trẻ, già, trai, gái, vùng,
miền, đoàn kết một lòng cùng quyết tâm đánh giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 7/5/1954 và chiến thắng trong chiến dịch Hồ
Chí Minh lịch sử 30/4/1975 là chiến thắng của sức mạnh ĐĐKDT, là sự chứng minh cho sự đúng
đắn, sáng tạo của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh và của Đảng ta.
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều dân tộc sinh sống, kề vai sát cánh trong lịch sử
dựng nước và giữ nước, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các dân tộc không phân biệt lớn, nhỏ phải
đoàn kết chặt chẽ, phải thương yêu quý mến nhau như anh em trong một nhà để cùng nhau
đánh giặc xâm lăng, giữ gìn độc lập tự do cho toàn dân tộc. Tổ quốc Việt Nam được giải phóng
thì các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam mới được giải phóng, vì vậy, Người
khuyên đồng bào các dân tộc hãy đoàn kết chặt chẽ tạo sức mạnh to lớn để đánh đuổi xâm lăng,
giữ vững nền độc lập cho đất nước và cho các dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân
tộc thiểu số miền Nam, Người nói: “Nhờ sức mạnh đoàn kết đấu tranh chung của các dân tộc,
nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt
Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa.
Trước kia, các dân tộc để giành được độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập cũng
cần phải đoàn kết hơn nữa”[30, tr. 110].
các thế hệ người Việt Nam ngày càng sinh sôi, không ngừng khai phá, mở rộng lãnh thổ, đoàn
kết cùng nhau đấu tranh chống chọi với thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm bảo tồn nòi giống,
phát triển quốc gia dân tộc. Vì cùng chung một tổ tiên nòi giống nên Hồ Chí Minh thường dùng từ
“đồng bào” để gọi toàn thể nhân dân Việt Nam, tức là những người cùng được sinh ra từ một
bọc. Trong các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở, kêu gọi các tầng lớp nhân
dân hãy đoàn kết và chỉ cho họ thấy mọi người dân Việt Nam đều là anh em ruột thịt, đều từ một
bọc sinh ra. Khi diễn nôm “lịch sử nước ta” Người kêu gọi:
“Hỡi ai con cháu rồng tiên
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau
Bất kỳ nam nữ giàu nghèo
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn”.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc đều có một bản sắc riêng, điều đó
phản ánh tính đa dạng, đặc sắc của nền văn hoá Việt Nam. Trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí
Minh, 54 dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đều là anh em một nhà, là thành viên không
thể chia cắt của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số
miền Nam tại Plâycu ngày 19/4/1946 Người chỉ rõ: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,
Giarai hay Êđê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều
là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”[33, tr.
217]. Trong tâm thức của Người, mọi dân tộc, mọi người dân Việt Nam đều có sự gắn bó bởi
tình ruột thịt, nghĩa đồng bào và cùng chung một gia đình, một Tổ quốc, nên phải đoàn kết gắn
bó keo sơn, yêu thương nhau, đùm bọc nhau như những người trong một gia đình. Trong thư
gửi học sinh trường sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp ngày khai giảng, Người căn dặn:
“Các cháu thuộc nhiều dân tộc và ở nhiều địa phương. Nhưng các cháu đều là con em của đại
gia đình chung: là gia đình Việt Nam, đều có một Tổ quốc chung: là Tổ quốc Việt Nam”[53,
tr.496]. Do những diễn biến lịch sử và sự vận động của quá trình tộc người, nên ở Việt Nam, bên
cạnh đa số các dân tộc đã tụ cư lâu đời, cũng có một số dân tộc thiên di tới Việt Nam trong vài
thế kỷ gần đây, cùng làm ăn, sinh sống trên đất nước Việt Nam. Trong tư tưởng đoàn kết Hồ Chí
Minh, bộ phận này cũng là thành viên của đại gia đình dân tộc Việt Nam, có nhiều công lao đóng
hàng trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ, nhân dân ta sống trong gông cùm, tăm tối, mất tự do,
phải “làm thân trâu ngựa cho loài chó dê” cướp nước. Trong hoàn cảnh đó, đồng bào các dân
tộc, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, đồng bào miền xuôi hay đồng bào miền ngược
đều có chung số phận của người dân mất nước. Vì vậy, kẻ thù của toàn dân tộc cũng là kẻ thù
của mỗi dân tộc, từng dân tộc không thể tự giải phóng cho mình nếu không dựa vào khối đoàn
kết của toàn dân tộc. Đây chính là yêu cầu khách quan buộc mọi dân tộc, tôn giáo, thành phần. ..
trong đất nước phải đoàn kết chặt chẽ cùng đấu tranh vì lợi ích của mỗi bộ phận cũng như vì
quyền lợi chung của cả quốc gia dân tộc. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ
quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu nước mất thì ai cũng phải làm nô lệ”[35, tr.485].
Sau cách mạng tháng Tám 1945, thực dân Pháp, rồi sau đó là đế quốc Mỹ lại xâm lược
nước ta. Chúng dùng mọi thủ đoạn nham hiểm để phá vỡ khối đại đoàn kết, thống thất toàn dân
tộc, chúng đã lập ra những khu tự trị, cô lập từng vùng miền làm cho đồng bào các dân tộc cách
trở, ly gián, đối địch lẫn nhau. Khi Pháp thất bại ở Điện Biên phủ buộc phải ký hiệp định Giơnevơ
công nhận nền hoà bình trên bán đảo Đông Dương, đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược miền Nam
Việt Nam đã dùng vĩ tuyến 17 để cắt đôi đất nước. Vì lợi ích chung của toàn dân tộc, vì độc lập,
tự do và sự thống nhất toàn vẹn của hai miền Nam- Bắc, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam và Hồ Chủ tịch, đã đoàn kết nhất trí, triệu người như một, tất cả vì một
nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh, thu giang sơn đất
nước về một mối, Nam- Bắc sum họp một nhà, cả nước thống nhất đi lên CNXH. Khẳng định ý
chí và tinh thần đoàn kết của toàn dân tộc, Hồ Chủ tịch đã viết:
“Nước Việt Nam là một
Dân tộc Việt Nam là một.
Dù cho sông cạn đá mòn
Nhân dân Nam- Bắc là con một nhà”.
Thứ ba, các dân tộc ở Việt Nam có một chính phủ chung thống nhất đại diện cho lợi ích của
toàn dân tộc.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được lập nên từ thành quả của cách mạng
tháng Tám 1945, là chính phủ của mọi người dân Việt Nam, của các dân tộc sinh sống trên đất
thành đoàn kết, có đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”[32, tr.246-247].
Tư tưởng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ của Hồ Chí Minh được thể hiện ngay trong thành
phần của chính phủ liên hiệp chính thức được lập nên sau khi tổng tuyển cử bầu quốc hội
6/1/1946. Trong chính quyền mới được lập ra có đủ thành phần đại diện cho khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, có những chí sĩ yêu nước như cụ Huỳnh Thúc Kháng, có những người của chế độ
cũ như các ông Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, có cả “công dân Vĩnh Thuỵ” là vua Bảo Đại mới
thoái vị, có giám mục Lê Hữu Từ ở chức cố vấn, cũng có cả đại diện Đảng “Việt quốc” và “Việt
cách” trong chính phủ. Trong thành phần của Quốc hội khoá I, Hồ Chí Minh đã nhường hẳn một
phần năm số ghế cho những người thuộc Việt Nam quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng
đồng minh hội, mà không thông qua bầu cử, vì họ không có cơ hội trúng cử qua tổng tuyển cử tự
do. Hồ Chí Minh chủ trương thực thà đoàn kết lâu dài với những người thuộc mọi xu hướng,
miễn là họ có tinh thần yêu nước để cùng mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Khi
trả lời báo “Độc lập” về việc chính phủ mở rộng 28/8/1947, Hồ Chủ tịch nêu rõ: “chính sách của
chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ, cũng như đối với tất cả các
giới đồng bào, những người có tài, có đức, thì chính phủ hoan nghênh ra gánh vác việc
nước”[41, tr.196].
Từ những quan điểm và chính sách đúng đắn về xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc,
nên Hồ Chí Minh đã thu hút, qui tụ được nhiều nhân sĩ yêu nước, những người tài giỏi, những
người có uy tín, trong mặt trận dân tộc để cùng mưu sự chung. Đặc biệt Người đã cô lập được
những phần tử bất đồng với cách mạng, lôi kéo được những người trung lập đi theo cách mạng,
tạo nên sức mạnh hùng hậu của khối ĐĐKDT đưa sự nghiệp cách mạng mau thắng lợi. Phát
biểu trong buổi tiếp đại biểu nhân dân thủ đô Hà Nội ngày 16/10/1954, Người nói: “Đoàn kết là
lực lượng mạnh nhất của chúng ta. Chúng ta phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. đoàn kết giữa
chính phủ và nhân dân. Đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân với nhau. Đoàn kết giữa đồng bào
toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa, đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân nước
bạn. ..”[51, tr. 368].
Trong tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh, mọi người Việt Nam đều có chung nguồn gốc nòi
giống, đều là con dân nước Việt, miền Nam hay miền Bắc cũng có chung một cội nguồn dân tộc, một
Nghiên cứu tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, chúng ta thấy, lực lượng trong tư tưởng
đoàn kết của Người là rất đông đảo, rộng rãi. Trong đất nước Việt Nam, hễ ai có lòng yêu nước,
thành thực muốn đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng
CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN thì đều trở thành lực lượng trong khối ĐĐKDT, đều
là đối tượng để Người đoàn kết. Tư tưởng đại đoàn kết rộng rãi của Hồ Chí Minh là rất xa lạ với
những quan điểm dân tộc hèp hòi, dân tộc “thượng đẳng” và những quan điểm đoàn kết cổ xưa.
Quan điểm về đối tượng đoàn kết của Hồ Chí Minh cũng khác với quan điểm của các nhân sĩ
yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. ..
Phan Bội Châu, một sĩ phu yêu nước đã từng hô hào “Nghìn muôn ức triệu người trong
nước, xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà”, và “cốt rằng người trong nước chung nhau một lòng”.
Ông luôn tin tưởng rằng: “nếu cả nước đồng lòng như thế, việc gì coi cũng dễ như không” và đã
chủ trương đoàn kết tất cả những người đồng tâm là “Phú hào, quan tước, thế gia, sĩ, binh tập,
côn đồ, nghịch tử, nhi nữ, anh sỹ, bồi bếp, thông ký, người đi du học. ..”. Nhưng Phan Bội Châu
lại coi hạng người phú hào, quan tước, sỹ, người đi du học nước ngoài là những hạng người lớp
trên, là động lực chính của cuộc vận động cách mạng, còn tầng lớp công, nông, thương lại
không có trong tư duy đoàn kết của ông.
Khác với quan điểm trên, Hồ Chí Minh luôn chủ trương đoàn kết rộng rãi tất cả lực
lượng, thành phần có thể đoàn kết trong xã hội nhưng phải đặt trên nguyên tắc, đó là họ phải có
tinh thần yêu nước, ủng hộ cách mạng, một lòng một dạ đấu tranh vì lợi ích chung của toàn dân
tộc. Hơn nữa, thực hiện đoàn kết đông đảo các lực lượng trong mặt trận dân tộc thống nhất,
nhưng phải lấy khối liên minh công- nông- trí làm nòng cốt. Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu mặt
trận Liên Việt, ngày 10/1/1953, Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân
dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là
nền gốc của đại đoàn kết”[52, tr. 438].
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn biết phân tích, đánh giá đúng vai
trò cách mạng, ưu điểm, hạn chế của từng lực lượng, giai tầng trong xã hội, thông cảm sâu sắc
với địa vị, hoàn cảnh của họ, tìm ra những điểm tương đồng dẫn dắt họ đi theo con đường cách
mạng, nên đã đoàn kết, tập hợp được lực lượng đông đảo toàn dân tộc, góp phần đưa sự
Với đồng bào các dân tộc thiểu số, Người luôn dành những tình cảm và sự quan tâm
sâu sắc tới đồng bào, ân cần thương yêu, tôn trọng đồng bào, coi đồng bào như anh em ruột thịt,
động viên, thăm hỏi bằng thái độ chân thành, gần gũi, ấm áp như những người thân trong một
gia đình. Nói chuyện với đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang ngày 23/11/1945,
Người căn dặn: “Tôi nhờ anh chị em về nói lại với đồng bào trên ấy biết rằng, đồng bào Kinh và
chính phủ rất thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà và khuyên anh
chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng hưởng chung”[29, tr.104]. Trong bức thư gửi đồng
bào các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Đông ngày 20/3/1946, Người bày
tỏ sự chân thành: “Tuy hiện nay tôi ở Hà Nội, xa cách với đồng bào nhưng không bao giờ tôi
quên các đồng bào. Tôi luôn nhớ đến lòng yêu mến và sự giúp đỡ của các đồng bào trong
những tháng ngày tôi ở thượng du”[34, tr.210].
Sự chân thành và tình thương yêu của Hồ Chí Minh còn được thể hiện cụ thể, sinh động
đối với một số dân tộc mới di cư đến làm ăn, sinh sống với nhân dân Việt Nam. Trong thư gửi
anh em Hoa Kiều ngày 2/9/1945, Người viết: “Tôi xin thay mặt chính phủ nhân dân lâm thời Việt
Nam và toàn dân Việt Nam đưa bàn tay nồng nhiệt hoan nghênh anh em Hoa Kiều sinh sống
trên đất nước ta, mong rằng anh em hai nước chúng ta thân mật đoàn kết, có việc gì thì giải
quyết với nhau theo nguyên tắc hợp lý, hợp tình với thái độ kính trọng nhường nhịn lẫn nhau,
không được vì những tranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây điều bất hạnh ngăn cách giữa hai dân
tộc”.
Đối với đồng bào theo các tôn giáo và các giáo chủ, giáo sĩ, chức sắc trong các tôn giáo,
Hồ Chí Minh luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và đức tin của họ. Mặc dù là một lãnh tụ
cộng sản nhưng Người để lại một ấn tượng tốt đẹp trong giáo dân, gây được cảm tình từ đồng
bào tôn giáo, tạo được niềm tin, sự kính trọng, nể phục và nghe theo của giới chức sắc tu hành.
Trong hầu hết các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về tôn giáo đều ít nhiều đề cập tới những
người sáng lập ra các tôn giáo, tới sự tương đồng về mục tiêu, lý tưởng giữa tôn giáo và CNCS.
Với sự kính trọng đức chúa chân thành, trong thư gửi linh mục và đồng bào công giáo Việt Nam
ngày 23/12/1945, Người viết: “Cách một nghìn chín trăm bốn mươi nhăm năm trước, cũng ngày
hôm nay, một vị thánh nhân là Đức chúa Giêsu ra đời. Suốt đời hy sinh phấn đấu cho tự do, cho
dân chủ, từ ngày giáng sinh đến nay đã gần 2000 năm, nhưng tinh thần thân ái của Ngài chẳng
những không phai nhạt mà toả ra khắp, thấm vào sâu”[27, tr.121].
như thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không? Nếu kẻ thù nào chia
rẽ thì phải làm thế nào? thì phải đập vào đầu chúng nó. Đó là điểm thứ nhất tại sao phải đoàn kết
chặt chẽ giữa các dân tộc”[55, tr. 226].
Khi được tin một số đồng bào ở vùng Sơn Hà vì sự sai lầm của một số cán bộ địa
phương mà để giặc lợi dụng, kích động, gây rối trật tự trị an, ảnh hưởng tới sản xuất và cuộc
sống của nhân dân, Hồ Chí Minh rất đau lòng. Bằng những lời lẽ chân tình của một người cha,
một vị Chủ tịch nước, Người khuyên nhủ: “Đồng bào biết rằng, chính phủ ta là chính phủ của
dân. Việc gì hại đến dân thì chính phủ hết sức tránh. Việc gì lợi cho dân chì chính phủ ra sức
làm. Vậy tôi khuyên đồng bào mau mau tỉnh ngộ, trở về yên phận làm ăn, chớ nghe lời giặc lừa
phỉnh”. Và Người cũng kiên quyết: “Tôi đảm bảo rằng tôi và chính phủ sẽ trừng trị những cán bộ
có lỗi và sẽ làm cho đồng bào khỏi oan ức”[46, tr.117].
Nhờ thái độ chân thành và những lời nói có tình có lý thể hiện tình thương và trách
nhiệm trước nhân dân, Người đã làm cho đồng bào tin và nghe theo, trở về ổn định cuộc sống,
thắt chặt tình đoàn kết giữa nhân dân và chính quyền địa phương.
Từ sự tôn trọng, thương yêu, quý mến đồng bào và bằng những lời lẽ chân thành, mộc
mạc, dễ hiểu để cảm hoá quần chúng, Hồ Chí Minh đã lôi kéo, quy tụ, đoàn kết được mọi người
thuộc mọi đối tượng khác nhau xung quanh mình. Có nhiều người không biết gì về chủ nghĩa
cộng sản, nhưng trước con người, nhân cách, tâm hồn, phong thái Hồ Chí Minh, họ đã tin, theo
và nguyện đứng xung quanh khối đại đoàn kết của Người và sẵn sàng hy sinh để phấn đấu cho
lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà Người là biểu tượng.
Thứ hai, khoan dung, độ lượng, vị tha, hướng mọi người vào mục đích chung cao cả.
Đức khoan dung, sự độ lượng và lòng vị tha là những đức tính, phẩm chất trong con
người Hồ Chí Minh và đây cũng là cái cách để Hồ Chí Minh đoàn kết, thu phục mọi người cùng
quyết tâm thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Theo Hồ Chí Minh, làm
người phải biết khoan dung, độ lượng, bởi “không ai hoàn toàn tránh khỏi sai lầm”, phải biết chấp
nhận và tha thứ những khuyết điểm, sai lầm của người khác. Có như vậy chúng ta mới cứu vớt
được con người, hạn chế được phần xấu trong họ và nhen nhóm, thổi bùng phần tốt, thiện trong
con người họ, làm cho họ trở thành người có ích cho cách mạng, cho dân, cho nước. Người
giáo dục với những người có phạm sai lầm. Người nói: Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu
Hồng thì ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc. Đối với những người đồng bào lạc lối lầm đường, ta
phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng được thiết lập trong
cả nước. ở một số địa phương, do cán bộ chưa quán triệt đầy đủ chính sách ĐĐKDT của Đảng
và của Hồ Chủ Tịch, nên đã gây ra những ảnh hưởng nhất định đến sự đoàn kết và cuộc sống
của nhân dân. Trong thư gửi cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh Nghệ An ngày 17/9/1945 Hồ Chủ
Tịch chỉ rõ: “Những đứa phản quốc có chứng cứ rõ ràng phải trừng trị đã đành. Nhưng chúng ta
không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm
thì nên dùng chính sách cảm hoá, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu
vô lý, làm cho dân kinh khủng”[26, tr.20].
Đối với các chức sắc tôn giáo và các giáo dân do lầm đường lạc lối đi theo lời lừa phỉnh
của kẻ thù, Hồ Chí Minh luôn tỏ ra sự độ lượng, khoan hồng. Người chẳng những không trách
cứ, bỏ rơi, hay trừng phạt họ mà ngược lại còn tỏ lòng thương xót về nỗi khổ của họ và sẵn sàng
hoan nghênh đón tiếp những người muốn trở về với nhân dân, với cách mạng. Người viết: “Nay
đồng bào Hoà Hảo Sađéc đã xung phong bỏ quân giặc cướp nước mà về với Tổ quốc thân yêu.
Chính phủ và toàn quốc đồng bào đang chờ đợi để hoan nghênh những người hiện đang lầm
đường theo giặc, sẽ noi gương ái quốc của anh em Hoà Hảo đó”. Người thường nhắc nhở, chỉ
đạo cán bộ các cấp “Không được báo thù, báo oán. Đối với những người lầm đường lạc lối,
đồng bào ta phải dùng chính sách khoan hồng”[38, tr.420]. Có thể nói, trong bối cảnh chính
quyền cách mạng non trẻ vừa mới được thành lập, tình hình đất nước phải đương đầu với vô
vàn khó khăn, vận mệnh dân tộc như “nghìn cân treo sợi tóc”, thì lòng khoan dung, vị tha, nhân
ái của Hồ Chí Minh có tác dụng sâu sắc trong việc yên dân, đoàn kết dân tộc, tăng cường cố kết
cộng đồng, thực hiện “thêm bạn bớt thù”, để tạo sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc đưa đất nước
vượt qua những khó khăn, thử thách, giữ vững thành quả của cách mạng tháng Tám.
Sau khi quay trở lại xâm lược nước ta, để chia rẽ khối ĐĐKDT của chúng ta, làm suy yếu
sức mạnh toàn dân chống Pháp, thực dân Pháp thực hiện âm mưu nham hiểm tuyên truyền, kích
động trong nhân dân và vu cho chính phủ Hồ Chí Minh là phân biệt nhân dân ba miền: BắcTrung- Nam, và sự đối xử, có thành kiến với những người đã trót làm việc, cộng tác hoặc có liên
quan tới chính quyền cũ, nhất là những đồng bào ở Nam bộ. Để đập tan âm mưu và hành động
thâm độc, đê hèn, lừa bịp của kẻ thù và khẳng định chính sách ĐĐKDT của chính phủ cách
Sự khoan dung, độ lượng và lòng vị tha là một đức tính, một phẩm chất cao cả, một giá
trị văn hoá đã đưa nhân cách Hồ Chí Minh đến độ hoàn hảo, khiến cho Người bình thường, giản
dị mà vĩ đại. Người luôn biết đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của người khác, chấp nhận những
sự khác biệt, đặc điểm riêng để khoan dung; tìm hiểu, cảm thông và nhìn thấy cái tốt, cái thiện ở
người khác để tha thứ lỗi lầm và luôn hướng mọi người, mọi lực lượng theo mục tiêu cao cả của
sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH. Với phẩm chất cao đẹp đó, Hồ Chí Minh đã lôi
kéo, cứu vớt, đem lại cuộc sống cho bao mảnh đời lầm lạc; thu hút, quy tập được những lực
lượng, thành phần khác nhau trong xã hội, trong khối ĐĐKDT; khơi dậy tình thương yêu, truyền
thống đoàn kết cộng đồng, sự sẻ chia, nâng đỡ, bao dung trong mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi
thành phần giai cấp để tạo nên một sức mạnh như “thác cuốn triều dâng” của khối ĐĐKDT phục
vụ cho sự nghiệp cách mạng. Đây là một phương pháp ĐĐKDT của Hồ Chí Minh mà chúng ta
cần nghiên cứu, học tập và vận dụng linh hoạt trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, quan tâm chăm lo tới những lợi ích thiết thực của nhân dân, chú trọng nêu gương
để thực hành đoàn kết
Để đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân và các thành phần, lực lượng trong xã
hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo, đáp ứng những lợi ích thiết thực cho mọi
người và coi đây là cách thiết thực, hiệu quả trong thực hiện ĐĐKDT. Vấn đề lợi ích suy cho
cùng là vấn đề cốt lõi, là chất keo dính gắn bó mọi người lại với nhau, cho dù giữa họ có sự khác
nhau về dân tộc, thành phần, tín ngưỡng. Hồ Chí Minh cho rằng, vì lợi ích chung của dân tộc mà
các thế hệ người Việt Nam, không kể thuộc dân tộc đa số hay thiểu số, giàu hay nghèo đã đoàn
kết chặt chẽ để chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự xâm lăng của các thế lực bên
ngoài để bảo vệ sự tồn tại của mình cũng như sự trường tồn và phát triển của cả cộng đồng dân
tộc. Khi bọn thực dân, đế quốc xâm lược nước ta, lợi ích của toàn dân tộc bị đe doạ, nước mất
thì nhà cũng tan, ngay cả vua cũng chịu chung kiếp người nô lệ. Để bảo vệ lợi ích dân tộc cũng
là lợi ích của từng bộ phận, toàn dân Việt Nam nhất tề đứng lên, đoàn kết một lòng đánh đuổi
thực dân, đánh đổ phong kiến giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, hoà bình, hạnh phúc, ấm no
cho nhân dân.
gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì tôi như
đứt một đoạn ruột”[43, tr.40]. Chỉ bằng mấy dòng thư này cũng làm cho chúng ta thấy rõ tấm lòng
và sự quan tâm của một lãnh tụ với những số phận con người và chính điều này đã cảm hoá, thu
hút, đoàn kết mọi người, làm cho họ sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.
Cùng với sự quan tâm, chăm lo tới lợi ích của mọi người, đáp ứng những nhu cầu thiết
thực cho mọi đối tượng để tạo cơ sở thực hiện sự đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh còn chú trọng
tới phương pháp nêu gương để thực hành đoàn kết. Trong đó, Người luôn nhắc nhở cán bộ
đảng viên, bộ đội, thanh niên phải đoàn kết chặt chẽ để nêu gương cho quần chúng nhân dân,
cấp trên phải đoàn kết để làm gương cho cấp dưới, các bậc phụ huynh, các cụ phụ lão phải giữ
gìn đoàn kết để noi gương cho con cháu.
Nghiên cứu phương pháp ĐĐKDT ở Hồ Chí Minh chúng ta thấy để thực hành đoàn kết
không chỉ bằng lời nói, mà phải bằng hành động thiết thực; không phải ở hình thức bên ngoài mà
phải xuất phát từ bên trong, từ tấm lòng, phẩm chất, nhân cách của chính mình. Từ phương
pháp đoàn kết Hồ Chí Minh, chúng ta hiểu rằng muốn thu phục, vận động, quy tụ được mọi
người, mọi thành phần, mọi đối tượng trong xã hội, thì phải xuất phát từ tấm lòng chân thành, trái
tim yêu thương mênh mông và sự quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của mọi người,
mọi đối tượng. Có thể nói, phương pháp ĐĐKDT của Hồ Chí Minh đã đạt đến tầm cao nghệ
thuật dẫn dụ, cảm hoá, thu phục con người, nghệ thuật khơi dậy và nhân lên những điều tốt đẹp,
nhân bản trong mỗi con người, hướng con người đi theo một mục tiêu chung cao cả. Chính vì
thế, Người là hiện thân và là trung tâm của tinh thần ĐĐKDT, cả dân tộc đã tin và đoàn kết
quanh Người, quanh Đảng Cộng sản Việt Nam, sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng, phấn đấu theo
mục tiêu, lý tưởng mà Người đã lựa chọn.
Trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta hiện nay, phương pháp ĐĐKDT của Hồ Chí
Minh là kinh nghiệm quý giá để chúng ta xây dựng khối ĐĐKDT, xây dựng thành công CNXH và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.1.3.Nguyên tắc và yêu cầu của đại đoàn kết dân tộc
*Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc
Nguyên tắc ĐĐKDT trong tư tưởng Hồ Chí Minh là những quan điểm căn bản của Người
nhằm xây dựng khối ĐĐKDT ngày càng vững mạnh, phát triển đúng hướng và đảm bảo cho nó
luôn được đặt trên lập trường của giai cấp công nhân cũng như lợi ích tối cao của toàn dân tộc.
căn bản của các lực lượng trong khối ĐĐKDT.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐĐKDT được coi là cách thức, phương hướng để giải
quyết vấn đề lực lượng cách mạng, tạo sức mạnh của cả dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục
tiêu của cách mạng vô sản. Như vậy, ĐĐKDT phải luôn hướng tới thực hiện thắng lợi nhiệm vụ,
mục tiêu của cách mạng; nếu khối ĐĐKDT mà không hướng tới mục tiêu chiến lược của cách
mạng, không đáp ứng lợi ích căn bản của các giai tầng thì sự đoàn kết đó chỉ là tạm thời, mang
hình thức và sẽ nhanh chóng tan vỡ.
Nhiệm vụ của cách mạng phụ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu của từng giai đoạn cách
mạng. Nếu trong giai đoạn đất nước bị xâm lăng, nhiệm vụ cao cả, bức bách đặt ra cho toàn dân
tộc là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước thì trong giai đoạn hoà bình, nhiệm vụ đó là phải
giữ vững độc lập, tự chủ, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
XHCN. Tuy nhiên, các nhiệm vụ đó phải hướng tới và thực hiện cho được mục tiêu chiến lược
của cách mạng. Đó là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng thành công CNXH ở Việt
Nam. Mục tiêu đó cũng là lợi ích chung của toàn dân tộc.
Trong quá trình xây dựng khối ĐĐKDT, Hồ Chí Minh luôn giữ vững mục tiêu của cách
mạng, hướng cho mọi giai tầng, lực lượng trong khối ĐĐKDT đi theo và quyết tâm thực hiện cho
được mục tiêu đó. Người cho rằng, mục tiêu đó là điểm tương đồng để lôi kéo, quy tụ mọi lực
lượng và nó là mẫu số chung của khối ĐĐKDT, từ đó mà chấp nhận những điểm khác nhau
không trái với lợi ích chung cơ bản. Khi nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt
trận, Người nói: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù
những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”.
Nếu như mục tiêu cách mạng là cái đích, là ngọn cờ để đoàn kết, hướng dẫn mọi người
hành động, thì việc đáp ứng các lợi ích cơ bản của các giai tầng lại là chất kết dính mọi lực
lượng, giai tầng trong xã hội để xây dựng khối ĐĐKDT ngày càng vững mạnh. Nguyên tắc này
đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho Đảng ta xây dựng khối ĐĐKDT trong giai đoạn cách mạng Việt
Nam hiện nay.
Thứ ba, đoàn kết gắn liền với đấu tranh để xây dựng khối ĐĐKDT ngày càng bền chặt
hơn
trên Trung ương cho đến cấp dưới ở các địa phương, từ những người thuộc giai tầng khác nhau,
sang giàu khác nhau đều phải yêu thương nhau, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ vì mục đích
chung. Nếu không có tình yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ phận, những con người
khác nhau thì khó có thể có mối quan hệ đoàn kết thực sự. Người luôn chỉ bảo: “Chúng ta phải
yêu thương nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung cho chúng
ta và con cháu chúng ta”.
Hồ Chí Minh cho rằng, mọi người dân Việt Nam đều mang dòng máu con Lạc cháu
Hồng, có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, cùng gắn bó với
nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Vì vậy, mọi người phải phát huy những truyền
thống tốt đẹp đó, thương yêu quý trọng nhau để thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết thuỷ chung son
sắt, làm cho khối ĐĐKDT ngày một bền chặt.
Trên đất nước Việt Nam, 54 thành phần dân tộc cùng sinh sống, kề vai sát cánh bên
nhau qua hàng ngàn năm lịch sử đã xây dựng nên truyền thống đoàn kết gắn bó như anh em
một nhà trong đại gia đình Việt Nam. Người nhắc nhở dù dân tộc đa số hay thiểu số, đồng bào
Kinh hay Mán, Thổ. .. đều là anh em ruột thịt, nên phải thương yêu nhau và giúp đỡ nhau chân
thành, hiệu quả. Nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái, Người căn dặn: “Dân tộc nhiều người
phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người cần cố gắng làm ruộng, hai bên phải giúp đỡ
nhau. Dân tộc đông người không phải giúp qua loa, cũng như dân tộc ít người không nên ngồi
chờ giúp. Một bên ra sức giúp, một bên ra sức làm. Giúp nhau thì việc gì cùng nhất định làm
được”[55, tr.227].
Trong quá trình xây dựng khối ĐĐKDT, Hồ Chí Minh cũng nhận thấy những tư tưởng,
biểu hiện sai trái gây ảnh hưởng tới quá trình ĐĐKDT. Đó là những thành kiến, tư tưởng dân tộc
lớn, dân tộc nhỏ trong quan hệ giữa các dân tộc. Người cho rằng, sự thành kiến về thành phần
dân tộc của nhau là biểu hiện tư tưởng lạc hậu, cổ hủ đã ngăn trở việc thực hiện ĐĐKDT, ngăn
cản sự phát triển về kinh tế, văn hoá trong đời sống của đồng bào các dân tộc. Người chỉ rõ:
“Các dân tộc anh em chúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hoá của mình thì chúng ta phải
tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như
anh em một nhà”.
cho anh B” và “phê bình và tự phê bình phải từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Phê bình trên công tác
cách mạng, phê bình để tiến bộ, không phải để xoi mói”[49, tr.366].
Để có đoàn kết thực sự, ngoài việc phê bình đúng người, đúng việc, theo Hồ Chí Minh,
người đi phê bình phải có nhân cách tốt, phẩm chất tốt và điều rất quan trọng nữa là phải có cái
tâm trong sáng, chân thành trong tư tưởng. Nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của
Đảng lần thứ 6 ngày 18/1/1949, Người nhắc nhở: “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng
tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích,
cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên ta phải thật thà đoàn kết. Muốn đi tới
mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”[44, tr.552].
Trong tư duy của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, chúng ta dễ dàng nhận thấy, điều làm
cho Người quan tâm hàng đầu là vấn đề đoàn kết trong Đảng. Đảng phải đoàn kết nhất trí cao độ
giữa các đảng viên cũng như trong toàn Đảng, thực hành dân chủ rộng rãi để xứng đáng là hạt
nhân đoàn kết cho toàn dân tộc, đủ sức tập hợp quanh mình để cùng thực hiện thắng lợi mục
tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong di chúc trước lúc đi xa, Người không quên căn dặn Đảng ta:
“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quí báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung
ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của
mắt mình”[61, tr.510].
Đó là một số yêu cầu cơ bản trong tư tưởng ĐĐKDT Hồ Chí Minh. Thực hiện theo
những lời chỉ bảo của Người, toàn Đảng, toàn dân ta đã đoàn kết nhất trí, cố kết, gắn bó toàn
dân tộc trong khối ĐĐKDT tạo sức mạnh to lớn đưa con thuyền cách mạng tới thắng lợi vẻ
vang.
Nghiên cứu tư tưởng ĐĐKDT Hồ Chí Minh chúng ta thấy chủ trương đại đoàn kết của
Người không phải nhất thời, từng giai đoạn mà là vấn đề lâu dài, xuyên suốt trong toàn bộ sự
nghiệp cách mạng. Đoàn kết một cách chân thành, thực sự, có đấu tranh để sự đoàn kết được
ngày càng bền chặt. Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, vấn đề đoàn kết không
chỉ bằng lời nói, sự tuyên truyền, mà quan trọng hơn là được thể hiện bằng những hành động
thực tế. Người là tấm gương và là sự hiện thân của khối ĐĐKDT, là trung tâm đoàn kết, quy tập
mọi lực lượng, thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo. .. trong Mặt trận dân tộc thống nhất để
quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Cán bộ chiến sĩ trong quân đội ta từ vị tướng đến người binh
nhì, được toàn dân yêu mến, khen tặng danh hiệu cao quý vừa giản dị, vừa gần gũi thân thương:
“Bộ đội Cụ Hồ”. Trong gian lao khói lửa chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng đất nước,