1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt trong thập kỷ cuối cùng
của thế kỷ XX, quan hệ kinh tế quốc tế đã có nhiều thay đổi trên cả phương
diện tư duy lý luận lẫn thực tiễn. Hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện
chính sách mở cửa, thúc đẩy thương mại và đầu tư nước ngoài phát triển.
Đồng thời, tăng trưởng kinh tế của phần lớn các quốc gia trên thế giới ngày
càng phụ thuộc vào thương mại quốc tế. Đặc biệt, từ đầu những năm 1980
đến nay, nhiều nước đang phát triển đã chuyển chiến lược công nghiệp hóa từ
thay thế nhập khẩu sang mở cửa, hướng ngoại và thúc đẩy xuất khẩu. Những
thực tế này về cơ bản đều bắt nguồn từ những thay đổi chủ yếu trong nhận
thức về vai trò của các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và ngoại thương nói
riêng đối với phát triển kinh tế.
Ngay từ thập kỷ 80, Trung Quốc đã nổi lên như là một quốc gia thương
mại năng động nhất trên thế giới, bất chấp các thách thức trong quá trình mở
cửa nền kinh tế ra thế giới bên ngoài. Chính sách tự lực cách sinh theo tư tưởng
của chủ nghĩa Mao đã nhường chỗ cho chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước
ngoài, xây dựng các đặc khu chế xuất ven biển, khuyến khích phát triển ngoại
thương và sử dụng các khoản vay của nước ngoài để mở rộng đầu tư và đổi
mới kỹ thuật. Kết quả là, kim ngạch xuất nhập khẩu, vốn đầu tư nước ngoài
và tổng sản phẩm quốc nội đều tăng trưởng với tốc độ cao chưa từng có trong
nhiều năm liên tục. Điều này đã và đang mang lại cho Trung Quốc nhiều lợi
ích trước mắt và lâu dài, nhưng cũng đặt những thách thức to lớn đòi hỏi nền
kinh tế phải được điều chỉnh về mặt cơ cấu trong hàng loạt lĩnh vực như nông
nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ viễn thông, công nghiệp sản xuất ô tô...
Những bài học thành công và thất bại của Trung Quốc sẽ góp phần
làm rõ hơn lý thuyết về vai trò của ngoại thương với phát triển kinh tế, đồng
Lý Thành Luân: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc 1996-
3
2050; Lưu Lực: Toàn cầu hóa kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu...
Những công trình này chủ yếu nghiên cứu tác động của các chính sách cải
cách và mở cửa đến sự phát triển của ngoại thương và kinh tế Trung Quốc, mà
chưa trực tiếp bàn đến vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế
Trung Quốc.
Về vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế của Trung Quốc
từ khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, đặc biệt từ khi nền
kinh tế được cải cách và mở cửa đến nay, có rất nhiều bài nghiên cứu hết sức
công phu và có giá trị to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn. Một phần trong số những
bài viết này đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho luận án. Tuy nhiên,
mỗi bài viết nêu trên thường chỉ tập trung tìm hiểu vai trò của ngoại thương đối
với một, hoặc một vài khía cạnh cụ thể của phát triển kinh tế như: tăng
trưởng, cơ cấu ngành, cơ cấu sở hữu, cán cân thanh toán, việc làm, phân phối
thu nhập... trong một giai đoạn cụ thể của tiến trình phát triển kinh tế Trung
Quốc.
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và
hệ thống vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế của Trung Quốc
trong thời kỳ cải cách, mở cửa nền kinh tế. Đặc biệt, chưa có công trình nghiên
cứu nào của các học giả Việt Nam về vấn đề này nhằm góp phần vào tiến
trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế của nước ta. Vì vậy, có thể nói đề tài của
luận án là hoàn toàn mới mẻ.
3. Mục đích và đối tượng nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là: (1) Khái quát những lý thuyết về
vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế trong điều kiện của các
nước đang phát triển và phân tích vai trò của ngoại thương trong một số chiến
thương đối với phát triển kinh tế Trung Quốc từ khi cải cách, mở cửa đến nay.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp thống kê kinh tế, tổng hợp thực
tiễn, kết hợp với phân tích so sánh để minh họa cho các luận điểm, rút ra các
nhận xét và tạo cơ sở cho các dự báo về triển vọng phát triển kinh tế. Ngày
5
nay, các vấn đề kinh tế thường chịu tác động của các quan điểm chính trị. Do
đó, luận án còn tiếp cận về chính trị và thể chế để làm sáng tỏ vấn đề nghiên
cứu.
6. Đóng góp của luận án
Thông qua nhận thức về vai trò của ngoại thương đối với phát triển
kinh tế của Trung Quốc từ khi cải cách và mở cửa đến nay, luận án có những
đóng góp mới cơ bản sau:
- Đưa ra một trường hợp nghiên cứu cụ thể, trên cơ sở đó làm rõ hơn
lý thuyết về vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế trong điều kiện
của các nước đang phát triển và trong một số chiến lược chủ yếu nhằm phát
triển kinh tế.
- Nêu lên một kinh nghiệm quốc tế cập nhật, nóng hổi về vai trò của
ngoại thương đối với phát triển kinh tế và một số gợi ý, khuyến nghị cho việc
hoạch định các chủ trương chính sách phát triển ngoại thương và kinh tế Việt
Nam trong tiến trình đổi mới và mở cửa.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của ngoại thương đối
với phát triển kinh tế Trung Quốc.
Chương 2: Ngoại thương qua các giai đoạn cải cách và mở cửa nền
kinh tế Trung Quốc.
Để nghiên cứu cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa ngoại thương với
tăng trưởng và phát triển kinh tế, trước hết cần hiểu rõ một số khái niệm cơ
7
bản như: ngoại thương, tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế và một số khái
niệm khác trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và quan hệ kinh tế quốc tế.
1.1.1. Ngoại thương
Ngoại thương hiểu theo nghĩa phổ biến nhất là phạm trù kinh tế phản
ánh sự trao đổi hàng hóa giữa nước này với nước khác thông qua các hoạt
động bán và mua (gọi là xuất khẩu - nhập khẩu) [57].
Hai điều kiện tiền đề sinh ra ngoại thương là:
- Sự tồn tại, phát triển của kinh tế hàng hóa và tư bản thương nghiệp.
- Sự hình thành nhà nước và sự phát triển phân công lao động quốc tế
giữa các nước.
Trong lịch sử phát triển kinh tế, ngoại thương đã xuất hiện từ các thời
đại cổ xưa, dưới chế độ Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Lúc này, do kinh tế tự nhiên,
tự cấp tự túc còn chiếm địa vị thống trị, nên ngoại thương chỉ được thực hiện với
quy mô rất nhỏ, hẹp. Lưu thông hàng hóa quốc tế chỉ chiếm một phần nhỏ tổng
sản phẩm và chủ yếu để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân của giai cấp thống trị
đương thời. Chỉ đến thời đại tư bản chủ nghĩa, ngoại thương mới phát triển rộng
rãi và trở thành động lực phát triển quan trọng của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Đó là do sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa phát triển với quy mô
ngày càng lớn và mục đích là không ngừng tăng lợi nhuận. Nếu như thời kỳ đầu,
ở các thế kỷ 16 - 17 tham gia vào thương mại quốc tế chỉ có số ít các nước tư
bản chủ nghĩa phát triển, dần dần do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất và xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới, ngày càng có nhiều nước ở
nhiều trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thuộc nhiều khu vực lãnh
trình độ phát triển hiện có.
1.1.4. Các chỉ số thể hiện vai trò của ngoại thương đối với tăng
trưởng kinh tế
9
Hoạt động xuất nhập khẩu góp phần làm thay đổi các chỉ số cơ bản về
tăng trưởng kinh tế như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc
dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI). Vì lí do này, nhiều quốc gia trên
thế giới đã sử dụng các chỉ số dưới đây để thể hiện mức độ mở cửa của nền kinh
tế và vai trò của ngoại thương đối với phát triển kinh tế. Đó là các chỉ số về tỉ
lệ phần trăm của: tổng kim ngạch xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội
(XK/ GDP), tổng kim ngạch nhập khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội (NK/
GDP), tổng kim ngạch xuất khẩu trong tổng thu nhập quốc gia (XK/ GNI),
tổng kim ngạch nhập khẩu trong tổng thu nhập quốc gia (XK/ GNI). Trong
các trường hợp cán cân thương mại có khả năng đạt mức cân bằng, các chỉ số
như (XK+NK)/ 2 GDP, (XK + NK)/ 2 GNI cũng được dùng để thể hiện vai
trò của ngoại thương đối với tăng trưởng kinh tế.
Các nước đang phát triển thường có cán cân thương mại âm (-) do
nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu. Vì vậy, ở các nước này chỉ số NK/GDP
thường lớn hơn chỉ số XK/GDP. Điều này không cho phép sử dụng các chỉ số
(XK + NK)/2 GDP, (XK + NK)/ 2 GNI, mà buộc phải sử dụng các chỉ số
XK/ GDP), NK/ GDP, XK/ GNI), XK/ GNI.
Do mức độ mở cửa còn hạn chế nên ở các nước đang phát triển giữa
các chỉ số GDP, GNP và GNI chưa có khác biệt lớn về lượng tuyệt đối. Để đơn
giản cách tính toán và áp dụng các chỉ số nói trên, nhiều quốc gia đã thống
nhất: mức độ mở cửa của một nền kinh tế được tính bằng tỉ lệ phần trăm (%)
của tổng kim ngạch xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia đó
(XK / GDP). Kinh nghiệp phát triển nền kinh tế mở cửa các nước cho thấy:
Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào cuối thế kỷ thứ XV, phản ánh nhu
cầu tích lũy tiền tệ và mở rộng thị trường của các nước Tây Âu trong thời kỳ
chế độ phong kiến tan rã và sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời. Các nhà kinh tế
học trọng thương rất coi trọng tiền tệ và thương nghiệp, đặc biệt là ngoại
thương. Họ cho rằng, ngoài việc khai thác mỏ để lấy vàng, ngoại thương là
nguồn duy nhất để tăng thêm của cải. Do vậy, để tăng thêm của cải của đất
nước, nhà nước phải khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Chủ nghĩa
trọng thương phát triển mạnh vào thế kỷ 16 và 17 với tác phẩm tiêu biểu của
Thomas Mun nhan đề "Sự giàu có của nước Anh là do buôn bán với nước
ngoài" [109, tr. 24-53].
Quan điểm đề cao vai trò của ngoại thương đã có những đóng góp tích
cực cho sự phát triển của kinh tế thế giới trong giai đoạn tư bản thương
nghiệp xuất hiện, trở thành hình thái tồn tại tự do đầu tiên của tư bản nói
11
chung. Lúc này, nhu cầu tích lũy nguyên thủy của tư bản trở nên bức bách
hơn mọi nhu cầu khác.
Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng thương còn nhiều hạn chế như: chưa thấy
được nguồn gốc thực sự của của cải bắt nguồn từ lao động và các quốc gia
không thể đồng thời cùng đạt được số dư thương mại. Một quốc gia xuất khẩu
nhiều hơn nhập khẩu chắc chắn sẽ khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác phải
nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu. Vì vậy, các nhà trọng thương chủ nghĩa đã
biện hộ cho việc quản lý nghiêm ngặt của nhà nước về tất cả các hoạt động
kinh tế, đồng thời tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc về kinh tế và luôn luôn
tin tưởng rằng một dân tộc chỉ có thể đạt được lợi ích trong ngoại thương khi
có một hoặc một số dân tộc khác bị mất đi lợi ích đó. Ngày nay, khi nhiều
nước đang tìm cách hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ và thúc đẩy sản xuất
trong nước thì chủ nghĩa trọng thương đã bắt đầu xuất hiện trở lại ở một số
nay khi nhiều quốc gia vẫn đang áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tự do
thương mại. Các biện pháp này được sự ủng hộ của một số ngành nghề trong
nước đang chịu sự cạnh tranh của các hàng hóa nhập khẩu, nhưng lại khiến
nhiều người phải mua hàng hóa được sản xuất trong nước với giá cao hơn so
với các hàng hóa được nhập khẩu tự do. Nói cách khác, quan điểm của Adam
Smith về lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần quan hệ buôn bán hiện
nay trên thế giới. Đó là quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang
phát triển. Hầu hết các quan hệ buôn bán trên thế giới, đặc biệt là quan hệ
giữa các nước phát triển, đều không thể giải thích được bằng quan điểm này.
1.2.3. Thương mại dựa trên lợi thế so sánh: Quan điểm của Ricardo
Năm 1817 Ricardo [77] cho xuất bản tác phẩm của ông nhan đề "Các
nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế", trong đó ông trình bày các quy luật
về lợi thế so sánh. Đây là một trong các quy luật quan trọng nhất của kinh tế
học. Theo quy luật này, thậm chí một nước kém hiệu quả hơn so với một
nước khác trong việc sản xuất các loại hàng hóa, nước đó vẫn có lợi trong
quan hệ buôn bán với nước thứ hai. Quốc gia này nên tập trung vào việc sản
13
xuất và xuất khẩu loại hàng hóa có bất lợi tuyệt đối ít hơn và nhập khẩu hàng
hóa có bất lợi tuyệt đối lớn hơn.
Năm 1951 và 1952 mô hình ngoại thương của Ricardo lần đầu tiên đã
được MacDougall kiểm nghiệm lại bằng cách so sánh một số ngành của Mỹ
với những ngành tương tự của Anh trong năm 1937. Kết quả cho thấy, ngành
nào có năng suất lao động cao hơn sẽ có tỉ lệ hàng xuất khẩu lớn hơn. Kết
luận này đã được Balassa và Stern khẳng định lại một lần nữa bằng những
kiểm nghiệm mới có sử dụng các số liệu của năm 1950 và 1959.
Lý thuyết về lợi thế so sánh khuyên các quốc gia phải tính toán hiệu
quả kinh tế trước khi quyết định phát triển một mặt hàng nào đó. Tuy nhiên,
giá cả của các hàng hóa trong nước. Như vậy, cơ sở của ngoại thương không
phải là sự khác biệt về năng suất lao động giữa các nước, mà là sự khác biệt về
các yếu tố sản xuất sẵn có ở mỗi nước. Sự khác biệt đó đã dẫn đến sự khác
biệt giữa các nước về giá cả của cùng một yếu tố sản xuất, cũng như của cùng
một loại hàng hóa nào đó. Trong việc sản xuất những hàng hóa cần sử dụng
nhiều lao động, các nước có nguồn lao động dồi dào sẽ có lợi thế hơn về giá
thành so với các nước khan hiếm lao động. Vì vậy, những nước có ưu thế về
lao động nên chuyên vào việc sản xuất các sản phẩm cần sử dụng nhiều lao
động, sau đó xuất khẩu một phần sản phẩm được sản xuất ra. Đồng thời nhập
khẩu các hàng hóa đòi hỏi sử dụng nhiều vốn hơn (tức là các hàng hóa đòi hỏi
sử dụng nhiều hơn các yếu tố sản xuất như đất đai và máy móc, thiết bị). Trái
lại, những quốc gia có nguồn vốn dồi dào sẽ có lợi thế về giá thành trong việc
sản xuất các sản phẩm đòi hỏi nhiều vốn hơn so với lao động. Những quốc gia
này sẽ có lợi nếu họ chuyên vào việc sản xuất các sản phẩm chế tạo đòi hỏi
nhiều vốn, sau đó xuất khẩu một phần sản phẩm làm ra, đồng thời nhập khẩu
sản phẩm cần nhiều lao động từ các nước có lao động rẻ. Ở đây, ngoại thương
đã trở thành phương tiện để một quốc gia có thể phát huy được lợi thế về
những nguồn lực sẵn có bằng cách tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu
các sản phẩm đòi hỏi nhiều nguồn lực sẵn có đó, đồng thời giảm bớt tình
15
trạng thiếu những nguồn lực khan hiếm, bằng cách nhập khẩu các hàng hóa
đòi hỏi phải sử dụng một lượng lớn các nguồn lực khan hiếm đó mới có thể
sản xuất được.
Tóm lại, lý thuyết tân cổ điển đã dựa trên hai tiền đề quan trọng.
Một là, các sản phẩm khác nhau đòi hỏi các yếu tố sản xuất phải được
kết hợp theo những tỉ lệ tương đối khác nhau. Thí dụ, tỉ lệ lao động trên vốn
của các sản phẩm nông nghiệp thường lớn hơn so với tỉ lệ đó của các sản
xuất đó sẽ càng lớn. Vì vậy, chuyên môn hóa một cách tuyệt đối sẽ không
diễn ra trên thực tế giống như đã được mô tả trong mô hình lý thuyết về lợi
thế so sánh.
Thứ hai, giả định các nước trên thế giới có trình độ kỹ thuật sản xuất
như nhau, khi đó sự ngang bằng giữa tỉ giá hàng hóa trong nước và tỉ giá hàng
hóa được mua bán tự do trên thế giới sẽ có xu hướng tạo ra sự ngang bằng
giữa các nước về giá cả của các yếu tố sản xuất. Thí dụ, trong các nước có ưu
thế về lao động, tiền lương sẽ tăng lên nếu càng ngày càng cần thêm lao động
để sản xuất thêm các sản phẩm nông nghiệp. Trong khi đó giá cả của các yếu
tố như đất đai và máy móc thiết bị sẽ ngày càng giảm xuống, cùng với sự
giảm xuống của việc sản xuất các sản phẩm chế tạo. Trái lại, trong các nước
có ưu thế về vốn, giá cả của các yếu tố sản xuất như đất đai và máy móc thiết
bị sẽ tăng lên khi chúng được huy động với số lượng ngày càng lớn vào việc
sản xuất các sản phẩm chế tạo.
Với những kết luận trên đây, lý thuyết tân cổ điển đã tiên đoán rằng:
mức tiền lương thực tế và các mức chi phí sản xuất khác sẽ có xu hướng
ngang bằng giữa các nước trên thế giới. Đây cũng là một trong những nhược
điểm lớn nhất của lý thuyết này, vì những gì đang diễn ra trên thực tế hoàn
toàn trái ngược với những lời tiên đoán đó.
17
Thứ ba, lý thuyết tân cổ điển tiên đoán: Ngoại thương sẽ góp phần cải
thiện bất bình đẳng về thu nhập trong mỗi quốc gia. Lí do là, ngoại thương đã
tạo điều kiện để các nguồn lực sẵn có được sử dụng nhiều hơn. Nhờ đó thu
nhập của những người chủ các nguồn lực sẵn có sẽ tăng lên nhanh hơn so với
thu nhập của những người chủ các nguồn lực khan hiếm. Thí dụ, trong các
nước đang phát triển, nơi mà lao động được coi là nguồn lực sẵn có, thu nhập
của người lao động sẽ tăng lên nhanh hơn so với thu nhập của những người
(1) Hạt nhân của toàn bộ lý thuyết truyền thống về ngoại thương và tài
chính là giả thiết cho rằng, nguồn lực của mỗi quốc gia là cố định về số lượng
và không khác nhau về chất lượng. Chúng được huy động một cách đầy đủ và
có tác dụng như nhau trong việc sản xuất các sản phẩm giống nhau. Trong khi
đó trên thực tế, các yếu tố sản xuất luôn thay đổi cả về số lượng lẫn chất lượng.
(2) Giả thiết cho rằng, không có các dòng chảy của các yếu tố sản xuất
từ nước này sang nước khác. Điều này không phản ánh các quá trình chu
chuyển vốn giữa các nước phương Tây thế kỷ 19 và sự ra đời của các tổ chức
đa quốc gia khổng lồ trong hai thập kỷ qua.
(3) Giả thiết cho rằng, giữa các quốc gia không có sự khác biệt về kỹ
thuật sản xuất là hoàn toàn không đúng, vì trên thực tế các nước phát triển
đang là chủ sở hữu của hầu hết các kỹ thuật sản xuất tiên tiến và điều này đã
ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương của nhiều quốc gia đang
phát triển. Chẳng hạn, hơn 20 năm qua các vật liệu thay thế cho các sản phẩm
tự nhiên như cao su, gỗ, bông, đay, da... đã được sản xuất với số lượng ngày
càng tăng. Điều này khiến cho thị phần của các nước đang phát triển về các
sản phẩm tự nhiên đã giảm xuống đáng kể.
(4) Giả thiết cho rằng, các quốc gia có thể điều chỉnh cơ cấu kinh tế
phù hợp với những thay đổi về thị trường và giá cả trên thế giới là một điều
rất khó thực hiện trên thực tế, đặc biệt là trong các nền kinh tế đang phát triển.
Thật vậy, đa số các nền kinh tế đang phát triển là những nền kinh tế bị phụ
19
thuộc nhiều vào việc xuất khẩu một số sản phẩm thô. Ở đây, phần lớn các
khoản vốn đều được đầu tư vào các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu (như các
đồn điền và các nông trang nhỏ vừa sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm) và cơ sở
hạ tầng (bao gồm đường bộ, đường sắt, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống
điện, nước, ngân hàng... được xây dựng nhằm phục vụ các hoạt động xuất
sử, các nước đang phát triển đã xuất khẩu nhiều nguyên, nhiên, vật liệu thô
sang các nước phát triển (và hầu hết các hàng hóa này được sản xuất tại
những cơ sở sản xuất của người nước ngoài), đồng thời nhập khẩu các sản
phẩm chế tạo. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phụ thuộc của các nước
thuộc địa vào các nước chính quốc. Những người theo chủ nghĩa cấp tiến như
Colman, Nixon (1986) và Palma (1978) chứng minh rằng: Tình trạng phụ thuộc
này đã làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong các nước đang phát triển.
1.3. VAI TRÒ CỦA NGOẠI THƯƠNG TRONG MỘT SỐ CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới trong nhiều thập niên vừa qua
luôn đứng trước câu hỏi là nên phát triển kinh tế hướng nội (công nghiệp hóa
hướng nội) hay phát triển kinh tế hướng ngoại (công nghiệp hóa hướng
ngoại). Liên quan trực tiếp đến hai kiểu mô hình này là các chiến lược ngoại
thương khác nhau. Đó là: thay thế nhập khẩu, xuất khẩu sản phẩm thô và sơ
chế, công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và chiến lược phát triển hỗn hợp
mà thực chất chính là sự kết hợp của hai hay cả ba loại chiến lược đó. Từng
chiến lược có nội dung và tác động khác nhau đến tăng trưởng và phát triển
kinh tế của các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước đang phát triển.
1.3.1. Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu
Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước mới giành
được độc lập như Áchentina, Braxin, Ấn Độ, Keynia, Malawi, Mêhico và
Pakistan đã thực hiện chủ trương công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Vì
21
nhiều lý do kinh tế và chính trị, trong suốt hai thập kỷ sau đó chủ trương thay
thế nhập khẩu tiếp tục được áp dụng ở nhiều quốc gia và đến giữa thập kỷ 60,
đã trở thành chính sách phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển.
quả. Ngoài lạm phát và thâm hụt ngày càng tăng trong cán cân thanh toán,
việc bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ đã khiến nhiều quốc gia hoàn toàn
không có khả năng đối mặt với sự cạnh tranh trên thế giới .
Vào đầu những năm 1970, thế giới nhận thấy một cách rõ ràng rằng,
các nền kinh tế đang áp dụng các chính sách khuyến khích xuất khẩu và hướng
ngoại đã có tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn so với các nền kinh tế chủ trương
hạn chế ngoại thương và phát triển các ngành công nghiệp trong nước để thay
thế nhập khẩu. Trong thời gian này, rất nhiều các công trình nghiên cứu đã chỉ
ra những hạn chế chiến lược thay thế nhập khẩu, đồng thời chứng minh vai
trò tích cực của các chính sách khuyến khích xuất khẩu.
Một số người lúc đầu tích cực ủng hộ chủ trương thay thế nhập khẩu
cũng đã tự nhận thấy hạn chế của chủ trương này (Germell, 1987). Quan điểm
phê phán chủ trương công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã được các học giả
như Bruton (1970), Baer (1972), Sutcliffe (1971) Gonges (1976) và Nixon
(1982) nêu ra và phát triển. Sau khi phát triển các lập luận về ngoại thương,
các học giả này đã đưa ra nhiều dẫn chứng cho thấy: ở các nước như Ấn Độ,
Trung Quốc sự can thiệp quá mức của chính phủ vào nền kinh tế thông qua
chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu trong một thời gian dài đã kìm
hãm sự phát triển của hệ thống công nghiệp mang tính cạnh tranh và hiệu quả.
Trong khi đó, chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu và các biện
pháp khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân được áp dụng ở các
nước như Hàn Quốc và các con rồng Đông Á khác đã mang lại các thành tựu
kinh tế to lớn.
Có thể kể ra dưới đây một số hạn chế thường gặp trong quá trình thực
hiện chủ trương thay thế nhập khẩu. Vì có hoàn cảnh riêng về địa lý, kinh tế,
chính trị, xã hội, đồng thời kết hợp các công cụ chính sách theo một cách
23
24
thuộc vào nhập khẩu, mà thậm chí còn bị phụ thuộc nhiều hơn khi việc làm
cho người lao động cũng bị phụ thuộc vào đó.
Thứ tư, chủ trương thay thế nhập khẩu đã khiến các nhà lập kế hoạch
phải miễn cưỡng chấp nhận chi phí cao để sản xuất tư liệu sản xuất và những
sản phẩm hàng hóa được coi là cần thiết cho tiến trình phát triển. Chi phí cao
trong sản xuất gắn liền với mức độ bảo hộ cao đã khiến cho một số ngành sản
xuất không thể tiếp tục hoạt động được. Có thể nhận thấy giữa các nước áp
dụng chính sách thay thế nhập khẩu và các nước chủ trương khuyến khích
ngoại thương có sự khác nhau rõ ràng về tỉ lệ vốn trên một đơn vị sản phẩm.
Trong giai đoạn 1960 – 1973 tỉ lệ này vào khoảng từ 1,7 đến 2,5 trong các
nước như Hàn Quốc, Singarpore và Đài Loan. Trong khi đó tỷ lệ này vào
khoảng từ 5,5 đến 5,7 trong các nước như Chi Lê và Ấn Độ. Nền kinh tế
Braxin, nhờ có thay đổi ít nhiều về chiến lược ngoại thương nên tỉ lệ vốn trên
một đơn vị sản phẩm đã giảm từ 3,8 trong giai đoạn 1960 – 1966 xuống 2,7
trong giai đoạn 1966 - 1973 [108].
Thứ năm, chủ trương thay thế nhập khẩu đã hạn chế việc nhập khẩu
máy móc, thiết bị cần thiết cho các hoạt động xuất khẩu. Trong hoàn cảnh đó,
quy mô của thị trường hàng tiêu dùng ở các nước nhỏ không thể vượt quá
phạm vi quốc gia. Kết quả là: (a) các cơ sở sản xuất cũng có quy mô nhỏ tới
mức phi kinh tế. Nói cách khác, chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm rất
cao. Ví dụ, người ta ước tính rằng số lượng sản phẩm tối ưu của một nhà máy
sản xuất ô tô vào khoảng 200 ngàn xe một năm. Trong khi đó ở Ấn Độ nhà máy
ô tô lớn nhất cũng chỉ có thể sản xuất được không quá 30 ngàn xe một năm.
Điều này khiến chi phí trên một đơn vị sản phẩm của nhà máy nói trên đã cao
hơn gấp 3 lần so với chi phí sản xuất ở những nhà máy có quy mô tối ưu [88].
(b) Chỉ cần một hoặc hai cơ sở sản xuất chuyên làm ra một loại sản phẩm
hàng hóa nào đó là đủ để cung cấp cho thị trường. Điều này khiến cho nền
đất nước, trong đó có cả các nhà quản lý và các công nhân kỹ thuật đã bị sử