Luận án tiến sĩ Kinh tế: Vai trò của Nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam - Pdf 58

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐINH VĂN TRUNG

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2018


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐINH VĂN TRUNG

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62.31.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án với đề tài "Vai trò của Nhà nước trong tái

150
KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢI ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
152
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

153


DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Trang
Bảng 3.1:

So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua các năm

68

Bảng 3.2:

Tỷ trọng lĩnh vực kinh tế trong GDP

69

Bảng 3.3:

Thâm hụt ngân sách và nợ công

79


Hình 3.5:

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo khu vực kinh tế

72

Hình 3.6:

Mức tăng năng suất lao động của Việt Nam qua các năm

80


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
ấn tượng. Từ nền kinh tế có trình độ lạc hậu, yếu kém, trì trệ, khủng hoảng, Việt
Nam đã dần hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ
cấu nền kinh tế tiến bộ, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực, có khả năng hội
nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đó, nền kinh tế Việt Nam
vẫn có nhiều khiếm khuyết, gặp nhiều khó khăn do những nguyên nhân chủ quan,
khách quan, đã tạo ra một số khủng hoảng, bất ổn ở những phạm vi, lĩnh vực nhất
định của nền kinh tế.
Đặc biệt, từ cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
thế giới tác động mạnh mẽ làm nền kinh tế Việt Nam bộ lộ rõ hơn những khiếm
khuyết, gây bất ổn ở phạm vi rộng, gây hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng tới toàn bộ
nền kinh tế. Ở cấp độ vĩ mô, tốc độ tăng trưởng suy giảm, lạm phát tăng cao, sản

xuất và sức cạnh tranh cho hệ thống doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói
chung. Tiến độ cổ phần hóa chậm, tỷ lệ vốn được cổ phần hóa thấp. Hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực được nắm giữ, có
những vi phạm gây thất thoát, lãng phí lớn tại một số doanh nghiệp nhà nước trọng
điểm. Doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Nếu xem xét hiệu quả hoạt động tái cơ cấu với các tiêu chí đo lường như
hiệu quả đầu tư, năng suất lao động, chỉ số ứng dụng và phát triển khoa học công
nghệ, chỉ số cạnh tranh, mức độ tín nhiệm, mức độ minh bạch, hiệu quả của nền
kinh tế…thì nền kinh tế Việt Nam vẫn còn ở mức độ và trình độ phát triển thấp,
chưa có chuyển biến tích cực, thậm chí có những tiêu chí bị thụt lùi. Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhận định:
Chất lượng tăng trưởng một số mặt còn thấp, cải thiện còn chậm; năng
suất nhiều ngành, lĩnh vực còn thấp; công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc
hậu. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng còn
hạn chế, hệ số sử dụng vốn còn cao. Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa
được cải thiện, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi mới
công nghệ [18, tr.247].
Đánh giá về tái cơ cấu nền kinh tế, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
của Đảng nhận xét: "Nợ xấu đang giảm dần nhưng vẫn còn ở mức cao, nợ công tăng
nhanh. Tình trạng đầu tư công dàn trải, thất thoát, lãng phí chậm được khắc phục.
Việc xây dựng và thực hiện đề án cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế thiếu đồng bộ,
chưa thật sự gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, kết quả còn hạn chế" [18, tr.85].
Điều đó cho thấy tái cơ cấu nền kinh tế thời gian qua vẫn còn những hạn chế và
chưa đạt được hiệu quả mong muốn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên trong đó có vai trò của nhà
nước. Việc nhà nước chưa phát huy hết vai trò trong tái cơ cấu nền kinh tế giai
đoạn vừa qua đã làm giảm hiệu quả hoạt động tái cơ cấu. Ngoài việc phát động
chủ trương, đưa ra đường lối chính sách, nhà nước chưa phát huy hết vai trò của



Để thực hiện tốt việc tái cơ cấu, Đảng, Nhà nước phải xác định được cơ sở lý
luận và những quan điểm cơ bản, những hướng triển khai trọng tâm, cốt lõi định
hướng cho quá trình tái cơ cấu, tạo sự thống nhất trong nhận thức, sự tập trung cao
trong hành động. Về lâu dài, phải xác định chính xác, đầy đủ vai trò, trách nhiệm
của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế. Từ đó nhà nước xác định chính xác đối
tượng, nội dung, phương pháp tái cơ cấu, lấy khâu sản xuất, lấy lực lượng sản xuất


4

làm đối tượng chính trong tái cơ cấu nền kinh tế, qua đó nâng cao năng lực sản xuất
của nền kinh tế. Đây mới là vai trò, nội dung cơ bản mà nhà nước phải hướng tới
trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam.
Việc nhà nước chưa xác định và chưa phát huy hết vai trò của mình trong
hoạt động tái cơ cấu giai đoạn 2011 - 2017 vừa qua có thể coi là một nguyên nhân
quan trọng dẫn đến những tồn tại, hạn chế, ảnh hưởng tới hiệu quả tái cơ cấu nền
kinh tế. Từ thực tiễn và lý luận đó, việc nghiên cứu làm rõ vai trò của nhà nước
trong tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn hiện nay là điều cần thiết, có giá trị
hữu ích. Vì vậy, đề tài "Vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt
Nam" được nghiên cứu sinh chọn để nghiên cứu và làm luận án tiến sĩ kinh tế,
chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, đánh giá vai trò của nhà nước
trong tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam thời gian qua. Từ đó, luận án đề xuất những
phương hướng, giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của nhà nước trong tái cơ
cấu nền kinh tế Việt Nam từ nay đến năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan
đến luận án để có thể kế thừa hoặc phát triển những kết quả đó. Đồng thời xác định

năm 2030.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án sử dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước về vấn đề quản lý, điều hành kinh tế, về chủ trương,
giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn hiện nay. Đồng thời, luận án
cũng sử dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận của các nhà kinh tế khác cũng như
các lý thuyết về vai trò của nhà nước trong quản lý, điều hành nền kinh tế nói
chung, trong tái cơ cấu nền kinh tế nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
phương pháp trừu tượng hóa khoa học kết hợp với các phương pháp nghiên cứu
định lượng và định tính gồm:
- Phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê nhằm
khôi phục hệ thống thông tin, dữ liệu tái cơ cấu trong nền kinh tế theo thời gian.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm phân tích làm rõ những nội dung
nghiên cứu của luận án. Tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia, kế thừa, tham
khảo các công trình nghiên cứu, số liệu điều tra, tổng kết thực tiễn của các cá nhân,
tổ chức về những nội dung có liên quan đến luận án.
- Các phương pháp chuyên gia, hội thảo, thảo luận nhóm, phương pháp đối
chiếu so sánh, phương pháp phỏng vấn... nhằm thu thập số liệu, thông tin từ các
chuyên gia trong các lĩnh vực kinh tế, những kinh nghiệm thực tiễn, tổng kết thực


6

tiễn, những trải nghiệm của các chuyên gia về vấn đề nghiên cứu. Qua đó luận án sẽ
thu được những thông tin, những yếu tố liên quan tới nội dung nghiên cứu.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã tổng hợp và đưa ra hai khái niệm cơ bản là cơ cấu nền kinh tế

7

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
Cơ cấu nền kinh tế chỉ được nhận diện và trở thành đối tượng trực tiếp trong
hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước khi nó phát triển đủ để tạo thành tính chỉnh
thể của nền kinh tế. Đồng thời, năng lực quản lý, nhận thức của nhà nước về kinh tế
cũng đạt đến trình độ giới hạn nhất định. Trên thực tế, chỉ khi cơ cấu nền kinh tế
phát triển đến giới hạn nào đó, đạt được tính chỉnh thể cần thiết, nó mới biểu hiện rõ
nét tính cơ cấu và tạo ra những tác động mang tính đặc trưng của cơ cấu nền kinh tế
đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Lúc này, sự nhận biết về cơ cấu nền
kinh tế sẽ rõ ràng hơn, cần thiết hơn.
Từ đầu thế kỷ XX, những biến đổi kinh tế sâu sắc, đặc biệt là cuộc đại khủng
hoảng kinh tế 1929 - 1933 đã tạo ra điều kiện thực tiễn quan trọng để các nhà khoa
học nghiên cứu. Từ đó, cơ cấu nền kinh tế được nghiên cứu như một đối tượng
nghiên cứu độc lập trong đó, vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế cũng
được nghiên cứu và đề cập trực tiếp. Vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh
tế trở thành nội dung nghiên cứu trực tiếp cho những biến đổi kinh tế trên phạm vi
toàn cầu, phạm vi khu vực, trong toàn bộ nền kinh tế cũng như từng lĩnh vực, ngành
nghề kinh tế của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam. Dưới nhiều góc độ tiếp cận
khác nhau, có thể nêu một số công trình nghiên cứu liên quan sau:
1.1. CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1. Công trình nghiên cứu liên quan đến cơ cấu nền kinh tế và tái cơ
cấu nền kinh tế
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu về cơ cấu và tái cơ cấu kinh tế
có thể kể đến là Lester R. Brown (2001) đề cập đến công cụ tái cơ cấu nền kinh tế, Tổ
chức hợp tác kinh tế và phát triển OECD (2002) tái cơ cấu công nghiệp toàn cầu, Paul
Krugman (2008) đưa ra tổng hợp về tái cơ cấu nền kinh tế sau các cuộc khủng hoảng từ

Dani Rodrik [137]. Trong bài báo, các tác giả đề cập đến ba vấn đề là toàn cầu hóa,
biến đổi cơ cấu nền kinh tế và tăng trưởng sản xuất cùng mối liên hệ giữa chúng.
Các tác giả cũng đưa ra mô hình biến đổi cơ cấu nền kinh tế và tăng trưởng sản
xuất, xác định những đóng góp của cơ cấu nền kinh tế, giải thích cho những mô
hình cơ cấu nền kinh tế theo góc nhìn của toàn cầu hóa và tăng trưởng sản xuất. Nói
về sự biến đổi cơ cấu nền kinh tế, các tác giả kết luận: cơ cấu nền kinh tế thay đổi
giống như sự phát triển tự thân của nền kinh tế song không phải là một quá trình tự
động. Nó cần phải có một cú hích thích hợp, trực tiếp. Toàn cầu hóa không có khả
năng biến đổi cơ cấu nền kinh tế nhưng nó có khẳng năng tạo ra các giá trị, lợi ích
thúc đẩy điều này" [137, tr.27].
Bài báo "Structural Change, Globalization and Economic Growth in China and
India" (Biến đổi cơ cấu, toàn cầu hóa và tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ)
của Vittorio Valli, Donatella Saccone [144, tr.133-163]. Trong thời kỳ tăng trưởng


9

kinh tế nhanh chóng, Trung Quốc và Ấn Độ đã trải qua những biến đổi cơ cấu nền
kinh tế sâu sắc. Nội dung của bài báo là phân tích mối quan hệ giữa biến đổi cơ cấu,
quá trình toàn cầu hoá và tăng trưởng kinh tế ở hai quốc gia Châu Á lớn nhất này.
Bài báo "Economic Restructuring and the Role of SMEs in Singapore" (Tái
cơ cấu nền kinh tế và vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Singapore) của
Faizal bin Yahya và Chang Zhi Yang [147]. Sự thành công trong cơ cấu nền kinh tế
hiện tại của Singapore phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ để tự đổi mới mình. Nhà nước công nhận điều này và đã đề ra các chương
trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mục đích của bài báo này là xem
xét vai trò dự kiến của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế được tái cơ
cấu của Singapore và đánh giá liệu các chính sách và quy trình hiện tại đang tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi này có hiệu quả hay không. Tại phần
thứ ba của bài báo, hai tác giả nghiên cứu chi tiết hơn về tái cơ cấu nền kinh tế hiện

tr.150] và mười bài học trong thực hiện và quản lý hoạt động tái cơ cấu [103, tr.230].
1.1.2. Công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của nhà nước trong
tái cơ cấu nền kinh tế
Bàn về vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế, có rất nhiều tác phẩm kinh


12

điển của các nhà tư tưởng vĩ đại như Platon (427-347 TCN), Aristoteles (384-322
TCN), Francois Quesnay (1694-1774), Anne Robert Jaucques Turgot (1727-1781),
Wiliam Petty (1623-1687), Adam Smith (1723-1790), David Ricardo, C.Mác
(1818-1883), Ph.Ăng-ghen (1820-1895), Lênin (1870-1924), và nhiều nhà kinh tế
học nổi tiếng như John Maynard Keynes (1883-1946), Paul Anthony
Samuelson (1915-2009)… đề cập đến với những nội dung rất cơ bản, còn hiện hữu,
hữu ích đến ngày nay và nhiều năm sau nữa. Trong các tác phẩm của các tác giả
này, mặc dù không trực tiếp đề cập đến nội hàm tái cơ cấu nền kinh tế do điều kiện
nhận thức và thực tiễn ở mỗi thời kỳ lịch sử là khác nhau, song nhiều tác phẩm có
nội dung mà trong điều kiện nhận thức ngày nay, có thể nói, chúng như là đang đề
cập đến hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế và vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu
nền kinh tế ở những phương diện, lĩnh vực khác nhau.
Mặc dù có nhiều tác phẩm, tác giả nghiên cứu, đề cập ở nhiều khía cạnh
nhưng tổng kết chung của tất cả các công trình nghiên cứu đó đến giai đoạn hiện
nay, chỉ có hai tư tưởng lớn bao trùm và có sức ảnh hưởng sâu sắc, thể hiện vai trò
của nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu
nền kinh tế nói riêng. Theo dòng thời gian, tư tưởng tiêu biểu đầu tiên là lý thuyết
"Bàn tay vô hình" của nhà kinh tế học Adam Smith: thị trường là phương thức hữu
hiệu nhất của xã hội loài người trong điều tiết các hoạt động kinh tế. Do đó, thị
trường nên chiếm vị trí trung tâm và nhà nước chỉ nên đóng một vai trò tối thiểu
trong nền kinh tế. Theo A.Smith, nhà nước chỉ cần thực hiện 3 chức năng cơ bản:
bảo đảm môi trường hoà bình, không để xảy ra nội chiến, ngoại xâm; tạo ra môi

Kolko (1988) về vấn đề sự cần thiết của tái cơ cấu kinh tế trong bối cảnh giá năng
lượng tăng cao, Peacock (1989), Berg (2004), Yu (1997), World bank (1993) với nội
dung giải quyết tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, David J.Carrier (1997) nói
về tái cấu trúc ngành công nghiệp, Marcus Powell (2003) tái cấu trúc kinh tế gắn với
nguồn lực con người. Một số tác phẩm thời gian gần đây có nội dung liên quan gồm:
Cuốn The Politics of Economic Restructuring in India: Economic Governance
and state spatial rescaling (Quan điểm tái cơ cấu kinh tế ở Ấn Độ: Hoạt động của
nền kinh tế và phạm vi tác động của nhà nước) của Loraine Kennedy [136]. Trong tác
phẩm, tác giả đề cập đến quan điểm của Ấn Độ trong tái cơ cấu nền kinh tế với nội
dung là hoạt động của nền kinh tế và phạm vi tác động của nhà nước. Từ khi cải cách,
kinh tế Ấn Độ liên tục tăng trưởng mạnh mẽ đi liền với việc mở rộng cơ cấu nền kinh
tế. Cơ cấu nền kinh tế Ấn Độ mở rộng cả về không gian kinh tế và các nhân tố kinh
tế. Tác giả khẳng định, sự phát triển cơ cấu này đến từ các nguồn lực của thị trường,
song không thể thiếu sự tác động của nhà nước. Ba nội dung chính mà tác phẩm
nghiên cứu là: cách thức, phạm vi, mức độ tác động của nhà nước; chính sách kinh tế
được tạo ra từ sự phân chia quốc gia; sự ảnh hưởng, sự tác động, tương tác lẫn nhau
giữa tác động của nhà nước với hoạt động của thị trường.


14

Cuốn The Korean Developmental state (Hàn Quốc - Nhà nước phát triển)
của Iain Pirie [134]. Cuốn sách có nội dung bao hàm toàn bộ quá trình Nhà nước
Hàn Quốc tái cơ cấu kinh tế kể từ khủng hoảng tài chính 1997. Tác phẩm này có sự
khác biệt với những nghiên cứu trước bởi sự nhất quán trong diễn đạt sự thay đổi cơ
cấu trong chính sách kinh tế toàn cầu và thể hiện được vai trò quyết định của Nhà
nước Hàn Quốc trong các chương trình kinh tế của mình. Nội dung cuốn sách đề cập
đến cạnh tranh toàn cầu - sự lựa chọn của chủ nghĩa tự do mới, sự tan rã của nhà nước
phát triển và thất bại của nền kinh tế tự do tại Hàn Quốc, xây dựng thể chế cho thị
trường, phối hợp tái cơ cấu nền tài chính - trụ cốt chính trong khủng hoảng, tác động xã

Market competition since world war II (Tái cơ cấu nền kinh tế Pháp: Nhà nước và sự
phát triển thị trường cạnh tranh từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II) của Williams
James Adams [142]. Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và sự biến đổi cơ cấu kinh tế. Tác giả đề cập đến giải thích của Simon Kuznet
về sự đồng hành và phối hợp của tăng trưởng và biến đổi cơ cấu nền kinh tế:
Tăng trưởng kinh tề phụ thuộc vào quá trình công nghệ. Quá trình công
nghệ lại đòi hỏi cơ cấu nền kinh tế phải biến đổi. Những trở ngại trong thay
đổi cơ cấu nền kinh tế sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế. Cơ cấu nền kinh tế
thay đổi không phải do những giới hạn của tăng trưởng kinh tế. Nó thay đổi
do thị hiếu của khách hàng, do công nghệ sản xuất, do những điều kiện cạnh
tranh quốc gia mà không phụ thuộc vào tỷ lệ tăng trưởng [142, tr.1].
Chương 2 của tác phẩm, tác giả đề cập đến phạm vi thay đổi cơ cấu nền kinh
tế Pháp. Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ II, ngay lập tức Chính phủ Pháp đã có
những chính sách nhằm thúc đẩy sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế. Tác giả khẳng định
"với những dấu tích để lại, không còn nghi ngờ gì nữa, cơ cấu nền kinh tế Pháp đã
thay đổi trong bốn thập kỷ qua và toàn bộ những thay đổi này hoàn toàn theo đúng
những dự báo của Kuznet" [142, tr.17]. Chương 3 tác giả khảo sát những tính toán
của Chính phủ Pháp trong nỗ lực tái cơ cấu nền kinh tế trong đó miêu tả các nguyên
lý và công cụ can thiệp của nhà nước. Cuối cùng tác giả nhấn mạnh tác động của
chính sách nhà nước tới thái độ của doanh nghiệp và hiệu quả thị trường.
Bài báo "Corporate Sector Restructuring: The Role of Government in Times
of Crisis" (Tái cơ cấu toàn thể doanh nghiệp: Vai trò của Chính phủ trong thời gian
khủng hoảng) của Mark R. Stone [138]. Theo tác giả, việc tái cơ cấu doanh nghiệp
quy mô lớn là cần thiết do cuộc khủng hoảng tài chính là một trong những thách thức
lớn nhất mà các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt. Đề cập đến vai trò của nhà
nước, tác giả khẳng định, tái cơ cấu không thể thành công nếu không có một nền tảng
vững chắc được thiết lập bởi hành động của nhà nước thông qua các chính sách kinh
tế. Nhà nước buộc phải có vai trò dẫn đầu, trực tiếp vì nhu cầu ưu tiên các mục tiêu
chính sách, giải quyết các thất bại của thị trường, cải cách các hệ thống pháp luật và
thuế, và đối phó với sự phản kháng của các nhóm lợi ích. Mục tiêu của việc tái cơ cấu

bản Chính trị - Hành chính phát hành. Trong cuốn giáo trình này, các tác giả đã đưa
ra khái niệm về cơ cấu nền kinh tế với tính chất và các nhân tố ảnh hưởng, phân biệt
tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa ra tiêu chí về cơ cấu kinh
tế hợp lý. Cuốn Giáo trình cũng đề cập đến nội dung về cơ cấu nền kinh tế Việt
Nam tiếp cận theo quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ, cơ cấu theo ngành, lĩnh vực
kinh tế, vùng kinh tế, thành phần kinh tế.
Cuốn Tái cấu trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng xanh - kinh nghiệp quốc
tế và gợi ý cho Việt Nam của tập thể tác giả [83]. Cuốn sách biên tập 18 bài tham


17

luận tham dự hội thảo với các nội dung chính là tái cấu trúc nền kinh tế sau khủng
hoảng tài chính toàn cầu, khuôn khổ lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế về kinh tế
xanh, hướng tới nền kinh tế - lựa chọn chính sách cho Việt Nam.
Cuốn Tập đoàn kinh tế trong việc thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế của Nguyễn
Hữu Đạt và Ngô Tuấn Nghĩa [21] đã khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế. Quá trình hình thành và hoạt động của
một số tập đoàn kinh tế ở Việt Nam. Quan điểm, phương hướng, giải pháp phát huy
vai trò của các tập đoàn kinh tế trong thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế.
Báo cáo tổng quan Đề tài khoa học cấp bộ Tái cấu trúc kinh tế thế giới trong
thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu của Nguyễn Mạnh Hùng [36] đưa ra phần
lý thuyết với các nội dung về tái cơ cấu nền kinh tế. Trong đề tài, tác giả thống nhất
cụm từ "tái cơ cấu" và "tái cấu trúc" có ý nghĩa như nhau. Tác giả đưa ra một số
định nghĩa về cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu nền kinh tế của các tổ chức, trích dẫn
khái niệm ở một số tài liệu nghiên cứu khác nhau hoặc quan niệm của một số nhà
nghiên cứu nước ngoài. Đề tài cũng đã tổng hợp lịch sử tái cơ cấu nền kinh tế thế
giới, và tái cơ cấu nền kinh tế ở một số quốc gia nhìn từ các góc độ.
Cuốn Giám sát và đánh giá quá trình thực hiện Đề án tái cơ cấu tổng thể
nền kinh tế của Nguyễn Đình Cung và Nguyễn Tú Anh [9] đưa ra nội dung mang

Nguyễn Kế Tuấn [113], cuốn Giám sát và đánh giá quá trình thực hiện Đề án tái cơ
cấu tổng thể nền kinh tế của Nguyễn Đình Cung, Nguyễn Tú Anh [9]. Theo hướng
nghiên cứu tổng thể, các nhà nghiên cứu tập trung chỉ ra tính cấp thiết phải tái cơ
cấu nền kinh tế, chỉ ra những khiếm khuyết của nền kinh tế vĩ mô Việt Nam, của
quá trình điều hành nền kinh tế của nhà nước kèm theo những dẫn chứng như vấn
đề thị trường tài chính, thị trường bất động sản, nợ xấu, tồn kho hàng hóa, về đầu tư
công, về hệ thống doanh nghiệp nhà nước… Đồng thời nêu ra và thảo luận làm rõ
những nội hàm mang tính lý luận của vấn đề tái cơ cấu như tái cơ cấu là gì, xu
hướng và phương pháp tái cơ cấu, những tiền đề và mục tiêu tái cơ cấu… Các
nghiên cứu đều đi sâu phân tích khiếm khuyết của nền kinh tế Việt Nam hiện nay,
chỉ ra nguyên nhân chủ quan, khách quan, nguyên nhân dài hạn và ngắn hạn. Về nội
dung này, nhiều nghiên cứu đã thể hiện sự thống nhất trong nhận định nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến bất ổn hiện nay của nền kinh tế vĩ mô là do các vấn đề thuộc về cơ
cấu nền kinh tế và mô hình tăng trưởng.
Tiếp cận theo hướng nghiên cụ thể là những nội dung của từng ngành, từng
lĩnh vực, từng phạm vi và đối tượng cần tái cơ cấu. Các nhà khoa học, nhà quản lý
cũng chỉ ra những bất cập, những hạn chế của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế,
những ảnh hưởng của chúng tới nền kinh tế chung của đất nước. Tổng hợp các
nghiên cứu theo nội dung cụ thể của từng ngành, từng lĩnh vực, từng phạm vi và đối
tượng, có ba nhóm đối tượng tái cơ cấu được đề cập nhiều nhất, đó là: tái cơ cấu


19

doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước; tái
cơ cấu thị trường tài chính mà trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và tổ
chức tài chính; tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công.
Thông qua việc phân tích thực trạng chung của nền kinh tế cũng như từng
vấn đề cụ thể, các nhà nghiên cứu đều đưa ra nhận định chắc chắn phải tái cơ cấu
nền kinh tế như một giải pháp sống còn mà Đảng, Nhà nước Việt Nam phải thực


nghĩa tư bản và những hình thái biểu hiện của nó, phân tích một số cuộc khủng
hoảng tiêu biểu cùng những tác động của nó tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản,
giải pháp khắc phục khủng hoảng và ý nghĩa của nó đối với Việt Nam. Theo tác giả,
"trong lịch sử kinh tế học, cho đến nay hầu như đã không có nền kinh tế nào kể cả
kinh tế kế hoạch không bị khủng hoảng" [44, tr.665]. Khủng hoảng kinh tế là hiện
tượng đồng hành trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, thậm chí ở ngay
những nước tư bản phát triển nhất như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu. "Nhưng chính trong
khủng hoảng, vai trò tái cơ cấu kinh tế của nhà nước mới được phát huy. Có thể nói
rằng không có sức ép của các cuộc khủng hoảng kinh tế, các chính phủ của các
quốc gia khó có thể đã thực hiện những cải cách" [44, tr.656]. Tác giả cũng đưa ra
các nhân tố có thể dẫn tới khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam như cơ chế phân bổ
nguồn lực, khu vực doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, vấn đề tham nhũng đã là
một nguy cơ thực sự. Cuối cùng, tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm đối với
Việt Nam trong việc phòng ngừa khủng hoảng kinh tế.
Cuốn sách Cấu trúc lại nền kinh tế Mỹ từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước đến
nay của Vũ Đăng Hinh [29] đề cập đến những hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế Mỹ
từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước đến nay. Theo tác giả, "cơ cấu kinh tế của một nền
kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu của thị trường đó" [29, tr.17] và "cấu trúc lại
nền kinh tế là hoạt động mang tính quy luật để duy trì tốc độ phát triển và đáp ứng
nhu cầu xã hội trong từng giai đoạn" [29, tr.369]. Tác giả đưa ra nguyên nhân cần tái
cơ cấu nền kinh tế. Đó là khi một bộ phận sản xuất nào đó không hiệu quả, hoặc để
khai thác lợi thế cạnh tranh khi tham gia vào phân công lao động thế giới. Vì nhiều lý
do, hoạt động tái cơ cấu đã và đang diễn ra ở Mỹ và nhiều nơi trong thế giới hiện đại.
Từ đó tác giả đi sâu phân tích, miêu tả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế Mỹ qua các đời
Tổng thống từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước đến nay. Xuyên suốt các hoạt động tái cơ
cấu đó, vai trò của Nhà nước Mỹ mà cụ thể là của các Tổng thống Mỹ được thể hiện
rõ nét qua các quyết định chính sách. Nhà nước Mỹ thông qua các công cụ quyền lực
chính trị, công cụ quản lý kinh tế để thực hiện tái cơ cấu. Từ đó các cơ quan nhà nước
trực tiếp tham gia tái cơ cấu với những kịch bản điều hành cụ thể, đặc biệt là hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status