CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Chủ nghĩa đế quốc
CNĐQ
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Hệ thống chính trị
HTCT
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
HTCT cơ sở là tổ chức cấp thấp nhất trong 4 cấp HTCT (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) ở
nước ta. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khoá IX xác định: “HTCT cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân
nay đối với Tây Nguyên đang là một vấn đề cấp bách và mang tính thời sự nóng hổi.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề đổi mới, xây dựng HTCT, HTCT cơ sở đã được triển khai nghiên cứu khá sâu
rộng với nhiều công trình cho các hướng nghiên cứu, các vùng, miền khác nhau, làm luận cứ
khoa học cho sự hình thành đường lối đổi mới HTCT nước ta. Tiêu biểu có thể kể đến các
cuốn sách “Đổi mới và tăng cường HTCT nước ta trong giai đoạn mới” do GS Nguyễn Đức
Bình cùng tập thể tác giả biên soạn [ 7 ]; “HTCT cơ sở - đặc điểm, xu hướng và giải pháp”
của TS Vũ Hoàng Công [ 12 ]; “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã
ở nước ta hiện nay” do TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông đồng chủ biên [ 38 ]; “Giải
pháp đổi mới hoạt động của HTCT ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay” của các PGS,
TS Tô Huy Rứa, Nguyễn Cúc, Trần Khắc Việt đồng chủ biên [ 15 ]; nhiều bài viết của các
đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu xung quanh vấn đề
này, trong đó có đề cập tới tình hình xây dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên.
Vấn đề vai trò của quân đội trong công tác vận động quần chúng nói chung và ở địa bàn
Tây Nguyên nói riêng đã được các đơn vị trong toàn quân cùng với Cục Dân vận và Tuyên
truyền đặc biệt, Tổng cục Chính trị tổng kết hàng năm và toàn diện nhất là cuộc tổng kết về công
tác dân vận của quân đội trong những năm đổi mới (1990-1999), qua đó đã khẳng định vai trò
cực kỳ quan trọng của quân đội ta trong công tác vận động quần chúng; trong xây dựng, củng cố
cơ sở chính trị ở các địa phương. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào
đề cập đến phát huy vai trò của quân đội trong xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề phát huy vai trò của quân đội
trong xây dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên, từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát
huy vai trò của quân đội trong xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm xây dựng HTCT cơ sở và những vấn đề có tính quy
luật phát huy vai trò của quân đội trong xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên.
- Làm rõ thực trạng phát huy vai trò của quân đội trong xây dựng HTCT cơ sở trên địa
HTCT cơ sở là khái niệm bộ phận thuộc khái niệm HTCT, được sử dụng phổ biến ở nước ta
từ những năm 90 của thế kỷ XX. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu từ những góc độ tiếp
cận khác nhau nêu ra quan niệm về HTCT, tựu trung đều thống nhất hai vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, thừa nhận HTCT có cấu trúc bao gồm các tổ chức thành viên và mối quan hệ
giữa các tổ chức đó.
Thứ hai, khẳng định quyền lực chính trị của giai cấp thống trị là bản chất, cốt lõi, là mục
đích của việc tổ chức và vận hành của HTCT. Đúng như tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăngghen:
“Quyền lực chính trị (…) là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác” [29,
tr. 628].
Đó là hai điểm mấu chốt nhất trong nội hàm khái niệm HTCT đã được các nhà khoa học
giải đáp. Khái quát lại, HTCT là tổng thể các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội và mối quan
hệ giữa chúng hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội nhằm bảo đảm việc thực hiện
quyền lực chính trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội.
Khi sử dụng thuật ngữ HTCT, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh tính hệ thống, tính chỉnh
thể trong cấu trúc của nó. Nó không chỉ đơn giản là sự liệt kê các tổ chức thành viên mà còn xác định
vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa các tổ chức đó, đồng thời chỉ ra hình thức tổ chức, cơ chế hoạt động,
nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn và phương thức phối hợp giữa các tổ chức (tức là nói tới các thiết
chế chính trị - xã hội). Tính chỉnh thể của HTCT còn biểu hiện ở chỗ một mặt nó luôn tự biến đổi, tự
điều chỉnh để phù hợp với môi trường xã hội mà nó đang tồn tại; mặt khác, quan hệ giữa các tổ chức
trong quá trình hoạt động, tuỳ theo yêu cầu, có thể xuất hiện một số tổ chức phái sinh, không ổn định,
nhằm giải quyết về một nhiệm vụ nhất thời nào đó, sau đó thì giải thể (ví dụ: các ban chỉ đạo, các tiểu
ban, hội đồng, tổ công tác liên hợp… do một hoặc nhiều tổ chức phối hợp lập ra để thực hiện một
nhiệm vụ chung nào đó). Tính chỉnh thể của HTCT không những chỉ nói đến các tổ chức và mối quan
hệ giữa các tổ chức mà còn bao hàm trong đó cả ý thức chính trị mà cốt lõi là hệ tư tưởng chính trị.
Chính điều này giúp cho HTCT vận hành thống nhất hướng vào thực hiện một mục đích nhất định,
dựa trên những nguyên tắc hoạt động nhất định, từ đó hình thành nên cơ chế chính trị của một chế
độ xã hội.
chuyên chính của mình trong toàn xã hội, cụ thể là “xây dựng Nhà nước XHCN, Nhà nước
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền
dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm
phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”[16, tr. 9].
Với tư cách là một giai cấp cách mạng, tiên tiến nhất, khác về chất so với tất cả các giai
cấp khác trong lịch sử nên lợi ích của giai cấp công nhân Việt Nam ngay từ trong bản chất đã có
sự thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và của toàn dân tộc, vì thế quyền lực chính trị
của giai cấp công nhân Việt Nam, của HTCT XHCN suy đến cùng thuộc về quần chúng nhân dân
lao động, cội nguồn sức mạnh của HTCT nước ta chính là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về khái niệm HTCT cơ sở (hay HTCT ở cơ sở), hiện nay phần lớn các nghiên cứu đều
theo xu hướng gắn khái niệm HTCT với từng cấp hành chính - lãnh thổ, theo sự phân cấp ấy,
HTCT cấp cao nhất là Trung ương, các cấp trung gian là tỉnh và huyện, cấp thấp nhất là xã. Cấp
càng cao thẩm quyền càng lớn và ngược lại. Do là cấp thấp nhất nên cấp xã (phường, thị trấn)
được gọi là cấp cơ sở. Vì thế dễ thấy nhiều ý kiến đồng tình với quan niệm cho rằng “HTCT ở cơ
sở là HTCT được tổ chức ở cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn” [24, tr. 421]. Tuy vậy, vẫn có ý
kiến băn khoăn: “khái niệm “HTCT ở cơ sở” vẫn chưa được nhận thức đúng và chưa thống
nhất”. Bởi “cơ sở” (theo nghĩa là một tổ chức) gồm xã, phường, thị trấn; các doanh nghiệp nhà
nước, các cơ quan hành chính, sự nghiệp. Trong ba loại hình cơ sở ấy, HTCT ở mỗi loại hình lại
có những nét riêng biệt” [25, tr. 7]. Điều băn khoăn này là có cơ sở. Thực tế hiện nay, ngoài hệ
thống dọc được tổ chức theo hệ thống hành chính - lãnh thổ, HTCT còn được tổ chức ở những
ngành, đơn vị hành chính - sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước với những kiểu tổ chức đặc thù
tuỳ theo tính chất, đặc điểm hoạt động của từng đơn vị. Song xuất phát từ tinh thần của Nghị
quyết Trung ương 5 (khoá IX) “Đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở xã, phường, thị
trấn”, tác giả cho rằng khái niệm HTCT cơ sở đã xác định và có giới hạn. Cấp cơ sở được đề
cập đến để nghiên cứu về HTCT trong luận văn này không thuộc loại hình cơ sở doanh nghiệp
nhà nước hay đơn vị hành chính - sự nghiệp mà là xã, phường, thị trấn, cấp cuối cùng trong
điểm tình hình cụ thể của Tây Nguyên.
Năm tỉnh thuộc địa bàn Tây Nguyên, theo quy định của Chính phủ, đều là “các tỉnh miền
núi” - đây là một khái niệm mang tính ước lệ. Ở cấp cơ sở vẫn có đủ các các mô hình tổ chức là
xã, phường và thị trấn, trong đó đơn vị hành chính cấp xã là phổ biến nhất, nhiều nhất. Do đó,
luận văn xác định tập trung nghiên cứu vào HTCT cơ sở xã - đặc biệt là các xã nông thôn miền
núi thuộc địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Phù hợp với sự giới hạn này, các đơn vị quân đội được
đề cập đến trong luận văn (với tư cách đại diện cho quân đội, là chủ thể trực tiếp tham gia xây
dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên) chủ yếu là các đơn vị thuộc Quân đoàn 3, Binh đoàn 15, Bộ
đội Biên phòng, Bộ đội địa phương của các tỉnh Tây Nguyên (thuộc Quân khu 5 và Quân khu 7)
đang làm nhiệm vụ ở các địa bàn nông thôn miền núi cùng với các số liệu khảo sát thực tế trong
khoảng 10 năm - đặc biệt từ năm 2001 - trở lại đây.
* Khái niệm xây dựng hệ thống cbính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên:
Xây dựng HTCT cơ sở được hiểu đồng thời trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, xây dựng các thành tố trong HTCT cơ sở (tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân) từ tổ chức bộ máy, con người đến xác định chức năng,
nhiệm vụ… đảm bảo phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của từng tổ chức.
Thứ hai, trên cơ sở đó xác định rõ mối quan hệ giữa các tổ chức thành viên, đảm
bảo HTCT cơ sở như một bộ máy vận hành thông suốt, hiệu quả cao; tạo nên sự đồng bộ,
thống nhất chặt chẽ trong lãnh đạo, tổ chức quản lý xã hội ở địa phương cơ sở. Bao gồm
xác định mối quan hệ giữa các tổ chức trong HTCT cơ sở, giữa HTCT cơ sở với HTCT cấp
trên, giữa toàn bộ HTCT cơ sở (cũng như từng thành viên trong hệ thống ấy) với quần
chúng nhân dân.
Từ khi nước ta được hoàn toàn giải phóng, đi lên CNXH, HTCT XHCN được thiết lập
thống nhất, bao trùm trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. HTCT trên địa bàn Tây Nguyên gồm 3 cấp
tỉnh, huyện, xã, thuộc 5 tỉnh, nằm trong HTCT chung cả nước; không có HTCT riêng của địa bàn
Tây Nguyên. Do vậy, để định nghĩa khái niệm “xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên”,
trước hết cần nhận thức thống nhất mấy điểm sau:
- HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên với các tổ chức, thiết chế theo quy định chung đã
công việc đều xong xuôi” [34, tr. 371]. Xuất phát từ vị trí, vai trò của cơ sở và nhiệm vụ xây
dựng, hoàn thiện HTCT, hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương tập trung dồn sức
cho xây dựng cơ sở, “hướng mạnh tới cơ sở, tới thôn, xóm, ấp, bản; tăng cường đi sát, làm
việc trực tiếp với cơ sở, với dân, thấu hiểu nguyện vọng của dân, cùng với cơ sở giải quyết
vướng mắc cho dân” [5, tr. 105]. Đặc biệt đối với Tây Nguyên hiện nay, xây dựng HTCT cơ
sở vững mạnh đang là một nhiệm vụ cấp bách, cần thiết, thu hút sự quan tâm của toàn xã
hội, đòi hỏi sự tham gia và phát huy trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi cấp, mọi ngành, mọi
đối tượng. Trong đó với ưu thế về mặt tổ chức và hoạt động, Quân đội nhân dân Việt Nam là
một trong những chủ thể xây dựng có khả năng, vai trò, tác dụng rất lớn - rõ nét nhất là ở
những địa phương cơ sở miền núi hiện nay. Tuy nhiên, đó hoàn toàn không phải là sự hoạt
động đơn phương mà luôn trong sự phối hợp hiệp đồng, cộng đồng trách nhiệm với các lực
lượng khác (như công an, dân - chính - đảng, …); sự ủng hộ, giúp đỡ của quần chúng nhân dân,
của cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân cả trong và ngoài HTCT
tại địa phương; sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói
đó là một tập hợp các chủ thể tác động vào đối tượng xây dựng là toàn bộ HTCT cơ sở trên
địa bàn Tây Nguyên và từng tổ chức thành viên trong HTCT cơ sở đó. Như vậy, chủ thể xây
dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên bao gồm những lực lượng bên ngoài HTCT cơ sở tác động
vào và cả những lực lượng nằm ngay trong từng tổ chức của HTCT cơ sở. Với sự phân tích
đó, xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay là một quá trình bao gồm sự
kết hợp giữa xây dựng và tự xây dựng, tự hoàn thiện mà vai trò của cái nội tại, cái bên trong
bao giờ cũng là quyết định. Toàn bộ quá trình nói trên nhằm tới mục tiêu xây dựng các địa
phương cơ sở xã, phường, thị trấn ở Tây Nguyên hiện nay có bộ máy HTCT ngày càng
được củng cố, kiện toàn; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phối hợp nhịp nhàng các tổ
chức; vận hành thông suốt, phát huy hiệu quả hoạt động, hiệu lực của HTCT XHCN tại
cơ sở địa phương, giữ vai trò quyết định sự ổn định và phát triển các địa phương cơ sở
Tây Nguyên, theo tinh thần: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của HTCT nước ta trong giai
đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm
quyền lực thuộc về nhân dân” [16, tr. 19] đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng
với HTCT cấp trên và với HTCT nói chung, giữa HTCT cơ sở cũng như từng tổ chức thành viên
với các tổ chức không thuộc HTCT và với quần chúng nhân dân.
Ở chế độ ta hiện nay, tổ chức đảng vừa là thành viên vừa là hạt nhân lãnh đạo HTCT,
chính quyền là tổ chức quản lý, điều hành mọi hoạt động xã hội trong phạm vi địa bàn được đảm
nhiệm; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là đại diện cho quyền lợi, ý chí của
những bộ phận nhân dân, đại diện cho họ trong tham gia xây dựng và giám sát HTCT, tuyên
truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, ngoài ra còn
có thể trực tiếp tổ chức nhân dân xây dựng các công trình dân sinh do nhân dân tự nguyện đóng
góp kinh phí, đúng như ý tưởng của Bác Hồ rằng đó là những “Tổ chức của dân, phấn đấu cho
dân, bệnh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ” [33, tr. 66]. Đó chính là
cơ chế: Đảng lãnh đạo; chính quyền quản lý, điều hành; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân kiểm tra, giám sát, kiến nghị.
Mối quan hệ này được biểu hiện thông qua các văn bản pháp luật, xác định rõ mối quan hệ
này sẽ tránh được sự chồng chéo, “lấn sân” trong công việc giữa các tổ chức, là điều kiện cơ
bản tạo ra sự thống nhất, đồng bộ, làm cho HTCT cơ sở đủ sức mạnh để làm tròn chức trách,
nhiệm vụ của mình. Đây cũng chính là trọng điểm, là khâu then chốt của đổi mới HTCT hiện nay
ở nước ta.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ của HTCT cơ sở:
Đây là khâu cơ bản, then chốt và hơn nữa là nội dung trọng yếu trong xây dựng HTCT cơ
sở ở Tây Nguyên. Bởi lẽ cấu thành tổ chức bộ máy HTCT là từ con người và chất lượng, hiệu
quả hoạt động của bộ máy đó cũng là do con người. Con người - trước hết và chủ yếu là đội ngũ
cán bộ giữ vai trò quyết định trong xây dựng HTCT cơ sở.
Xây dựng đội ngũ cán bộ của HTCT cơ sở ở Tây Nguyên bao gồm từ việc phát hiện, tuyển
chọn, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng cán bộ theo các chức danh và theo yêu cầu, đặc điểm của
từng loại cán bộ đến việc quy hoạch, định hướng phát triển cán bộ; thực hiện chính sách cán
bộ... Đó là một quá trình liên thông nhằm tạo ra một đội ngũ cán bộ có cơ cấu hợp lý, đủ phẩm
chất, trình độ, năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về “Đổi mới và nâng
hiệu
lực
và
hiệu
quả cao.
1.1.2. Đặc điểm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên
Tây Nguyên hiện nay có 638 xã, phường, thị trấn; 5985 buôn làng, phần lớn là miền núi.
Là địa bàn cư trú của 45 dân tộc anh em, trong đó có 13 dân tộc bản địa cùng với sự tồn tại của
nhiều tôn giáo lớn và kéo theo là sự đan bện đa dạng các sắc thái và cơ tầng văn hoá. Đây
không chỉ là địa bàn có tiềm năng phát triển kinh tế mà còn có tầm quan trọng chiến lược về an
ninh - quốc phòng, không chỉ phong phú về tài nguyên thiên nhiên mà còn là vùng đất giàu truyền
thống cách mạng. Xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên cần chú ý những đặc điểm
sau:
Một là, xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên phải nghiên cứu kỹ và tính đến sự
tác động của hệ thống thiết chế xã hội cổ truyền, kế thừa và phát triển những yếu tố tiến bộ trong
“luật tục” của từng dân tộc thiểu số dang còn phù hợp với giai đoạn hiện nay
Xã hội Tây Nguyên trước đây được biết đến là một xã hội khép kín, bó hẹp trong phạm vi
những buôn làng nhỏ. “Nếu như ở xã hội người Kinh, làng gắn với nước thành “làng nước”, thì ở Tây
Nguyên trước đây, buôn làng cũng là nước” [15, tr. 142], đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
hầu như không muốn chịu bất cứ một sự ràng buộc nào ngoài buôn làng mình. Với họ, làng là tổ
chức xã hội cao nhất, tương đối độc lập, tương đối hoàn chỉnh và tách biệt. Có thể nói, đó chính là
tàn dư của chế độ công xã nông thôn phương Đông điển hình. Điều chỉnh mọi hoạt động của làng là
“luật tục” cùng với hệ thống lễ nghi và các chức sắc do làng bầu ra hoặc suy tôn (như già làng, chủ
làng, trưởng tộc...) hợp thành thiết chế xã hội truyền thống, thiêng liêng, phù hợp với đặc điểm từng
đại diện các thiết chế xã hội chính thống đều phải tranh thủ được sự ủng hộ của đại diện các thiết chế
xã hội cổ truyền. Chỉ có như vậy công việc mới dễ bề thành công, ngược lại thì sẽ gặp khó khăn, rắc rối.
Do đó, phương hướng đúng đắn nhất trong xây dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên hiện nay là phải tính
toán để dung nạp được các yếu tố tích cực, đang còn phù hợp của thiết chế xã hội cổ truyền; thực hiện
quá trình lồng ghép và chi phối giữa hệ thống thiết chế xã hội chính thống với thiết chế xã hội cổ truyền,
chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế và từng bước tiến tới loại bỏ dần mặt tiêu cực, lạc hậu của nó.
Thực chất đây là quá trình xây dựng một kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng ở Tây
Nguyên mang định hướng XHCN. Để đạt đến một thiết chế xã hội XHCN thực sự theo đúng nghĩa của
nó, tất yếu chúng ta còn phải trải qua những giai đoạn quá độ với nhiều chặng đường, nhiều thang bậc
khác nhau phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển của từng vùng, từng dân tộc. Quyết không được
chủ quan nóng vội, áp đặt kể cả trong xây dựng mô hình tổ chức, trong xây dựng nội dung và phương
thức hoạt động, trong bố trí sắp xếp cán bộ.
Hiện nay, xét ở góc độ các tổ chức, thiết chế tác động vào cộng đồng người ở Tây Nguyên
có
thể
nhận
thấy
và
phân
loại
ra
luật; hoặc cũng có thể là một tổ chức chính trị phản động núp bóng, trá hình vào một tổ chức mang tính
tôn giáo, dân tộc nào đó để hoạt động phá hoại an ninh trật tự tại các địa phương. Tựu trung đó là thiết
chế xã hội tồn tại và tác động bí mật, có mục đích hoàn toàn trái ngược với hệ thống thiết chế xã hội
chính thống. Đây đó đã có nơi thiết chế xã hội bất hợp pháp hoạt động mạnh, tỏ ra lấn lướt khi thiết chế
xã hội chính thống có sự sơ hở, tác động yếu. Chúng mưu toan lồng ghép thiết chế xã hội bất hợp pháp
vào thiết chế xã hội cổ truyền, núp bóng nó và lợi dụng nó để phá hoại HTCT của chúng ta, rõ nét nhất
là ở cấp cơ sở. Hiện tượng “Tin lành Đê - Ga” mà bọn tàn quân FULRO nhen nhóm trong cộng đồng
các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên những năm gần đây là một ví dụ điển hình.
Ba loại thiết chế xã hội nói trên đang tồn tại, tác động đan xen, chi phối lẫn nhau rất phức
tạp. Mặc dù là thiết chế xã hội chính thống giữ vai trò chủ đạo nhưng thời gian qua, ở một số nơi
do sự yếu kém của HTCT cơ sở đã vô tình làm thiết chế xã hội bất hợp pháp gia tăng sự phá
hoại, gây rối trên địa bàn Tây Nguyên. Đối với thiết chế xã hội cổ truyền chúng ta vẫn chưa đối
xử phù hợp và đúng mức, chưa có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nó với thiết chế xã hội chính
thống, chưa giáo dục cho đồng bào ý thức tôn trọng pháp luật, đặt “phép nước” trên “lệ làng”,
cho nên vẫn có những hành vi phạm pháp lại không xử lý bằng pháp luật mà xử theo lệ làng, luật
tục [44, tr. 10], do đó sức mạnh của HTCT cơ sở ở Tây Nguyên còn nhiều hạn chế. Với ý nghĩa
trên, xây dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên chính là phát triển, hoàn thiện thiết chế xã hội chính
thống để nó giữ vững vị trí thống trị, quyết định đường hướng phát triển của xã hội; đồng thời
phát huy những mặt tích cực và loại bỏ dần những mặt tiêu cực, lạc hậu của thiết chế xã hội cổ
truyền; đấu tranh ngăn chặn sự phá hoại tiến đến loại trừ thiết chế xã hội bất hợp pháp ra khỏi
đời sống xã hội.
Hai là, xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên phải chú ý đúng mức và giải quyết
tốt những nét đặc thù về vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán vốn
rất nhạy cảm và phức tạp. Đây là những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đối với sự ổn định an ninh
chính trị ở địa phương cơ sở Tây Nguyên
Việt Nam vốn là một quốc gia đa dân tộc đồng thời là một quốc gia đa tôn giáo. Do vậy,
vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo là những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam. Tây Nguyên là
nơi điển hình về tập trung dân tộc, tôn giáo và hoạt động của các dân tộc, các tôn giáo. Theo
giáo, vừa nhạy cảm về vấn đề an ninh - quốc phòng của đất nước ta.
Điều đáng mừng là Việt Nam chúng ta luôn có sự chung sống hoà bình giữa các dân
tộc, các tôn giáo. Ở Tây Nguyên, các dân tộc sống đan xen nhau trong một quần cư, mỗi dân
tộc có tiếng nói, bản sắc văn hoá riêng, nhưng rất hoà thuận. Không có xung đột sắc tộc
cũng như không có xung đột, tranh giành giữa các tôn giáo. Nguyên nhân của thực tế ấy một
phần xuất phát từ dòng trong truyền thống của lịch sử Việt Nam, phần khác là do chính sách
dân tộc và chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong suốt quá trình cách
mạng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền
núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: đoàn kết dân tộc và
nâng cao đời sống của đồng bào” [30, tr. 608]. Chính sách đúng đối với vấn đề dân tộc và
tôn giáo là yếu tố căn bản giúp cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sống hài hoà giữa đạo
và đời, tự tin phấn đấu vươn lên và có khả năng “miễn dịch” với mọi tác động, ảnh hưởng
xấu từ bên ngoài. Chính vì vậy, những diễn biến sôi động ở nơi này nơi khác trên thế giới
xung quanh vấn đề dân tộc và tôn giáo những năm qua ảnh hưởng không đáng kể với chúng
ta.
Tuy nhiên, so với các vùng khác trong cả nước, Tây Nguyên đang là một “điểm nóng”,
nổi trội về sự mất ổn định, nguy cơ đe doạ đến an ninh -quốc phòng của đất nước. Vấn đề dân
tộc và vấn đề tôn giáo cùng với các vấn đề khác (như khó khăn về kinh tế - xã hội, sự yếu kém
trong quản lý của HTCT cơ sở…) đang được các thế lực phản động, thù địch triệt để khai thác,
lợi dụng hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng, phá hoại công cuộc lao động hoà bình, xây dựng
CNXH của chính quyền và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Các cuộc tụ tập gây rối, lôi kéo
quần chúng biểu tình, gây bạo loạn chính trị xảy ra trên địa bàn này tháng 2/2001 và tháng
4/2004 đã chứng minh rõ dã tâm của kẻ thù đang điên cuồng theo đuổi những mưu đồ chính trị
đen tối của chúng. Điều đó cũng càng giúp chúng ta nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của vấn đề
dân tộc, vấn đề tôn giáo cũng như giá trị của những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng
và Nhà nước ta về vấn đề này trong mối quan hệ với sự ổn định và phát triển của đất nước hiện
nay. Đồng thời với việc thực hiện tốt chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Đảng ta cũng chỉ
rõ: “Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và
Nhà
nước,
đôi
khi
là
cả
những
Đây là những vấn đề lớn, nhạy cảm và mang tính cấp bách, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo
chiến lược. Xây dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên cũng là một quá trình giải quyết từng bước
những vấn đề trên.
Ba là, xây dựng HTCT cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên phải phát huy sức mạnh tổng hợp
của mọi cấp, mọi ngành và toàn dân. Trong đó lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân
Việt Nam nói riêng – mà trực tiếp là các đơn vị đóng quân trên địa bàn - có vai trò quan trọng nổi
bật, nhất là trong tình hình hiện nay
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi
cuộc cách mạng xã hội. VI.I. Lênin nhấn mạnh: “Vấn đề chính quyền nhà nước nhất định là vấn
đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng chính đó là vấn đề cơ bản, vấn đề quyết định tất cả
mọi cái trong sự phát triển của cách mạng” [27, tr. 268]. Luận điểm này đã nêu rõ vị trí và vai trò
của “vấn đề chính quyền nhà nước” đối với các cuộc cách mạng xã hội nói chung, trong đó có
cách mạng XHCN. Mở rộng và vận dụng luận điểm này ngày nay chúng ta có thể khẳng định:
xây dựng HTCT là một nội dung cơ bản, chủ yếu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam, của sự nghiệp cách mạng XHCN của Đảng ta, nhân dân ta. Đó là một công việc lớn,
thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc, nhân dân... đã và đang chứng tỏ là lực lượng có đủ điều kiện
và khả năng, xung kích đi đầu trong xây dựng HTCT cơ sở ở địa bàn Tây Nguyên hiện nay. Tóm
lại có thể nói, những đặc điểm riêng về tổ chức và hoạt động đã tạo nên lợi thế của quân đội ta
trong nhiệm vụ này. Những lực lượng, những đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn Tây
Nguyên hiện nay là những đại diện của quân đội ta trực tiếp tham gia xây dựng HTCT cơ sở. Cụ
thể có thể kể đến là các Quân khu 5, 7, Quân đoàn 3, Binh đoàn 15, 16; các đơn vị Bộ đội Biên
phòng; v.v.. Tuỳ thuộc vào chức năng, yêu cầu, nhiệm vụ mà mỗi đơn vị có thế mạnh và đặc
điểm hoạt động riêng. “Lực lượng vũ trang thuộc các quân khu là lực lượng gần dân nhất, đáp
ứng nhanh nhất yêu cầu tại chỗ, kịp thời làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương, là
trung tâm phối hợp với các đơn vị đứng chân trên địa bàn, ngày đêm lăn lộn xây dựng cơ sở địa
phương. Các quân đoàn thể hiện rõ là lực lượng có sức mạnh tập trung để hoàn thành những
công việc lớn, đòi hỏi quân số đông, phương tiện nhiều. Bộ đội làm kinh tế đã biết phát huy thế
mạnh trong kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng để giúp dân định canh định cư, ổn định cuộc
sống, xoá đói giảm nghèo ở quy mô lớn. Bộ đội Biên phòng đã bám sát biên giới, đưa chủ trương,
chính sách của Đảng, của quân đội đến với đồng bào dân tộc, đến những nơi khó khăn nhất, cùng
nhân dân phát huy sức mạnh tại chỗ, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ”[35, tr. 294 - 295].
Trong chủ trương huy động sức mạnh tổng hợp cho xây dựng HTCT cơ sở ở Tây
Nguyên, mọi cấp, mọi ngành đã tích cực hưởng ứng và phát huy tinh thần trách nhiệm theo
phạm vi chức năng, nhiệm vụ. Nhiều tổ, đội công tác do các ban ngành cấp trên, do công an,
quân đội lập ra và cử xuống hoạt động ở cơ sở; nhiều cán bộ được luân phiên cử về tiếp xúc với
quần chúng nhân dân, xây dựng tổ chức. Quân đội ta là một trong những lực lượng bám cơ sở
bền bỉ nhất, có nhiều đóng góp thiết thực và hiệu quả nhất trong xây dựng HTCT cơ sở, có uy tín
với nhân dân... do đó mà có vai trò rất quan trọng trong xây dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên
hiện nay.
Rồi đây, dưới tác động của sự phát triển khoa học công nghệ, các hình thức tập hợp,
vận động quần chúng nhân dân sẽ có sự thay đổi, phát triển nhờ sự hỗ trợ đắc lực của các
phương tiện, công cụ truyền thông hiện đại - trước hết là ở vùng đô thị và đồng bằng, nhưng uy
tín và tình cảm của quân đội ta đối với quần chúng nhân dân thì không gì có thể thay thế được.
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [32, tr. 240].
Xây dựng HTCT cơ sở ở Tây Nguyên là quá trình tiến hành xây dựng đồng thời các nội dung,
trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu cơ bản - then chốt, là nhân tố quyết định chất lượng và hiệu
quả hoạt động của HTCT cơ sở.
Tây Nguyên có 1,47 triệu người thuộc các dân tộc thiểu số (chiếm 32,36% dân số toàn
vùng). Hiện nay, hầu hết các xã trên địa bàn Tây Nguyên đều có dân tộc thiểu số sinh sống; có
buôn, làng “thuần” dân tộc thiểu số. Vì vậy, vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người
dân tộc thiểu số để họ có thể tự đảm đương lấy việc quản lý cộng đồng, địa phương mình, đang
đặt ra như một tất yếu. Một mặt đáp ứng nhu cầu phát triển tự thân từng dân tộc, mặt khác tạo điều
kiện cho các dân tộc đều được góp phần mình vào sự phát triển chung của quốc gia - dân tộc Việt
Nam. Hơn nữa, thực trạng đội ngũ cán bộ của HTCT cơ sở ở Tây Nguyên còn nhiều nhược điểm.
Kết quả điều tra xã hội học cho thấy đánh giá về năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp xã ở mức trung bình và yếu là 61,4%, một chỉ số cao nhất trong 3 cấp HTCT
ở địa phương [22, tr. 59]. Một hướng điều tra khác cũng cho kết quả tương tự: Nguyên nhân hàng
đầu của tình trạng yếu kém trong hoạt động của HTCT cơ sở ở Tây Nguyên không phải là do vấn
đề tổ chức bộ máy, cũng không do cơ chế vận hành, mà do trình độ, năng lực chuyên môn, năng
lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ cơ sở còn yếu [21, tr. 240]. Tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số
còn chưa cân đối với cơ cấu thành phần dân tộc (xét toàn vùng cũng như ở từng địa phương cơ
sở), cán bộ người Kinh phần lớn không biết tiếng dân tộc thiểu số, còn cán bộ người dân tộc thiểu
số do trình độ còn hạn chế nên chủ yếu giữ cương vị cấp phó. Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá IX
vừa qua, khi thảo luận về dự thảo “Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân”, đại biểu Quốc hội (người dân tộc thiểu số) của tỉnh Kon Tum – Y
Vêng đề nghị: “Không cần quy định văn bản có thể được dịch ra tiếng các dân tộc thiểu số... Bởi vì,
sự hiểu biết tiếng dân tộc thiểu số của cán bộ tư pháp ở cơ sở hiện nay còn quá yếu, không đáp
ứng được yêu cầu . Nếu không cẩn thận sẽ gây chia rẽ giữa các dân tộc anh em với nhau” [36, tr.
2].
Để khắc phục tình trạng yếu kém nói trên và phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
trong HTCT cơ sở ở Tây Nguyên đòi hỏi chúng ta phải xác định được kế hoạch (cao hơn là chiến