Phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay Luận vănThS. Triết học - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HÀ THỊ VÂN PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG
GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở TỈNH QUẢNG NINH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 85

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. CAO VĂN THANH

HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. GIA ĐÌNH VĂN HÓA VÀ VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ
NỮ QUẢNG NINH TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA 8
1.1. Xây dựng gia đình văn hóa là đòi hỏi khách quan của công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội 8
1.1.1. Quan niệm về gia đình và gia đình văn hóa 8
1.1.2. Xây dây dựng gia đình văn hoá ở Tỉnh Quảng Ninh 15

lãnh đạo của các tổ chức Đảng, quản lý của chính quyền, đoàn
thể trong xây dựng gia đình văn hóa 98
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy vai trò của phụ nữ
trong xây dựng gia đình văn hóa ở Quảng Ninh từ nay đến 2015 . 100
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, các ngành, các cấp
về vai trò của phụ nữ trong xây dựng giai đình văn hóa 100
3.2.2. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và tham tích cực của Đảng,
chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc phát huy vai trò của
người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hoá 105
3.2.3. Phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn
hoá gắn với việc phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm cho
phụ nữ 107
3.2.4. Nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục ý thức pháp luật cho phụ nữ 113
3.2.5. Nâng cao vai trò của Hội phụ nữ đối với việc xây dựng gia đình
và gia đình văn hóa 118
KẾT LUẬN 122
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 118
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GĐVH : Gia đình văn hóa
HLHPN : Hội Liên hiệp phụ nữ
UBND : Ủy ban nhân dân
UBDSGĐ - TE : Ủy ban Dân số Gia đình - Trẻ em

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2
đặc biệt quan trọng. Quảng Ninh là vùng đất cổ, song lại là vùng đất mới bởi
những bước khai hoang, mở mỏ và gần như thời đại nào cũng có người từ
nhiều miền hội tụ để phát triển kinh tế. Trải suốt nhiều thế kỷ, từng cộng đồng
dân cư lại có nhiều nét riêng: vùng nông thôn lâu đời, vùng mới khai hoang
và vùng kinh tế mới, vùng đảo với dân chài sống lênh đênh trên thuyền, làng
mỏ, làng lâm nghiệp, làng địa chất và có cả làng bộ đội.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, Đảng bộ chính
quyền và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã quan tâm đến vấn đề xây dựng đời
sống văn hoá cho các gia đình và từng bước nâng cao vị trí, vai trò của người
phụ nữ trong gia đình. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá đã được triển
khai và thu được những thành tựu ban đầu. Những thành công đó có sự đóng
góp không nhỏ của phụ nữ Quảng Ninh. Các mẹ, các chị đang từng ngày,
từng giờ khẳng định vai trò, vị trí của mình không chỉ trong công việc xã hội
mà còn cả trong gia đình, vận động các gia đình khác cùng nhau xây dựng tổ
ấm hạnh phúc, hướng tới xây dựng gia đình văn hoá đóng góp vào sự thành
công chung của sự nghiệp đổi mới của tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, tron thời
gian qua ở Quảng Ninh, cùng với những thành tựu về kinh tế, đời sống nhân
dân được cải thiện nhưng cũng chính điều đó cũng đã làm nảy sinh nhiều hiện
tượng mới trong xã hội. Những hiện tượng mới này đang tác động tiêu cực
đến đời sống của các gia đình và vai trò của phụ nữ. Trong những năm gần
đây, các tệ nạn xã hội ngày càng có nguy cơ gia tăng và trở thành vấn đề hết
sức gay gắt cho xã hội như. Các tệ nạn xã hội có thể kể ra như cờ bạc, rượu
chè, nghiện hút, trộm cắp, mại dâm, ma túy đang là vấn đề nhức nhối của xã
hội nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Những tệ nạn này không chỉ tàn
phá các quan hệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn tiếp tục tàn phá
mạnh mẽ đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần của các gia đình. Cũng trong cơ
chế thị trường, đồng tiền, quyền lợi vật chất chi phối mạnh mẽ đến cách nghĩ,
lối sống, tác phong đạo đức của một bộ phận không nhỏ dân cư trong xã hội,
chà đạp lên đạo lý thông thường trong quan hệ giữa các thành viên trong gia

được triển khai, các hội thảo khoa học có giá trị về gia đình và phụ nữ liên
tiếp được tổ chức, các chủ đề nghiên cứu về phụ nữ và gia đình được công bố.
Có thể khái quát các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài
thành các nhóm sau đây:
Một là, nhóm tài liệu của các nhà xuất bản:
Đỗ Thị Bình (và các tác giả) “Gia đình Việt Nam và người phụ nữ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Nxb Khoa học Xã hội,

4
Hà Nội 2002; Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và vai trò người
phụ nữ trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Linh Khiếu (2001), Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa
xã hội nông thôn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Lê Thi (2002), Gia đình
Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội;
Dương Thoa (1983), Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam, Nxb Phụ nữ;
Trung tâm nghiên cứu phụ nữ - gia đình (1995), Gia đình và địa vị người phụ
nữ trong xã hội, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Kế hoạch hành động quốc gia
vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 (1997), Nxb Phụ nữ
Hai là, nhóm tài liệu thuộc về luận văn, luận án:
Đặng Thị Linh (1997), Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện
nay. Thực trạng và giải pháp, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện nghiên cứu Chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Hà Nội. “Kinh tế hộ gia đình
trong bước chuyển sang cơ chế thị trường ở nông thôn nước ta hiện nay”
(Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Ngừng), “Thực trạng gia đình Việt Nam và
vai trò của người phụ nữ trong gia đình”; Đề tài “Văn hoá gia đình với sự
hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay” (luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử văn hoá của Võ Thị Hồng Loan); Đề
tài “Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay-thực trạng và giải
pháp” (luận án tiến sĩ của Đặng Thị Linh); Đề tài “Bình đẳng giới trong gia
đình Việt Nam hiện nay” (luận án tiến sĩ của Chu Thị Thoa); Đề tài “Gia đình

trong xây dựng gia đình văn hoá ở Quảng Ninh nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích:
Trên cơ sở lý luận về gia đình, về vai trò của phụ nữ trong việc xây
dựng gia đình văn hóa và thực tiễn vai trò của phụ nữ tỉnh Quảng Ninh thời
gian qua, luận văn đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu để phát
huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hoá của tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của người phụ nữ
trong xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
- Khảo sát, phân tích và làm rõ thực trạng phát huy vai trò của người
phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay.

6
- Xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm
phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh
Quảng Ninh trong hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ vai trò của người phụ nữ và việc
phát huy vai trò của người phụ nữ trong việc xây dựng gia đình văn hoá hiện
nay ở Quảng Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu gia đình văn hoá ở Quảng Ninh, vai trò
của phụ nữ Quảng Ninh trong việc xây dựng gia đình văn hoá từ 1986 đến
nay, trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng vai trò phụ nữ Quảng Ninh trong
xây dựng gia đình văn hoá và đề xuất một số phương hướng, giải pháp phát

vai trò phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh trong thời
gian tới.

8
Chƣơng 1
GIA ĐÌNH VĂN HÓA VÀ VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
QUẢNG NINH TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA

1.1. Xây dựng gia đình văn hóa là đòi hỏi khách quan của công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
1.1.1. Quan niệm về gia đình và gia đình văn hóa
1.1.1.1. Quan niệm về gia đình
Gia đình là cái gốc của con người, nơi con người sinh ra, bắt đầu một
cuộc sống. Trong suốt cuộc đời, gia đình luôn luôn là điểm tựa, là cội nguồn
của tình cảm, là cái nôi của sự yên bình, là cái nôi vô cùng cần thiết cho cuộc
sống của con người và cho xã hội. Con người bắt đầu từ gia đình, văn hóa bắt
đầu từ gia đình mang dấu ấn của văn hóa gia đình. Gia đình như một nhóm xã
hội được cấu trúc theo theo những chuẩn mực văn hóa nhất định, như một tập
hợp những mối quan hệ giữa các cá nhân (vợ chồng, bố mẹ, con cái và anh
chị em…) theo cách nhìn đó, gia đình là một thành quả văn hóa của con
người, trên nữa là một thành tố văn hóa con người.
Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành từ khá sớm trong lịch
sử của loài người. Ngay từ buổi đầu của lịch sử, khi con người tách khỏi giới
loài động vật và tự tổ chức cuộc sống với tư cách là một cộng đồng độc lập,
thì cũng là lúc con người tự tổ chức cuộc sống theo các mô hình cộng đồng
nhỏ-hình thức sơ khai của gia đình. Lúc đầu gia đình chỉ bao gồm các thành
viên có quan hệ trực huyết với nhau, chủ yếu là những người mẹ cùng các
con, cháu (gia đình mẫu hệ). Sau đó gia đình được mở rộng bao gồm thêm các
thành viên khác, có thể có cùng huyết thống song cũng có thể không cùng
huyết thống. Ngày nay, quan niệm của một số người về gia đình không chỉ

tủi hổ với hàng xóm, láng giềng. Một gia đình hòa thuận còn là một gia đình
mà anh em biết bảo ban nhau cùng tiến bộ, biết thương yêu, đùm bọc lẫn
nhau, biết em ngã thì chị nâng. Để làm được điều đó, Nho giáo đòi hỏi mỗi
người trong gia đình phải biết giữ gìn và tuân theo lễ, bởi cho rằng, chỉ có lễ
con người mới trở thành con người xã hội.
Theo tác giả Levy Strauss: gia đình là một nhóm xã hội học được quy
định bởi ba đặc điểm: hôn nhân; qua hệ hôn nhân; các ràng buộc và trách
nhiệm giữa các thành viên.
Liên Hợp Quốc định nghĩa: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ
hàng cùng sống chung và có ngân sách chung [tr.90, 91].

10
Ở phương Tây, những năm gần đây xuất hiện nhiều dạng gia đình biến
thái khiến cho định nghĩa về gia đình đều trở nên bất cập. Chẳng hạn: các tác
giả Jame W.Vander Zanden-cho biết: “Một cuộc thăm thăm dò mới đây cho
thấy 45% người Mỹ ngày nay cho rằng một đôi không cần kết hôn mà cùng
chung sống với nhau thì được coi là một gia đình đích thực, 33% coi các đôi
cùng giới tính có nuôi nấng con cái là gia đình, còn 20% thì coi các cặp đồng
giới tính chung sống với nhau là một gia đình”. Đây có thể coi là một sự mở
rộng thái quá trong quan niệm về gia đình mà người Việt Nam khó chấp nhận.
Ở Việt Nam, những năm gần đây có nhiều tác giả và các công trình
nghiên cứu bàn nhiều về gia đình nhất là gia đình hiện đại. Theo tác giả Lê
Thi: Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội được hình
thành trên cơ sở hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và
cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội ngoại), gia đình có
thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ
huyết thống, các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và
quyền lợi (kinh tế), văn hóa, tình cảm), giữa họ có những ràng buộc về pháp
lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong luật hôn nhân và
gia đình ở nước ta). Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về

trong vài năm trở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu
được cả giới hàn lâm và giới chính trị quan tâm. Ở châu Á nói riêng, người ta
nói nhiều đến gia đình, văn hóa gia đình như một giải pháp để ngăn trở sự
xâm lăng của văn hóa phương Tây. Và không chỉ có thế, các quốc gia châu Á
trong đó có Việt Nam đang trải nghiệm trong một cuộc chuyển mình vĩ đại;
thực hiện công nghiệp hóa - đô thị hóa với quy mô và tốc độ ngày càng gia
tăng. Đồng thời với quá trình này ở Việt Nam là sự chuyển đổi sang cơ chế thị
trường. Cố nhiên, những chuyển biến kinh tế - xã hội mạnh mẽ đó không thể
tác động sâu sắc đến gia đình, một thiết chế lâu đời và bền vững song cũng
hết sức nhạy cảm với mọi sự biến đổi của xã hội.
Dựa trên những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về gia đình, gia đình
văn hoá và tình hình chung của hôn nhân và gia đình có thể nói và căn cứ vào
tình hình chung của hôn nhân và gia đình hiện nay chúng tôi cho rằng: gia
đình là một cộng đồng người đặc biệt được hình thành, phát triển và củng cố
hai mối quan hệ cơ bản là hôn nhân và quan hệ huyết thống hoặc quan hệ
nuôi dưỡng mặc dù không có quan hệ huyết thống nhưng được xã hội thừa
nhận. Các thành viên trong gia đình luôn thương yêu quý trọng và có trách
nhiệm lẫn nhau, có quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm về tài sản cũng như

12
người thân mà hoàn thành tốt việc nuôi dưỡng, xây dựng gia đình no ấm,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
1.1.1.2. Gia đình văn hóa và các tiêu chí của gia đình văn hóa
* Về gia đình văn hóa.
Gia đình văn hóa là khái niệm do Ban Chỉ đạo nếp sống mới Trung
ương đặt ra như là một mục tiêu để phấn đấu xây dựng gia đình nước ta.
Gia đình văn hóa là một danh hiệu để phong tặng cho những gia đình
đạt được hoặc thực hiện tốt các tiêu chuẩn do mô hình ấy đặt ra. Danh hiệu
này chỉ phẩm chất của gia đình, nói lên nếp sống có văn hóa trong gia đình.

nguyện đi đầu xây dựng gia đình văn hoá với ba nội dung:
- Gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,
trọng tâm là tham gia xây dựng hợp tác xã, không buôn bán bên ngoài.
- Xây dựng tinh thần đoàn kết thôn xóm, giúp nhau trong lao động sản xuất.
- Gia đình vệ sinh ngăn nắp, gọn gàng và chi tiêu tiết kiệm.
Ba nội dung trên trở thành ba tiêu chuẩn của phong trào xây dựng gia
đình ở thôn, xã, huyện, toàn tỉnh rồi sau đó lan sang các vùng lân cận.
Trên cơ sở đó khi cả nước thống nhất, Bộ Văn hoá phối hợp với Trung
ương Hội LHPN Việt Nam ra Thông tư liên bộ số 35/TT (12/5/1975) về việc
đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình mới, đưa ra tiêu chuẩn gia đình
văn hoá:
- Gia đình hoà thuận, bình đẳng, dân chủ, hạnh phúc, tiến bộ.
- Thực hiện sản xuất tốt, sinh đẻ có kế hoạch, thực hiện tiết kiệm.
- Thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ.
Năm 1986, phong trào “xây dựng gia đình mới” được gọi là phong trào
“xây dựng gia đình văn hoá”. Sau khi Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ tư (khoá VII) họp và ra Nghị quyết về “một số nhiệm vụ văn
hoá, văn nghệ những năm trước mắt”, Ban chỉ đạo nếp sống văn hoá Trung
ương đã sửa đổi nội dung và tiêu chuẩn gia đình văn hoá với 4 nội dung:
- Xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ.
- Thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
- Đoàn kết xóm giềng.
- Thực hiện tốt nghĩa vụ công dân.
Quan tâm đến gia đình và xây dựng gia đình văn hoá được Đảng và
Nhà nước ta cụ thể hoá qua các kì đại hội. Đại hội VI (1986), đại hội đặt nền
móng cho đường lối đổi mới của Đảng đã khẳng định: Gia đình là tế bào của

14
xã hội, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh
tế mới, con người mới. Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra


15
phần tạo nên thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trước sự phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn mới, tiêu chí gia đình văn
hoá có sự thay đổi, yếu tố “bền vững” của gia đình đã được bổ sung trong luật
hôn nhân gia đình mới. Do vậy, tiêu chí xây dựng gia đình văn hoá của Việt
Nam không chỉ no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc mà còn “vững bền”.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
đang tạo nhiều cơ hội và điều kiện cho gia đình phát triển, nhưng mặt trái của
cơ chế thị trường đang tác động mạnh đến các giá trị của gia đình. Trước thực
trạng đó, ngày 21-02-2005 Ban Bí thư đã có Chỉ thị số 49-CT/TW “về xây
dựng gia đình thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, với mục tiêu
chủ yếu của công tác xây dựng gia đình là “ổn định, củng cố và xây dựng gia
đình theo tiêu chí ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con”, no ấm,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc để mỗi gia đình Việt Nam thực sự là tổ ấm của
mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”. Từ đây, tiêu chí gia đình văn
hoá đã mang nội dung toàn diện hơn “ít con”, nhằm xây dựng gia đình Việt
Nam trong thời kì mới “ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, vững
bền”, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đến nay, 4 nội dung của tiêu chí xây dựng gia đình văn hoá trở thành
cơ sở để các địa phương vận dụng một cách sáng tạo vào địa bàn mình, bổ
sung thêm một số tiêu chuẩn hoặc chi tiết hoá các tiêu chuẩn bằng nội dung
cụ thể để các gia đình dễ hiểu, dễ thực hiện. Trong thời gian qua, phong trào
xây dựng gia đình văn hoá được kết hợp với phong trào xây dựng làng, bản,
khu phố văn hoá và trở thành trung tâm cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá” trên phạm vi toàn quốc.
Trải qua các thời kỳ khác nhau, các tiêu chí, tiêu chuẩn xây dựng gia
đình văn hóa cũng có sự thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Mới đây, ngày 10 tháng 10 năm 2011, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã ban
hành Thông tư 12/2011/TT-BVHTTVDL, trong đó có quy định chi tiết về

trong mỗi bản, làng, trong từng tổ dân, khối phố, phát huy vai trò tự quản, ý
thức chủ động, tích cực của cộng đồng. Đặc biệt là ý thức tự giác, tinh thần
tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau làm giàu chính đáng. Công tác trợ giúp
các gia đình khó khăn, công tác xoá đói giảm nghèo đã được các cấp chính
quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức xã hội quan tâm, tạo điều
kiện giúp đỡ.

17
Thực hiện Nghị quyết Trung ương V khoá VIII và hội nghị lần thứ X
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Xây dựng và phát triển nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Triển khai kế hoạch
thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” do
Chính phủ phát động, phát huy truyền thống văn hoá của quê hương, cùng
hoà chung với phong trào xây dựng gia đình văn hoá trong cả nước. Những
năm qua, phong trào xây dựng gia đình văn hoá của tỉnh Quảng Ninh đạt
được kết quả đáng phấn khởi, việc triển khai phong trào xây dựng Gia đình
văn hoá được cấp uỷ, chính quyền địa phương, các sở, ban, ngành, đoàn thể
trong tỉnh tích cực triển khai, nhân dân các dân tộc nhiệt tình hưởng ứng thực
hiện. Phong trào đã khai thác, phát huy được các giá trị văn hoá truyền
thống, đạo lý dân tộc, tạo thành động lực thu hút các gia đình thuộc nhiều
thành phần tham gia phong trào, từ các gia đình công nhân, nông dân, tri
thức, tiểu thương, lực lượng vũ trang, các thành phần tôn giáo… đều đăng ký
tham gia xây dựng gia đình văn hoá.
Kết quả số hộ gia đình văn hoá hàng năm được bình xét của tỉnh ngày
càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Trong phong trào đã xuất hiện nhiều
gia đình tiêu biểu xuất sắc, nhiều tấm gương “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con
cháu thảo hiền”, “anh em thuận hoà”, mang đậm nét truyền thống của gia đình
Việt Nam. Các thành viên trong gia đình không chỉ sống có trách nhiệm với
nhau mà còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, thực hiện kế hoạch hoá
gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau lúc gặp

nhiều đổi mới. Phong trào được nhân dân các dân tộc đồng tình hưởng ứng
thực hiện, khơi dậy và phát huy được tính tích cực, sáng tạo nguồn lực của
nhân dân, tạo ra sức mạnh đoàn kết toàn dân, góp được nhiều tiền của, nhân
lực để xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hoá, tạo ra sự thay đổi bộ mặt
văn hoá mới ở các cộng đồng dân cư, nhất là khu vực nông thôn. Phong trào
có tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần thực
hiện, phát huy dân chủ ở cơ sở, ổn định chính trị, giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội. Là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Nhân dân chủ
động, tích cực đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội; thực hiện nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, góp phần xây dựng tỉnh Quảng Ninh
giàu đẹp, bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc.
1.1.3. Yêu cầu xây dựng gia đình văn hoá trong giai đoạn hiện nay
1.1.3.1. Quan điểm của Đảng về vai trò của gia đình Việt Nam thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay

19
Trải qua các thời kỳ lãnh đạo đất nước, Đảng ta có nhiều chủ trương,
chính sách để phát triển “các tế bào” của xã hội sao cho thật mạnh khỏe, bền
vững để tạo đà cho đất nước phát triển.
Trong bối cảnh hiện nay, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước đang đứng trước nhiều vận hội cũng như thách thức, tác động mạnh mẽ
tới vị trí, vai trò của gia đình theo cả chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực. Bên
cạnh những thành công, tiến bộ, các “tế bào” của xã hội cũng đang chịu nhiều
rủi ro, mất mát. Trước những yêu cầu đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, vai trò của gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới
được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh và làm sâu sắc hơn.
Thứ nhất: Gia đình là nền tảng, tế bào của xã hội
Gia đình là tế bào, là nền tảng của xã hội được chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh khẳng định khi bàn về vai trò của gia đình đối với sự phát
triển của xã hội.

trước hết là từ mỗi gia đình, mỗi tế bào của xã hội. Các gia đình chịu trách
nhiệm trước xã hội về sản phẩm của gia đình mình, phải có trách nhiệm nuôi
dưỡng và giáo dục con cái, cung cấp cho xã hội những công dân hữu ích.
Cùng với nhà trường, gia đình tham gia tích cực nhiệm vụ “dạy người, dạy
chữ”, tạo ra lực lượng lao động tương lai có chất lượng cao.
Đây là điểm mới trong tư duy Đại hội XI của Đảng ta về vai trò của gia
đình đối với phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước. Gia
đình chính là “đơn vị xã hội” đầu tiên cung cấp lực lượng lao động cho xã
hội. Từ những người lao động chân tay giản đơn đến những người lao động trí
óc… đều được sinh ra, được nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình.
Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: gia đình không chỉ giữ vai trò
nền tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo
dục nếp sống, hình thành nhân cách. Gia đình giữ vai trò đặc biệt quan trọng
tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia. Gia đình
không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn gia đình phải
trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách
cho con người. Theo quan điểm của Đảng, gia đình no ấm, bố mẹ thuận hòa,
hạnh phúc là điều kiện, môi trường quan trọng, trực tiếp tạo nên các thế hệ
sau có chất lượng cả về thể chất lẫn tinh thần, góp phần đắc lực vào chiến
lược phát triển nguồn lực con người có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước hiện nay.

Trích đoạn Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội ở Quảng Ninh Những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy vai trò của phụ nữ Phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn Nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục ý thức pháp luật cho phụ nữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status