ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHUẤT THỊ HƯƠNG
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG
GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
Chương 1 NHẬN DIỆN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA 15
1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam bàn về địa vị của người phụ nữ trong xây
dựng gia đình 15
1.2 Quan niệm về gia đình và vai trò của người phụ nữ trong xây dựng
gia đình văn hóa 23
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA
ĐÌNH VĂN HÓA Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY 42
2.1 Đặc điểm địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội tác động đến
việc phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa
ở ngoại thành Hà Nội hiện nay 42
2.2 Thành tựu và hạn chế trong việc phát huy vai trò của phụ nữ trong
xây dựng gia đình văn hóa ở ngoại thành Hà Nội hiện nay 50
2.3 Một số vấn đề đặt ra đối với việc phát huy vai trò người phụ nữ
trong xây dựng gia đình văn hóa ở ngoại thành Hà Nội hiện nay 68
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
PHÁT HUY VAI TRÒ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH
VĂN HÓA Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY 78
3.1 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ
trong xây dựng gia đình văn hóa ở ngoại thành Hà Nội hiện nay 78
3.2 Một số kiến nghị, đề xuất cụ thể phát huy vai trò của phụ nữ trong
việc thực hiện các chức năng để xây dựng gia đình văn hóa trước tác
động của cơ chế thị trường ở ngoại thành Hà Nội hiện nay 95
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 108
3
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN TT
Nội dung bảng
Trang
Bảng 2.1
Kết quả điều tra về sử dụng các biện pháp tránh thai
hữu hiệu (cả nam và nữ trong độ tuổi)
54
Bảng 2.2
Kết quả điều tra về mức độ tham gia của vợ và chồng
trong việc giáo dục con cái
57
Bảng 2.3
Kết quả điều tra về vai trò của phụ nữ trong việc thực
hiện các nội dung giáo dục con cái
58
Bảng 2.4
Mức độ tham gia của vợ/chồng trong công việc gia
Ngày nay, kế thừa những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ truyền
thống, phụ nữ Việt Nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong gia đình
và ngoài xã hội. Đất nước đang từng ngày đổi mới, người phụ nữ cũng
mang trong mình một trọng trách, một vai trò quan trọng trong việc duy trì
tổ ấm của một gia đình. Cùng với các thành viên khác, họ đã và đang phấn
đấu xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, góp phần vào sự phát triển
của xã hội.
Gia đình văn hóa ở Việt Nam với chuẩn mực chung là: ít con, no ấm,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững luôn là một nhân tố có vai trò quan
trọng, tác động rất lớn đến sự thành công trong sự nghiệp phát triển kinh tế,
xã hội của đất nước, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Trong những năm gần đây, ở nước ta, việc xây dựng gia đình văn
hóa và phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình luôn
nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị
- xã hội và nhận được sự nhiệt tình ủng hộ của giới phụ nữ. Báo cáo chính
trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) đọc tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “ … Xây dựng và triển khai chiến
lược quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những
vùng và khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng cao; ngăn
chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạo lực trong gia đình. Tạo
điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đáp ứng
yêu cầu công việc, nhiệm vụ. Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật 5
chất, tinh thần của phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong việc xây dựng gia đình
và nuôi dạy con” [18].
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, thực hiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đang đặt ra nhiều vấn
đề đối với việc xây dựng gia đình bền vững và phát huy vai trò của người
trong gia đình có chiều hướng ngày càng gia tăng mạnh mẽ đến mức báo
động… trong đó người phụ nữ thường chịu nhiều thiệt thòi nhất. Để khắc
phục được tình trạng đó nhằm hướng tới xây dựng gia đình văn hóa thực
sự, đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của các thành viên trong gia đình, đặc
biệt là phát huy vai trò của người phụ nữ - nhân vật trung tâm trong việc
thực hiện các chức năng gia đình.
Do vậy, tôi đã chọn đề tài: “Phát huy vai trò của người phụ nữ trong
xây dựng gia đình văn hóa ở ngoại thành Hà Nội hiện nay” làm luận văn
tốt nghiệp với mong muốn góp một phần nhỏ vào sự nghiệp nâng cao vai
trò, địa vị của người phụ nữ Hà Nội cũng như xây dựng gia đình văn hóa
của Thủ đô đáp ứng yêu cầu mới của đất nước hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề phụ nữ, giải phóng phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong xây
dựng gia đình từ lâu đã được các nhà kinh điển, nhiều nhà khoa học tập
trung nghiên cứu.
Ở Việt Nam, trong những năm qua, Trung tâm Nghiên cứu gia đình
và phụ nữ thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu ở
một số điểm trong cả nước dưới những góc độ khác nhau đề cập đến vai trò
của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội như: “Thực trạng gia đình
Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong gia đình” (1990- 1991) - đề tài khoa
học cấp Bộ do Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ kết hợp với một số cơ quan
khác thực hiện. Đề tài nghiên cứu tập trung vào các nội dung: Hiện trạng
gia đình Việt Nam ở thành phố và vùng nông thôn; sự biến đổi về cấu trúc,
vai trò, địa vị của người phụ nữ trong gia đình; chức năng xã hội hoá, chức
năng giáo dục của gia đình và những gia đình phụ nữ đơn thân. 7
Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Vai trò của gia đình trong việc
hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam” do GS Lê Thi
chung, những vấn đề mang tính chất phổ biến và lý luận. Phần 2: Khảo sát
gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn. Phần này
gồm 7 bài viết khảo sát thực tế tại 10 điểm nghiên cứu cụ thể của cả 3 miền
Bắc - Trung - Nam, cả đồng bằng và miền núi, cả người kinh và người dân
tộc Các bài viết thực tế này sẽ khắc họa một cách rõ nét thực tiễn sinh
động tác động của những biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn đến đời sống
của các gia đình và người phụ nữ.
“Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ
trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, (2002), tác giả Đỗ Thị Bình (Trung tâm Nghiên cứu
Khoa học về gia đình và phụ nữ - Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn
Quốc gia). Cuốn sách đề cập đến những vấn đề lý luận về đặc điểm của gia
đình Việt Nam trong xã hội sản xuất nông nghiệp và sự biến đổi của gia
đình về mặt cấu trúc, chức năng, mối quan hệ nội tại… trong quá trình từ
sản xuất nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hóa. Điều tra,
đánh giá thực trạng cơ cấu, quy mô và vai trò, vị trí của gia đình cũng như
là của người phụ nữ trong việc thực hiện các chức năng: kinh tế, tái sản
xuất sức lao động xã hội, giáo dục… ở thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Cuộc điều tra được tiến hành ở khu vực miền Bắc trên cả 3 vùng lãnh
thổ: Hà Nội - đại diện cho thành phố, Hà Tây (cũ) và Hưng Yên - đại diện
cho đồng bằng Bắc bộ, Bắc Giang và Yên Bái - đại diện cho trung du và
miền núi.
“Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện
nay” CTQG, Hà Nội, (2004), . Trong cuốn sách này,
tác giả tập trung phân tích về cấu trúc, chức năng, vị trí, vai trò của người
phụ nữ trong gia đình và mối quan hệ giữa phụ nữ với gia đình. Đồng thời
đưa ra những biện pháp nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ trong gia
đình hiện nay.
TS Dương Thị Minh
10
giữa các thành viên, cùng những yếu tố cần thiết để có một gia đình hạnh
phúc.
“Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam” của TS Lê Ngọc Văn,
Nxb Khoa học - Xã hội, Hà Nội, (2011). Cuốn sách gồm ba phần, khái quát
hóa và hệ thống hóa những vấn đề cơ bản của gia đình và biến đổi gia đình
ở Việt Nam hiện nay và đưa ra gợi ý cho những nghiên cứu tiếp tục trên
chủ đề gia đình trong thời gian tới. Phần 1: Dựng nên nền móng lý luận khá
vững chắc về văn hóa gia đình. Phần 2: Gồm hai chương trình bày về sự
biến đổi chức năng gia đình và sự biến đổi cấu trúc gia đình. Phần 3: Tác
giả chỉ ra những vấn đề mới đặt ra từ sự biến đổi các chức năng của gia
đình, cấu trúc của gia đình. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra năm nhóm giải
pháp kiến nghị chủ yếu xây dựng gia đình Việt Nam thời kỳ công nghiệp
hóa và hội nhập quốc tế.
Dưới góc độ chuyên ngành CNXHKH, triết học cũng có một số luận
văn, luận án đề cập đến vấn đề này như: luận văn Thạc sỹ chuyên ngành
CNXHKH của Nguyễn Hồng Quán “Vai trò của phụ nữ trong gia đình ở
nước ta hiện nay”, Hà Nội, 1995; luận án Tiến sĩ chuyên ngành Triết học
của Đặng Thị Linh “Vấn đề phụ nữ trong gia đình Việt Nam hiện nay, thực
trạng và giải pháp”, Hà Nội, 1997; luận văn Thạc sĩ của Vũ Thị Huệ “Văn
hóa gia đình và vai trò của người phụ nữ trong xây dựng văn hóa gia đình
ở đô thị nước Việt Nam hiện nay”, Hà Nội, 2001; luận văn Thạc sĩ Triết
học của Lê Cẩm Lệ “Phát huy vai trò của người phụ nữ trong xây dựng
gia đình văn hóa ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay”, Hà Nội, 2006. Luận văn Thạc
sỹ Triết học của Lăm Phun Đuôn Sụ Văn “Phụ nữ thủ đô Viêng Chăn
trong xây dựng gia đình thời kỳ đổi mới ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân
dân Lào”, Hà Nội, 2010.
Ở những góc độ khác nhau, những công trình này đã đề cập đến đặc
XI của Đảng, vấn đề vai trò của gia đình và xây dựng gia đình văn hóa
trong thời kỳ mới được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh và làm sâu sắc hơn.
Như vậy, vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa đã
được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, song, cho 12
đến nay chưa có đề tài nào chuyên biệt nghiên cứu về vai trò của người phụ
nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở bốn huyện ngoại thành Hà Nội (Từ
Liêm, Hoài Đức, Chương Mỹ, Phúc Thọ) thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích vai trò và hiện trạng phát huy vai trò của người
phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở một số huyện ngoại thành Hà
Nội, luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy vai trò
của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở ngoại thành Hà Nội
thời kỳ CNH, HĐH.
Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về vai trò của phụ nữ trong xây
dựng gia đình văn hóa theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta.
- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai
trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở một số huyện
ngoại thành Hà Nội thời kỳ CNH, HĐH.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị nhằm phát huy vai
trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình văn hóa ở ngoại thành Hà
Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò, phát huy vai trò của người
trong xây dựng gia đình văn hóa ở 4 huyện ngoại thành Hà Nội (Từ Liêm,
Hoài Đức, Chương Mỹ, Phúc Thọ) trong giai đoạn hiện nay.
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò
của người phụ nữ trong việc thực hiện tốt các chức năng gia đình để xây
dựng gia đình văn hóa ở bốn huyện ngoại thành Hà Nội (Từ Liêm, Hoài
Đức, Chương Mỹ, Phúc Thọ) hiện nay.
14
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần nhận thức đúng đắn vai trò của người phụ nữ
trong xây dựng gia đình văn hóa ở bốn huyện ngoại thành Hà Nội (Từ
Liêm, Hoài Đức, Chương Mỹ, Phúc Thọ) trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các cấp ủy đảng, chính
quyền, các ngành có liên quan của thủ đô Hà Nội, cho công tác giảng dạy
bộ môn Chủ nghĩa xã hội khoa học.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.
15
Chương 1
NHẬN DIỆN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
biết có mẹ, thừa kế tài sản của mẹ, cá nhân không tách rời tập thể, cuộc
sống cộng đồng về nhiều mặt. Ph. Ăngghen còn khẳng định phụ nữ vai trò
to lớn trong việc phát triển kinh tế gia đình nhưng họ lại bị đối xử bất bình
đẳng: “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội
trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là
kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” [12, tr.115]. Do vậy, cả hai
phương diện đó – tái sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất ra con
người, phát triển kinh tế gia đình – đều khẳng định uy quyền của người phụ
nữ. Người phụ nữ được đề cao trong đời sống hiện thực, rồi từ đó trở thành
biểu tượng thiêng liêng trong tôn giáo nguyên thủy.
Sản xuất ngày càng phát triển, của cải tăng lên nhanh chóng và của
cải ấy đều thuộc của riêng từng gia đình. Vai trò của người đàn ông ngày
càng quan trọng bởi hầu hết tài sản của gia đình lúc này do họ làm ra như
lương thực, gia súc, nô lệ… số tài sản càng lớn và có ý nghĩa quyết định
trong gia đình. Khi đàn ông đã nắm được kinh tế trong gia đình, tất yếu họ
sẽ lợi dụng địa vị ngày càng quan trọng của mình để đánh đổ chế độ huyết
tộc theo mẹ bằng chế độ huyết tộc theo cha và xác lập quyền thừa kế tài sản
theo cha. Ph. Ăngghen nhận xét: sự thay thế chế độ phụ quyền bằng chế độ
mẫu quyền đã diễn ra hoàn toàn không có gì khó khăn mà thật nhẹ nhàng
bởi nó không hề thông qua một cuộc chiến tranh nào.
Nói cách khác, sự thắng lợi của chế độ tư hữu cũng chính là sự thất
bại của chế độ phụ quyền. Ph. Ăngghen cho rằng: “Chế độ mẫu quyền bị
lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của phụ nữ. Ngay cả
trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà
thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông,
thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần” [12, tr.115].
Sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến tình trạng áp bức nô dịch của
của giai cấp có của và giai cấp không có của. Sự nô dịch ấy trùng với sự nô
dịch của đàn ông đối với đàn bà. Ph. Ăngghen chỉ ra sự áp bức giai cấp đầu
đang sống (hoặc nói đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức 18
lo ăn, lo mặc cho gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố
gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có
“tiết kiệm” lao động của bản thân” [34, tr.173]. Phụ nữ có vai trò to lớn
như vậy nhưng họ không có quyền gì cả vì pháp luật không cho họ có
quyền bình đẳng với nam giới, đặc biệt trong gia đình họ là “nô lệ gia
đình”, bị nghẹt dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam
lũ nhất khổ cực nhất, làm cho mụ người nhất. Chính vì vậy mà theo V.I.
Lênin bình đẳng nam nữ không đồng nghĩa với sự ngang bằng theo kiểu
phụ nữ tham gia lao động với năng suất, khối lượng thời gian và điều kiện
như nam giới, bởi vì “ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng thì thật sự
phụ nữ vẫn bị trói buộc vì toàn bộ công việc gia đình đều trút lên vai phụ
nữ” [35, tr.231].
Trong xã hội TBCN, sự phát triển của sản xuất công nghiệp TBCN
đã tạo ra những điều kiện cho phụ nữ có thể tham gia vào các hoạt động
kinh tế, các hoạt động sản xuất xã hội. Lênin coi việc sử dụng lao động nữ
trong nền sản xuất công nghiệp TBCN là một khuynh hướng tiến bộ bởi vì,
một mặt, nó tạo ra cơ sở kinh tế mới cho sự phát triển của gia đình ở hình
thức cao hơn; mặt khác, nó là tác nhân quan trọng làm thay đổi từng bước
trong nhận thức của xã hội về vị trí và vai trò của người phụ nữ trong gia
đình và xã hội, từ đó dẫn đến những thay đổi trong quan hệ giữa nam và
nữ, đồng thời là những yếu tố thúc đẩy tiến tới bình đẳng nam nữ trên thực
tế. Như vậy, mặc dù phát triển kinh tế không hoàn toàn quyết định mức độ
bình đẳng nam nữ, song nó là cơ sở vật chất quan trọng, cần thiết để khẳng
định vai trò to lớn của người phụ nữ trong gia đình và tiến tới thực hiện giải
phóng phụ nữ và đạt được bình đẳng nam nữ trên thực tế.
nữ trong gia đình rất lặng lẽ. Nếu một gia đình nào thành công, được vinh
danh thì xã hội sẽ nhìn người đàn ông như một mẫu hình của sự giỏi giang, 20
thành đạt. Còn người phụ nữ trong gia đình đó chỉ là cái bóng, ít ai đánh
giá đúng và đánh giá hết được những cống hiến của những người chị,
người mẹ trong cuộc sống gia đình. Đó là những thiệt thòi mà người phụ
nữ nói chung và người phụ nữ Việt Nam đã phải gánh chịu trong suốt bao
thế kỉ.
Trước thực trạng đó, Hồ Chí Minh đã cho rằng, cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc không tách rời công cuộc giải phóng phụ nữ. Người từng
viết: “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền bình đẳng, trai
gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa xã
hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả
[24, tr.197]. Chính từ quan điểm tư tưởng của Người mà vị trí, vai trò của
người phụ nữ Việt Nam trong xã hội nói chung và gia đình nói riêng cũng
được nâng lên một tầm cao mới. Người phụ nữ, bên cạnh những đóng góp
cho xã hội thông qua các công việc chuyên môn của mình còn là nhân tố
tích cực, thậm chí khá quyết định cho một gia đình tốt.
Một gia đình tốt là một gia đình mà trong đó các thành viên trong gia
đình phải biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Do tàn dư của tư tưởng
phong kiến, người phụ trong gia đình ngay cả ở thời điểm hiện nay cũng
đôi khi bị coi thường. Không ít cảnh bất bình đẳng khi người phụ nữ vừa
phải gánh vác công việc xã hội, vừa phải toan lo việc gia đình. Chính Hồ
Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và Luật Hôn nhân và gia đình.
Người kêu gọi nhân dân bài trừ tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản, thói
gia trưởng trọng nam khinh nữ. Khi đến dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần
thứ III, Người nói: “Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính
sách nam nữ bình đẳng. Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi
sức mạnh, nâng cao tri thức và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là
nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng trong mọi thời kỳ cách
mạng. 22
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946)
ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ. Không lâu sau ngày miền Bắc được
giải phóng, Hiến pháp năm 1959 (Điều 24): phụ nữ nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới trong tất cả các hoạt động
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Hiến pháp 1980 (Điều 63): phụ nữ và
nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội và gia đình. Đến Hiến pháp năm 1992, Điều 63 quy định quyền bình
đẳng nam, nữ và bổ sung: “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với
phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”. Việc bổ sung này là cần thiết nhằm
phòng ngừa và chống lại những hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, đánh
đập, hành hạ, mua bán phụ nữ, sử dụng phụ nữ như là một công cụ để làm
giàu phi pháp.
Trên tinh thần bản Hiến pháp đã ban hành, Chính phủ đã thúc đẩy sự
tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa để xóa bỏ hủ tục, xây dựng thuần
phong mỹ tục. Đồng thời, tạo điều kiện để phụ nữ học tập, công tác, xây
dựng cuộc sống mới đem lại sự giàu mạnh cho đất nước và hạnh phúc cho
mọi gia đình.
Đảng ta cũng đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, chuyên đề về phụ nữ,
Nhà nước cũng có những chính sách đặc biệt dành riêng cho phụ nữ và
những chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Gần
đây, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng
định: “phải nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của
phụ nữ” [18, tr.243].
Các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước không chỉ
tồn tại của xã hội loài người, cùng với quá trình tái tạo ra bản thân con
người. Thứ hai, con người được tạo ra chủ yếu bởi hai mối quan hệ hôn
nhân và huyết thống. Đồng thời khái niệm gia đình còn luôn gắn liền với
khái niệm xã hội, trong đó gia đình được xem là tế bào của xã hội.