MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta đã và đang tạo ra
nhiều cơ hội đối với sự phát triển của gia đình đồng thời lại đặt ra nhiều thách
thức đối với việc xây dựng gia đình và việc kế thừa, phát huy những giá trị tốt
đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hóa ở
nước ta hiện nay.
Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt nam vẫn luôn được coi trọng như
một giá trị bền vững, có sức sống mạnh mẽ, là nền tảng, là tế bào của xã hội.
Truyền thống coi trọng gia đình, sống gắn bó với gia đình và tuân theo những
chuẩn mực đạo đức của gia đình truyền thống vẫn được nhiều người đồng
tình, khẳng định và coi đó là đạo lý làm người của người Việt. Ngày nay,
dưới tác động của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, gia đình Việt Nam
đang có những biến đổi một cách mạnh mẽ. Sự biến đổi ấy là một quá trình
thống nhất, liên tục vừa bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị tích cực
của gia đình truyền thống vừa tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trị
của gia đình hiện đại.
Trong quá trình diễn ra những biến đổi của gia đình, có những giá trị
đạo đức của gia đình truyền thống đã bị mất đi; lại có những giá trị đang biến
đổi dần dần, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới và cũng có những giá
trị quý báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy
như: sự chung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh của cha
mẹ với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên… đồng thời gia
đình Việt Nam hiện nay cũng đang tiếp nhận nhiều giá trị của gia đình hiện
đại như: tôn trọng tự do cá nhân, tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗi
thành viên trong gia đình; tôn trọng lợi ích cá nhân, bình đẳng nam nữ, vợ
-chồng… Điều đó cho thấy, gia đình Việt Nam hiện nay đang được củng cố
và xây dựng theo xu hướng hiện đại hoá: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ.
1
2
nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp đô thị cùng với quá trình
quốc tế hoá đang diễn ra mạnh mẽ đã có những tác động nhất định đến toàn
bộ đời sống các thành viên trong gia đình. Do đó, việc kế thừa những giá trị
đạo đức của gia đình truyền thống để xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh
Phúc hiện nay là hết sức cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi chọn vấn đề
“Kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt
Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề
tài luận văn thạc sỹ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Lịch sử nghiên cứu
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đình
dưới nhiều góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài của luận văn có
thể phân chia các công trình này thành các nhóm cơ bản sau:
Nhóm vấn đề chung về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam có
một số công trình như: “Gia đình Việt Nam ngày nay” Nxb. Khoa học xã hội,
1996; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của GS. Lê Thi,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; “Suy nghĩ về việc xây dựng chiến lược
phát triển gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Cộng sản, số 30 –
2003; “Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay ”
của GS. Lê Thi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Gia đình học” của
Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009;
“Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới”, Nhiều tác giả, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2010; “Các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam: Một số kết
quả phân tích sâu Điều tra gia đình Việt Nam 2006”, Viện Gia đình và Giới,
Nxb. Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch, Viện Gia đình và Giới, UNICEF Việt
Nam, Hà Nội, 2011… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát một
cách có hệ thống về sự biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình
trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Hôn nhân và gia đình đến nay
Việt Nam: Phân tích số liệu điều tra”, Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh
(chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008; “Bạo lực gia đình đối với
phụ nữ ở Việt Nam: Thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân”, Nguyễn Hữu
4
Minh; Trần Thị Vân Anh (đồng chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
2009… Qua các công trình này, các tác giả đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân,
ảnh hưởng và hậu quả của sự bất bình đẳng giữa các thành viên, nạn bạo lực
gia đình đang diễn biến nghiêm trọng, tác động xấu đến gia đình và xã hội ở
nước ta hiện nay.
Nhóm vấn đề tiếp cận và nghiên cứu gia đình dưới góc độ văn hoá và
đạo đức gia đình
Dưới góc độ văn hoá có một số công trình như: “Nho giáo và gia
đình”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; “Xây dựng gia đình văn hoá
trong sự nghiệp đổi mới”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; “Gia đình
và Phụ nữ trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn” của Nguyễn Linh
Khiếu, Nxb. Khoa học xã hội, 2001; “Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá
trị truyền thống”, Đặng Cảnh Khanh: Biên soạn, Nxb. Lao động xã hội, Hà
Nội, 2003; “Văn hoá gia đình và xây dựng gia đình văn hoá trong thời kỳ hội
nhập quốc tế” của Ths. Trần Thị Tuyết Mai, Tạp chí Cộng sản, số 161 –
2008… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát được những giá trị
văn hoá của gia đình, chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng văn hoá gia đình và
gia đình văn hoá ở Việt Nam hiện nay.
Dưới góc độ đạo đức gia đình có một số công trình như: “Đạo đức
mới” của Vũ Khiêu (Chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974; “Quan
hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng giá trị đạo đức hiện nay”
của Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, số 6, 1992; “Quán triệt mối quan hệ
giữa kinh tế với đạo đức” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý
cạnh của gia đình nói chung, cho đến nay còn rất thiếu những công trình
nghiên cứu cơ bản và hệ thống về việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo
đức của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở
tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xác định hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt
Nam, từ nghiên cứu thực trạng xây dựng gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn
6
khẳng định sự cần thiết phải kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của gia
đình truyền thống đồng thời chỉ ra một số giải pháp nhằm kế thừa và phát huy
những giá trị đó trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn tập trung giải
quyết những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm gia đình, gia đình truyền thống, gia đình
văn hóa và hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam.
Thứ hai, xác định những yêu cầu khách quan cần phải kế thừa và phát
huy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình
văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
Thứ ba, từ thực trạng xây dựng gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn chỉ
ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong xây dựng gia đình hiện nay.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm kế thừa và phát huy
những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình văn
hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những giá trị đạo đức
của gia đình truyền thống Việt Nam và kế thừa, phát huy các giá trị đó trong
xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
CHƯƠNG 1
GIA ĐÌNH VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA GIA ĐÌNH
TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
1.1. Gia đình và gia đình truyền thống Việt Nam
1.1.1. Gia đình và vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã
hội
* Khái niệm về gia đình
Đã từ lâu, gia đình luôn là điểm tựa, là cội nguồn, là cái nôi của sự yên
bình của mỗi người đồng thời gia đình là yếu tố vô cùng cần thiết của xã hội –
gia đình là tế bào của xã hội. Trong lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, để xây
dựng quan niệm duy vật về lịch sử, các ông đã dựa vào những tiền đề hiện
thực. Những tiền đề hiện thực này thường được C.Mác và Ph.Ăngghen sử
dụng với tư cách là những phạm trù xuất phát để nghiên cứu, mổ xẻ các quá
trình xã hội nhằm phát hiện ra các quy luật, mâu thuẫn, xu hướng vận động và
phát triển của nó. Những tiền đề hiện thực này được biểu hiện một cách cụ thể
qua các phạm trù, như phạm trù hàng hóa, con người, sở hữu... Điều đáng lưu
ý là, tất cả các phạm trù này đều có liên quan đến phạm trù gia đình. Bởi,
trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen gia đình là tế bào của xã hội,
tham gia vào mọi quá trình sản xuất, từ sản xuất hàng hóa đến tiêu thụ sản
phẩm; từ việc tái tạo ra con người đến việc đào tạo, bồi dưỡng con người; từ
chỗ tạo ra sự khác biệt về sở hữu đến chỗ giải quyết vấn đề sở hữu. Ngược lại,
các quá trình sản xuất, tiêu dùng, cải tiến và sử dụng công cụ lao động, giáo
dục và đào tạo... đều tác động trở lại gia đình, củng cố hoặc làm biến đổi hình
thức và kết cấu của gia đình.
Vấn đề gia đình là vấn đề được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập nhiều
lần trong các tác phẩm của mình. Các ông đã xem xét gia đình với tư cách
một xã hội thu nhỏ, các hình thức lịch sử của gia đình, nhất là gia đình với sự
xuất hiện của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; nghiên cứu mối quan hệ giữa
9
10
thu nhỏ: gia đình sản sinh ra các cá thể người, gắn kết các cá thể người thành
xã hội và khi xã hội loài người được hình thành thì những hoạt động của nó
thường xuyên tác động tới gia đình làm cho gia đình biến đổi về cả hình thức,
cấu trúc cũng như vai trò của nó đối với xã hội. Chính vì vậy, C.Mác và
Ăngghen luôn đòi hỏi nghiên cứu gia đình, nghiên cứu lịch sử loài người phải
gắn liền với lịch sử của công nghiệp và của sự trao đổi sản phẩm.
Khi luận chứng về những tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của con
người, C. Mác đã viết: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống bản thân mình, con
người bắt đầu tái tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ
giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [28, tr.41]. Với quan
niệm này gia đình được nhìn nhận với một số nội dung chính sau:
Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã
hội loài người; con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình thì
đồng thời cũng tạo ra gia đình.
Thứ hai, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở ra con người.
Thứ ba, gia đình được tạo bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn
nhân (vợ - chồng), quan hệ huyết thống (cha, mẹ - con cái).
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) C.Mác và Ph.Ăngghen
đã cho rằng, sự ra đời của nền sản xuất bằng máy móc hiện đại - nền đại công
nghiệp tư bản chủ nghĩa với lực lượng sản xuất mới đã dần xóa bỏ toàn bộ hệ
thống công trường thủ công, đã thay đổi sự phân bố dân cư và kết cấu ngành
nghề của xã hội và do vậy, sự "yên ấm” của từng gia đình cũng bị phá vỡ theo
dòng xoáy của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Không chỉ thế, nó còn làm thay
đổi vị trí và điều kiện sinh sống của gia đình, thay đổi nhu cầu thưởng thức
những giá trị vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong gia đình. Nếu
trước đây, nhu cầu tiêu dùng được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong
khác là do trình độ phát triển của gia đình” [30, tr.44]. Theo Ph. Ăngghen,
quá trình sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp là nhân tố quyết định
tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, cùng với trình độ phát triển của lực
12
lượng sản xuất thì sự phát triển của gia đình cũng đóng vai trò quan trọng đối
với sự phát triển của xã hội.
Thực tế đã chứng minh rằng, những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin về hôn nhân và gia đình đã và đang được thực tiễn chứng minh
là hoàn toàn có cơ sở khoa học, có giá trị thực tiễn cao, nhất là những tư
tưởng về những biến đổi của gia đình phụ thuộc và gắn liền với sự biến đổi
của các điều kiện kinh tế - xã hội nhưng có tác động quan trọng đối với những
biến đổi kinh tế - xã hội ấy.
Trên thế giới, hiện tồn tại rất nhiều hình thức gia đình với cấu trúc và
chức năng khác nhau. Có thể thấy, gia đình là một phạm trù xuất hiện sớm
nhất trong lịch sử loài người và trở thành phạm trù độc lập. Từ khi xã hội còn
lạc hậu đến thời đại văn minh, mỗi con người sinh ra, trưởng thành và từ biệt
cõi đời đều gắn bó với gia đình. Gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên
của mỗi cá nhân và là tế bào của xã hội. Chính bởi vai trò đặc biệt quan trọng
của gia đình nên vấn đề gia đình luôn nhận được sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu do đó khi bàn về khái niệm gia đình ở nước ta có rất nhiều quan
điểm từ những góc độ tiếp cận khác nhau như:
- Dưới góc độ văn hoá học, cố giáo sư Trần Đình Hượu cho rằng, gia
đình là một thiết chế xã hội mang màu sắc dân tộc và đánh dấu tiến trình phát
triển về văn hoá. Đó là thiết chế cơ sở nằm cạnh các thiết chế xã hội khác như
họ, làng, xóm, phường, hội, dân tộc, nhà nước có những thực thể: cá nhân và
cộng đồng mà cá nhân đó tham gia (như họ, làng, các tổ chức xã hội, dân tộc,
quốc gia) [16, tr.79].
gia đình: Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng chung sống
và có ngân sách chung. Cho đến nay, định nghĩa này được coi là quan niệm
chung và phổ biến khi nói về gia đình.
Nước ta hiện nay đang đứng trước yêu cầu của công nghiệp hoá – hiện
đại hoá, đổi mới và hội nhập quốc tế là vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối với
mọi dân tộc, quốc gia trong đó có Việt Nam. Trong quá trình này, không thể
không xét đến mối quan hệ của nó đối với vấn đề gia đình và do vậy, không
14
thể không vận dụng lý luận về gia đình trong kho tàng lý luận của các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác để giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Nghiên cứu
quan hệ gia đình trong sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là mối quan hệ giữa
gia đình và sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong di
sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen không những giúp cho chúng ta thấy
được tác động của quá trình cải tạo và phát triển kinh tế - xã hội, thấy được
những khuynh hướng biến đổi tất yếu của gia đình, mà còn giúp chúng ta
nhận thức được vai trò của gia đình đối với sự nghiệp đổi mới và mở rộng
hợp tác quốc tế ở nước ta hiện nay. Đó là vai trò của gia đình trong việc trang
bị tri thức mới cho thế hệ lao động tương lai, trang bị những hiểu biết căn bản
về những giá trị đạo đức truyền thống; nâng cao nhận thức về sự cần thiết
phải bảo vệ những ngành, nghề truyền thống trước những tác động tiêu cực
do mặt trái của nền kinh tế thị trường gây ra. Việt Nam đang đứng trước cơ
hội lớn để phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời cũng có những
thách thức nghiệt ngã cần phải vượt qua, trong đó có thách thức về xây dựng
gia đình Việt Nam trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của
gia đình truyền thống, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc
đổi mới và thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng xu thế toàn
cầu hoá. Nhận thức rõ điều này, Đảng ta đã đề ra chủ trương là định hướng
đề cao bởi tính quy định của nền văn minh nông nghiệp. Trong quá trình sản
xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có nhiều lao động, nhất là lao động của người
đàn ông. Gia đình càng đông con, nhất là đông con trai, thì lực lượng lao động
càng lớn và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất, đến các mối quan hệ trong
họ, trong làng. Tái sản xuất ra con người là điều kiện và là nhân tố không thể
thiếu để xã hội tồn tại và phát triển. Việc sinh con không chỉ nhằm thỏa mãn
nhu cầu, mong ước của người vợ, người chồng mà còn là vấn đề xã hội, vấn
đề duy trì tính liên tục sinh học của xã hội.
Có thể nói, chức năng tái sản xuất ra con người của gia đình có vai trò
đặc biệt quan trọng bởi nó là một trong hai loại sản xuất quyết định sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người.
16
Thứ hai, vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội được thể
hiện qua chức năng kinh tế. Gia đình là một đơn vị sản xuất kinh tế và tiêu
dùng của xã hội, có trách nhiệm tổ chức cuộc sống vật chất cho mỗi thành
viên đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của họ. Mặt khác, kinh tế gia
đình còn hỗ trợ cho kinh tế đất nước. Chức năng kinh tế của gia đình biến đổi
cùng với sự phát triển nền kinh tế chung của mỗi quốc gia.
Trong gia đình truyền thống, mỗi gia đình là một cơ sở sản xuất. Các
thành viên trong gia đình sống và làm việc cùng một nơi và cùng chia sẻ với
nhau cả về kinh tế lẫn tình cảm. Ngày nay, kinh tế gia đình đang tiếp cận
nhanh chóng với công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại, không ít gia đình trở
thành cơ sở kinh tế được tín nhiệm, thực sự là nguồn lực góp phần phát triển
đất nước.
Thứ ba, trong sự phát triển của xã hội thì chức năng tổ chức đời sống
của gia đình đóng vai trò rất quan trọng bởi nó mang đến sinh khí cho mỗi
thành viên của xã hội.
trong gia đình cũng có điều kiện để quan tâm đến nhau đến hạnh phúc chung
của gia đình nhiều hơn.
Thứ tư, chức năng giáo dục của gia đình là một trong những chức năng
quan trọng không thể thiếu của gia đình nó khẳng định vai trò to lớn của gia
đình trong quá trình tạo dựng nguồn nhân lực cho xã hội.
Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng bậc nhất của
cá nhân. Trong mỗi gia đình đều chứa đựng một tiểu văn hóa đã được xây
dựng trên nền tảng văn hóa chung, nhưng với những đặc thù riêng của từng
gia đình. Các tiểu văn hóa này được tạo thành, tồn tại và phát triển bởi giáo
dục gia đình, truyền thống gia đình, lối sống gia đình...
Trong gia đình hiện nay, chức năng giáo dục được chia sẻ cùng với
nhà trường và xã hội, tuy nhiên để tạo ra một lớp người phát triển toàn diện,
để nâng cao chất lượng của nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của công cuộc đổi mới đất nước thì chức năng giáo dục gia đình ngày
càng được coi trọng. Việc xây dựng nhân cách con người phải căn cứ vào yêu
18
cầu của xã hội, vào hệ thống giá trị thay đổi tùy theo mỗi giai đoạn lịch sử.
Gia đình tác động đến sự hình thành tình cảm, tâm lý, hành vi ứng xử văn hóa
đến tư cách, phẩm chất của con người. Thế giới quan, nhân sinh quan của cá
nhân chủ yếu được định hình sau này trong quá trình tiếp xúc với môi trường
và cộng đồng xã hội, song trong quá trình hình thành nó cũng chịu sự tác
động nhất định của gia đình, của các thành viên trong gia đình với nhau.
Là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình có chức năng
khá toàn diện, một trong những cơ sở khách quan khẳng định tính tất yếu về
sự hiện diện của gia đình đối với lịch sử và đối với mọi chế độ xã hội. Tuy
nhiên, mức độ thực hiện chức năng còn tùy thuộc vào điều kiện chính trị, kinh
tế, văn hóa của từng giai đoạn phát triển xã hội, của từng quốc gia dân tộc và
Gia đình là một cộng đồng đặc biệt mà đặc trưng là các thành viên có
quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống, họ có nhiều điều kiện để liên tục
thỏa mãn cho nhau hầu hết các nhu cầu từ đơn giản đến phức tạp. Do vậy,
những thành viên trong gia đình gắn bó sâu sắc với nhau về mặt tình cảm.
Điều đó trở thành nhu cầu quan trọng không thể nào thiếu được đối với mỗi
người. Có thể nói, không có cộng đồng nào, tổ chức nào có thể mang lại tình
cảm ấm áp, sâu sắc và thiêng liêng bằng tổ ấm gia đình. Mặt khác, phần lớn
gia đình được hình thành từ cái gốc là tình yêu đôi lứa. Tình yêu thương, tình
nghĩa vợ chồng chính là ngọn nguồn của mọi tình cảm tốt đẹp lan tỏa trong
các thành viên gia đình, tạo nên môi trường văn hóa gia đình, giúp cho mỗi
thành viên cân bằng tâm - sinh lý, phát huy khả năng thực lực và chức năng
khác của gia đình. Gia đình trở thành chỗ dựa tình cảm và tinh thần của mỗi
thành viên, nơi con người có thể bộc lộ rõ nhất bản chất, cá tính của mình,
đồng thời cũng nhận được sự quan tâm, khích lệ, đùm bọc của cả cộng đồng
đặc biệt này. Tình cảm gia đình trở thành nét đặc trưng về tính chất ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong quá trình hình thành và phát triển
nhân cách của họ.
1.1.2. Quan niệm về gia đình truyền thống Việt Nam
20
Gia đình truyền thống là một khái niệm mà các nhà nghiên cứu dùng để
chỉ loại gia đình đã hình thành và tồn tại trong quá khứ mà trong đó chứa
đựng nhiều yếu tố bền vững, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,
những yếu tố đó phản ánh nền văn hoá bản địa và tạo nên nét đặc sắc của văn
hoá dân tộc. Ở Việt Nam, gia đình truyền thống là một khái niệm mang nhiều
hàm nghĩa khác nhau. Trên thực tế, khái niệm này thường được hiểu chỉ là
một phần trong các ý nghĩa đó, chẳng hạn người ta có thể hiểu gia đình
truyền thống là gia đình Nho giáo hoặc gia đình phong kiến. Một số khác
xuất những sản phẩm tiêu dùng cho gia đình mình. Ngoài công việc cày cấy
ra mỗi gia đình làm thêm một số nghề thủ công như đan lát, trồng dâu, nuôi
tằm, dệt vải để tạo ra sản phẩm tiêu dùng cho cả gia đình. Với đặc thù sản
xuất lúa nước, trong gia đình đã có sự phân công lao động cụ thể giữa người
chồng và người vợ, thể hiện qua câu ca dao sau:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa”.
Công lao đóng góp của cả chồng và vợ là như nhau trong việc tạo ra
sản phẩm nuôi sống cả gia đình. Trong gia đình truyền thống thường quan
niệm “của chồng công vợ” do đó, người phụ nữ có vai trò quan trọng
trong quản lý các sản phẩm và chi tiêu trong gia đình. Người đàn ông trong
chế độ phụ hệ - Gia trưởng là người chủ gia đình về hình thức nhưng lại
không am hiểu tình hình kinh tế của gia đình bằng người vợ. Vì thế, người
đàn bà (người mẹ, người vợ) là người quyết định mọi thứ chi tiêu và quản lí
tiền bạc, tài sản trong nhà. Mặc dù, trong gia đình truyền thống, người phụ nữ
bị cột chặt vào lễ giáo phong kiến nhưng họ vẫn có vai trò nhất định trong gia
đình như: tề gia nội trợ, "tay hòm chìa khoá" hay "lệnh ông không bằng còng
bà", đàn ông là cái giỏ đàn bà là cái hom…
Thứ hai, phong tục thờ cúng tổ tiên là một trong những đặc trưng tiêu
biểu của gia đình truyền thống Việt Nam. Việc thờ cúng tổ tiên chủ yếu được
thực hiện ở nhà người con trai cả và nhằm vào tổ tiên trực tiếp về phía cha
(bên nội) trong phạm vi năm đời trở lại. Việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình
22
người Việt là tín ngưỡng rất quan trọng, một số nhà nghiên cứu đã cho rằng
việc thờ cúng tổ tiên là một chức năng của gia đình truyền thống. Để làm tốt
nhiệm vụ này dẫn đến một yêu cầu tất yếu là việc nối dõi tông đường. Điều
đó có nghĩa là, việc thờ cúng tổ tiên chỉ thực hiện được khi có con trai nên
người, là biểu thị giá trị xã hội của con người.
Gia lễ là lễ nghi gia đình. Gia lễ là sự quy định cách thức, nề nếp để
đảm bảo cho gia đình sinh hoạt theo đúng phép tắc, có lễ nghĩa phân minh
trên dưới rõ ràng. Lễ thường được diễn ra ở các hình thức sau: quan, hôn,
tang, tế. Quan là lễ để trân trọng sự ra đời và trưởng thành của con người.
Hôn lễ là sự cưới vợ gả chồng. Tang là việc ma chay. Tế là việc cúng bái, thờ
phụng. Gia lễ không chỉ là nghi thức theo thói quen, phong tục mà gia lễ còn
được ghi chép thành sách để mọi người cùng xem và thực hiện.
Gia pháp là phép tắc (mang tính luật lệ) trong gia đình. Gia pháp là
những qui định nhằm ngăn ngừa, uốn nắn, trừng phạt những hành vi sai trái
của các thành viên trong gia đình. Đồng thời gia pháp cũng nhằm mục đích
bảo vệ và đề cao uy thế của gia trưởng, gìn giữ sự đoàn kết nhất trí trong nội
bộ gia đình hoặc để giữ những bí mật gia truyền. Gia pháp khẳng định sự
nghiêm khắc của cha đối với con, của anh đối với em. Gia pháp luôn được giữ
nghiêm, nếu không sẽ bị thiên hạ chê cười, phê phán. Gia pháp là một thứ luật
lệ bất thành văn, ai cũng phải biết, tôn trọng và tự giác tuân theo.
Gia phong là phong cách gia đình. Đây là nề nếp, lề thói mà người
trong gia đình đều phải noi theo trong lời ăn, tiếng nói, hành vi ứng xử trong
gia đình cũng như ngoài xã hội. Gia phong thể hiện bản sắc văn hoá của từng
gia đình và do gia giáo chi phối, nói đến gia phong là nói đến trật tự, kỷ
cương của gia đình, nói đến những tính chất đặc biệt của quan hệ gia đình với
nhiều thói quen, tập tục sinh hoạt. Một gia đình có gia phong lành mạnh là
con cháu phải giữ gìn được nề nếp của cha ông “giấy rách phải giữ lấy lề”
hoặc giữ tư cách gia đình “đói cho sạch, rách cho thơm” hoặc “trai thì trung
hiếu làm đầu, gái thì tiết hạnh làm câu sửa mình”. Làm nhục gia phong là
24
phạm vào gia pháp và có thể bị trừng phạt nặng nề. Gia phong là nếp sống, là