ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ HUYỀN TRANG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60.22.85
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. VŨ THỊ TÙNG HOA
Hà Nội - 2013
2
Xin bày tỏ niềm tri ân đến gia đình, người thân và bạn bè đã chia sẻ,
động viên, giúp đỡ về vật chất, tinh thần trong suốt quá trình tôi thực hiện
luận văn.
Do hạn chế về mặt thời gian và năng lực của bản thân, luận văn
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô để luận văn của em
được bổ sung, phát triển và hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 2
Chƣơng 1 KHÁI NIỆM GIA ĐÌNH VĂN HÓA. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG GIA
ĐÌNH VĂN HÓA…………………………………………………………….11
1.1. Gia đình và gia đình văn hóa…………………………………………11
1.2. Cơ sở lý luận của việc xây dựng gia đình văn hóa………………… 23
1.3. Những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng gia đình văn hóa… 27
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HOÁ Ở TỈNH THÁI
NGUYÊN HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU……………… 43
2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội và đặc điểm gia đình truyền thống ở tỉnh
Thái Nguyên……………………………………………………………… 43
2.2. Thực trạng xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay –
thành tựu và những hạn chế……………………………………… 56
2.3. Một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác xây
dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay…………………….83
định, gia đình với tư cách là thành trì của hệ giá trị tinh thần truyền thống bị
công phá từ bên ngoài vào và từ trong ra. Gia đình từ chỗ là vật tải những giá
trị tinh thần bền vững nhất trở thành điểm xung đột xã hội. Gia đình ở nước
ta, bên cạnh những bước phát triển mới tiến bộ, thuận lợi đã phải đối đầu với
rất nhiều thách thức và bước đầu đã có những dấu hiệu khủng hoảng: những
thói quen, nếp nghĩ lạc hậu, cổ hủ phong kiến đang có xu hướng phục hồi;
3
những biểu hiện của chủ nghĩa gia trưởng; thói coi thường phụ nữ; nạn bạo
lực và xung đột gia đình đã phát triển ở cả thành thị và nông thôn.
Kế thừa những giá trị tốt đẹp về văn hóa gia đình truyền thống, gạt bỏ
những tàn dư lạc hậu trong các quy chuẩn về gia đình trước đây, Đảng ta đã
xác định “xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc,
thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường
quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn
và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [20, tr.103-104]. Đảng và Nhà nước ta
luôn luôn đề cao vị trí và vai trò của gia đình, phát huy đúng đắn sức mạnh
của gia đình trong cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc cũng như
trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Chính vì vậy, ở nước ta hiện nay việc
xây dựng gia đình mới được coi là một vấn đề cấp bách trong đó mục tiêu xây
dựng gia đình văn hóa là sự hỗ trợ tích cực cho việc gìn giữ, phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam. Đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, góp
phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5, Nghị
quyết Đại hội Đảng XI và các nội dung của chiến lược phát triển gia đình Việt
Nam 2020, tầm nhìn 2030.
Thái Nguyên được xác định là trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng
Trung du và Đông bắc bộ. Sau 27 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
đặc biệt từ năm 1997, khi tỉnh Thái Nguyên được tái lập, Đảng bộ và nhân
dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống quê hương cách
truyền thống gia đình cũng như mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình,
vai trò và tác động của văn hóa gia đình để xây dựng một gia đình văn hóa,
cũng như vai trò của gia đình văn hóa qua việc bảo tồn và phát huy các giá trị,
chuẩn mực tốt đẹp trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
5
- Tác giả Đinh Xuân Dũng (chủ biên), (2004) trong công trình “Xây
dựng môi trường văn hóa, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Ban Tư tưởng
- Văn hóa Trung ương, Hà Nội đã khái quát những thành tựu quan trọng trong
tư duy lý luận của Đảng về văn hóa. Tác giả đã nhấn mạnh sự cần thiết xây
dựng gia đình kiểu mới trong giai đoạn hiện nay, góp phần hiện thực hóa
thắng lợi một trong những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân
ta xây dựng “có một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.
- Tác giả Trần Hữu Tòng – Trương Thìn (chủ biên), (1997) với công
trình “Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội đã giới thiệu những quan điểm chỉ đạo đúng đắn của Đảng
và Nhà nước về vấn đề gia đình và xây dựng gia đình văn hóa; những lý luận
cơ bản về gia đình và gia đình văn hóa. Nêu lên một số kinh nghiệm chỉ đạo
phong trào ở các địa phương và những tư liệu để cán bộ chuyên trách công tác
xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tham gia chỉ đạo phong trào.
Tác giả Lê Thi (2002) với “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước
đổi mới”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội đã phản ánh về sự biến đổi của gia
đình Việt nam trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Đồng thời nhấn mạnh cơ
sở hình thành của gia đình văn hóa là sự kế thừa có chọn lọc giá trị đạo đức
gia đình truyền thống và sự tiếp biến giá trị tư tưởng hiện đại. Tiếp đó, đưa ra
một số biện pháp xây dựng gia đình văn hóa mà theo tác giả, biện pháp quan
trọng nhất chính là vai trò và trách nhiệm của mỗi gia đình.
- Tác giả Khổng Diễn (chủ biên), (2001) với “Dân số - kế hoạch hóa
gia đình các dân tộc ở Hòa Bình”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội đã tập trung
làm rõ thực trạng gia đình đồng bào các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình đồng thời
7
(2001 - 2006) và đề xuất những kiến nghị để thực hiện nghiêm túc nội dung
xây dựng gia đình Việt Nam đã được khẳng định tại Đại hội X của Đảng.
-Tác giả Trần Thị Tuyết Mai trong “Văn hóa gia đình và xây dựng gia
đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí Điện tử Việt Nam và Đông
Nam Á ngày nay 3/1999 và Vũ Thị Huệ trong “Danh hiệu gia đình văn hóa-
giá trị tích hợp của văn hóa gia đình Việt Nam ngày nay”, Tạp chí Lý luận
chính trị và truyền thông, 2008; “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công
tác xây dựng gia đình văn hóa” của Phan Văn Phờ - Trưởng ban Tuyên giáo
Tỉnh Quảng Nam, Tạp chí Tuyên giáo 5/2009 đã đi sâu phân tích khái niệm
gia đình văn hóa, xây dựng và vun đắp các mối quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình, những vấn đề cơ bản của gia đình Việt Nam trong quá trình
chuyển đổi hội nhập quốc tế. Từ đó, các tác giả khẳng định vai trò của mỗi
gia đình, cộng đồng trong việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em nhằm xây dựng
hạnh phúc con người.
- Tác giả Đỗ Thị Thạch trong bài viết “Về xây dựng gia đình văn hóa
Việt Nam dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 56
(8/2011) đã tập trung phân tích làm rõ nghị quyết Đại hội XI về vai trò của gia
đình, tầm quan trọng của việc xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới.
Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở nghiên cứu vấn đề gia đình
văn hóa tương đối toàn diện dưới góc độ tiếp cận chuẩn mực về hệ thống giá
trị văn hóa nền tảng của gia đình và xã hội.
Ngoài ra, nghiên cứu về gia đình cũng còn là mảng chủ đề nhận được
sự quan tâm mạnh mẽ của nhiều luận án khoa học thạc sĩ, tiến sĩ. Đã có một
số luận văn, luận án như sau:
- Tác giả Lê Cẩm Lệ (2001), “Phát huy vai trò của người phụ nữ trong
xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Bạc Liêu hiện nay”, luận văn thạc sỹ chuyên
ngành chủ nghĩa xã hội khoa học.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận chung về gia đình và gia đình văn hóa.
- Phân tích thực trạng việc thực hiện xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh
Thái Nguyên và đề xuất những giải pháp chủ yếu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các gia đình ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên
hiện nay trong việc thực hiện xây dựng gia đình văn hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn tập trung tiến hành khảo
sát thực tế kết quả thực hiện phong trào xây dựng gia đình văn hóa trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam,
chính sách của Nhà nước về vấn đề gia đình và gia đình văn hóa. Đồng thời,
kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin: phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương
pháp kết hợp logic và lịch sử, tổng hợp và thống kê, phân tích và tổng hợp các
tư liệu thực tiễn, điều tra xã hội học
6. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Kết quả thực tiễn việc xây dựng gia đình văn hóa và những biến động
của gia đình ở Thái Nguyên
10
- Đề xuất một số giải pháp, nhằm phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả
xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
trò quan trọng - có tính bao trùm trong lịch sử tổ chức đời sống của cá nhân,
xã hội, kinh tế, tôn giáo và chính trị. Sự tồn tại của gia đình, bản thân nó cũng
mang ý nghĩa một di sản văn hóa. Gia đình vừa là một nhân chứng của lịch sử
khi mang trong mình nó những dấu ấn của quá khứ, vừa là một mắt xích nối
liền quá khứ với hiện tại và tương lai thông qua những hoạt động nối tiếp
nhau không ngừng của các thế hệ trong gia đình.
Là một khái niệm mở có nội dung phức tạp, đa dạng và có tính lịch sử,
đồng thời với tư cách là một thiết chế xã hội có sức sống bền bỉ mãnh liệt
nhất, gia đình đã khẳng định vị trí quan trọng của mình trong tiến trình phát
triển của xã hội loài người. Khi đề cập tới khái niệm gia đình có rất nhiều cá
nhân và nhiều ngành khoa học đã nghiên cứu dưới những góc độ, phương
diện khác nhau. Trong đó có một số định nghĩa đáng chú ý như:
August Come, triết gia Pháp cho rằng “Gia đình là công cụ xã hội hóa
cá nhân, chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống xã hội, là trường học
của đời sống xã hội. Gia đình là một tập đoàn xã hội cơ bản và quan trọng
nhất”[Trích theo 31, tr.24].
Nhấn mạnh giá trị của gia đình, chính Ăngghen, khi nhắc lại những
nhận xét của Mác về “sự giống nhau giữa thiết chế gia đình với những hệ
thống chính trị, pháp luật, tôn giáo và triết học” đã cho rằng mọi thiết chế
khác đều có thể thay đổi theo những điều kiện kinh tế - xã hội khách quan
12
nhưng “chỉ khi nào gia đình đã hoàn toàn thay đổi thì những hệ thống ấy mới
hoàn toàn thay đổi”[13, tr.57]. Cũng theo sự phân tích của Ăngghen, cơ sở
căn bản cho sự bền vững của gia đình chính là sự chặt chẽ của các quan hệ
huyết thống. Những quan hệ này, thậm chí trong khi nhiều chuẩn mực và giá
trị trong gia đình có thể thay đổi thì chính bản thân tính huyết thống của nó
vẫn cứ “chai sạn rất lâu”. Trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình,
của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Ăngghen đã chỉ ra các giai đoạn phát
triển của gia đình với những đặc trưng về chế độ hôn nhân: đầu tiên là gia
các nguồn lực, các trách nhiệm trong thế giới đang biến động”. Tư tưởng chỉ
đạo là: sự thay đổi thế giới cần gắn liền với sự tiến bộ, sự tăng cường các
phúc lợi cho cá nhân thúc đẩy sự ổn định của gia đình và khẳng định: “Gia
đình là đơn vị được quy định thông qua mối liên hệ của cá nhân nói lên sự tái
sản xuất ra thế hệ sau và đặc biệt những mối liên hệ này được quy phạm và
thủ tục pháp lý phê chuẩn” [Trích theo 33, tr.96]. Cũng trong năm này,
“Tuyên bố về tiến bộ xã hội trong phát triển của Liên hợp quốc” nhấn mạnh
gia đình là “đơn vị cơ bản của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát
triển và hạnh phúc của mỗi thành viên” [Trích theo 26, tr.2].
UNESCO quan tâm đến giá trị của gia đình trong vốn tinh thần của
nhân loại, nghĩa là gia đình của tất cả các thời đại, các châu lục đều mang đặc
trưng chung của con người, đều mang tính nhân văn, nhân ái và nhân đạo và
khẳng định: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng sống chung
và có ngân sách chung.
Như vậy, theo quan điểm này, khái niệm “gia đình” mang ba đặc trưng:
Một là, gia đình được tạo ra bởi hai mối quan hệ hôn nhân và huyết thống
thường gồm vợ chồng, cha mẹ và con cái. Hai là, gia đình ra đời, tồn tại cùng
với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài người. Ba là, gia đình là đơn vị nhỏ
14
nhất trong xã hội có nền kinh tế chung, gắn bó với nhau bởi quyền lợi và
nghĩa vụ bắt buộc về mặt pháp lý.
Ở Việt Nam, khái niệm “gia đình” từ xưa đến nay được nghiên cứu dưới
rất nhiều góc độ khác nhau. Sinh thời, gia đình là một vấn đề lớn được Hồ Chí
Minh đặc biệt quan tâm gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.
Theo Người, gia đình không chỉ bó hẹp với những người có quan hệ ruột thịt
mà gia đình gồm những đồng nghiệp thậm chí mở rộng đến tận đồng bào hoặc
cả xã hội. Ví dụ: những người cùng lao động trong nhà máy, trong một cơ
quan, trong một hợp tác xã … đều phải đoàn kết và thương yêu nhau như anh
em trong một gia đình. Rộng hơn nữa là đồng bào cả nước đều là anh em trong
nghĩa khá hoàn chỉnh phản ánh được đặc trưng vốn có của gia đình.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho rằng: “Gia đình là tập hợp
những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do
quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với
nhau theo luật định” [34, tr.7] ; “là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng
con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp
phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [34, tr.25]. Đây là quan điểm chính thống
và là cơ sở pháp lý của Nhà nước ta để giải quyết vấn đề gia đình.
Hướng tới xây dựng gia đình bền vững, Chỉ thị 49CT/TW ngày
21/02/2005 Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) một lần nữa khẳng định:
“Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan
trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và
phát huy truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân
lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Theo giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
thì gia đình được hiểu là: “Một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con
16
người, một thiết chế văn hóa - xã hội của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên”.
Mặc dù diễn đạt có khác nhau tùy thuộc ở góc độ nhìn nhận, song xem
xét một cách chung nhất, nội hàm của khái niệm “gia đình” bao gồm những
đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, gia đình với tư cách là một nhóm xã hội đặc thù, được hình
thành và củng cố trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ
nuôi dưỡng.
Thứ hai, gia đình có sự cố kết nhất định giữa các thành viên trong gia
đình về kinh tế, về đạo đức nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại, nuôi dưỡng giáo
dục con người, kết tinh ở họ những tình cảm đặc biệt từ thế hệ này sang thế hệ
khác nhằm duy trì nòi giống và phát triển mọi mặt của đời sống. Qua đó, nảy
Kế thừa những giá trị tốt đẹp của văn hóa gia đình truyền thống, gạt bỏ
những tàn dư lạc hậu trong các quy chuẩn về gia đình trước đây, ngày nay,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới sự phát triển và ổn định của gia đình,
luôn đề cao vị trí và vai trò của gia đình mà thành quả là tạo ra sự thay đổi lớn
lao cho gia đình theo hướng phát triển và văn minh. Nghị quyết Hội nghị
Trung ương lần thứ 5 của Đảng đã đặt vấn đề gia đình vào một vị trí quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng văn hóa và phát triển về mọi mặt của đất
nước. Vấn đề đặt ra là phải tạo một đời sống lành mạnh trong các quan hệ xã
hội mà cơ sở đầu tiên là gia đình. Thực tế chỉ rõ, các gia đình hạnh phúc, đầm
ấm sẽ có tác động tích cực trở lại cho sự phát triển xã hội. Vì thế, củng cố gia
đình là củng cố hạt nhân của xã hội, đảm bảo dân giàu nước mạnh, đảm bảo
nguồn nhân lực có chất lượng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và đảm bảo
cho xã hội lành mạnh văn minh.
18
Tóm lại, vị trí của gia đình trong cuộc cách mạng hôm nay đã rõ, không
chỉ tích cực đóng góp về mặt phát triển kinh tế, mà còn mang một chức năng
khác không kém phần quan trọng đối với lĩnh vực phát triển văn hóa - xã hội.
Bản thân là một thực thể văn hóa, con người sống trong gia đình không chỉ
đơn giản có mối quan hệ huyết thống với chức năng sinh sản ra các thế hệ nối
tiếp mà trước hết, với tư cách là thành viên trong tổ ấm, con người trao cho
nhau những tình cảm vô tư nhất, trong lành và cao đẹp nhất, thiêng liêng nhất
không chỉ giữa những người đang sống mà còn cả với những người đã khuất.
Tất nhiên, bản thân gia đình và văn hóa gia đình cũng không phải là
một sự vôi hóa vĩnh cửu mà luôn vận động thay đổi không ngừng. Chính sự
tồn tại và phát triển của xã hội trong đó có gia đình đã phụ thuộc rất nhiều vào
sự vận động, tái sinh liên tục, khả năng thích nghi, cải tổ, chuyển biến và sáng
tạo của các giá trị gia đình. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ gia đình và xã
hội là một vấn đề quan trọng. Xã hội phải quan tâm tới gia đình và gia đình
phải thấy được ý thức và trách nhiệm của mình trước xã hội. Gia đình có tình
đình truyền thống được nâng cao lên thành giá trị văn hóa gia đình hiện đại -
gia đình xã hội chủ nghĩa - gia đình phát triển về vật chất và tinh thần thể hiện
qua nề nếp, kỷ cương, thuận hòa, êm ấm, yêu thương và có trách nhiệm với
nhau giữa các thành viên trong gia đình. Về điều này, Hồ Chí Minh khẳng
định: “Về tinh thần thì phải trên dưới thuận hòa không thiên tư thiên ái. Bỏ
thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất từ ăn
mặc đến việc làm phải ăn đều tiêu song, có kế hoạch ngăn nắp. Cưới hỏi, giỗ
tết nên đơn giản, tiết kiệm. Trong nhà, ngoài vườn sạch sẽ gọn gàng. Đối với
20
xóm giềng phải thân mật và sẵn sàng giúp đỡ. Đối với việc làng, việc nước
phải hăng hái làm gương. Người trong nhà ai cũng biết chữ. Luôn luôn cố
gắng làm cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng. Các gia đình cần
tích cực tham gia vào các hoạt động văn hóa của cộng đồng và lôi cuốn các
thành viên cùng tham gia qua đó giúp cho thành viên gia đình tiếp thu những
giá trị văn hóa dân tộc và làm cho nó trở thành giá trị văn hóa gia đình. Thực
hiện tốt chức năng biến văn hóa xã hội thành văn hóa cá nhân bằng sự giáo
dục và trao truyền văn hóa của mình”. [41, tr.100]
Ngày nay, gia đình văn hóa là gia đình phát huy được những truyền
thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội,
là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con
người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực
phục vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc với những đặc trưng khái quát sau:
Thứ nhất, gia đình văn hóa là gia đình ấm no, thuận hòa, tiến bộ, khỏe
mạnh và hạnh phúc, gia đình có kinh tế ổn định, hòa thuận, có kỷ cương nền
nếp, không có người mắc các tệ nạn xã hội; thực hiện nếp sống văn minh, giữ
gìn thuần phong mỹ tục, không sử dụng loại văn hóa phẩm thuộc loại cấm lưu
hành; trẻ em đang độ tuổi đi học đều được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo
văn hóa là sự kế thừa giá trị văn hóa gia đình truyền thống Việt Nam, tiếp
biến thêm các giá trị văn hóa của thời đại để phù hợp với tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, hướng tới mục
tiêu làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi
người. Đề cao giá trị văn hóa gia đình và vai trò của gia đình văn hóa là mục
tiêu có tính chiến lược cấp bách trong sự nghiệp xây dựng con người mới xã
22
hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phù hợp với truyền thống đạo lý của dân tộc và
quy luật phát triển tất yếu của xã hội.
Với mong muốn mỗi người dân Việt Nam là một nhân cách văn hóa, xã
hội sẽ trở thành một xã hội văn hóa và cả nước sẽ tạo ra một sức mạnh tổng
hợp của văn hóa, cho nên, Hồ Chí Minh cho rằng công cuộc xây dựng gia
đình văn hóa thực chất là một cuộc đấu tranh gay go và dai dẳng giữa cái cũ
và cái mới, cái lạc hậu và cái tiến bộ. Người chỉ ra phương pháp cũng như nội
dung cần thực hiện trong cuộc vận động này là: “cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ,
cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý, cái gì
cũ mà tốt thì phải phát triển thêm” [41, tr.95]. Từ đó, mục tiêu nhằm xóa bỏ
tư tưởng và hành động khinh miệt phụ nữ, nếp sống gia trưởng, thói “vinh
thân phì gia”, tư tưởng vị kỷ. Được đặt ra đồng thời với mục tiêu đó là sự cần
thiết xây dựng tư tưởng dân chủ, bình đẳng trong gia đình giữa vợ và chồng,
thái độ tôn trọng phụ nữ, xây dựng nhân cách trẻ em, tổ chức cuộc sống gia
đình dân chủ, hòa thuận hạnh phúc, văn minh tiến bộ. Xác lập và phát huy
những yếu tố tích cực của gia đình Việt Nam truyền thống như sự tôn trọng
cuộc sống gia đình, kính trên nhường dưới, tình cảm thủy chung giữa vợ
chồng, sự hiếu thảo của con cái đối với ông bà, cha mẹ, nền nếp gia phong
trong việc chăm sóc con cái; ý thức trách nhiệm với cộng đồng và xã hội là
những yêu cầu được đặt ra và thực hiện đối với gia đình văn hóa.
Như vậy, xây dựng gia đình mới - gia đình văn hóa là nhằm củng cố sự
vững bền của gia đình, xây dựng xã hội từ trong tế bào tự nhiên của nó. Để