Xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc
hiện nay
Hà Hoàng Giang
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học; Mã số: 60.22.03.08
Người hướng dẫn: TS. Dương Văn Duyên
Năm bảo vệ: 2013
Keywords: Triết học; Chủ nghĩa xã hội khoa học; Gia đình văn hoá; Vĩnh Phúc
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình, hai tiếng thật thân thương mà mỗi ai trong chúng ta cũng được sinh ra, trưởng
thành từ chiếc nôi ấy. Đối với mỗi con người Việt Nam mang tâm hồn Việt Nam, gia đình là nơi
thiêng liêng nhất, đó là nơi chan chứa yêu thương và đón nhận ta trở về vô điều kiện, là nơi chia
sẻ những vui buồn, sướng khổ, chứng kiến mọi biến cố cá nhân. Gia đình là chốn bình yên, nơi
an toàn, là tổ ấm, xoa dịu những nỗi đau, làm vơi đi những mệt mỏi thăng trầm trong cuộc sống
của mỗi con người. Gia đình còn là trường học đầu tiên của bất cứ ai trong mỗi chúng ta, giữ vai
trò giáo dục con người từ thuở ấu thơ cho đến khi từ giã cuộc đời, là nơi tổ chức sinh hoạt văn
hóa cho con người bắt đầu bằng tiếng ru của người mẹ và làn điệu dân ca của quê hương, là nơi
lưu giữ bảo tồn bền vững những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, là cầu nối giữa cá nhân
và xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở chúng ta về vai trò to lớn của gia đình, Người
coi gia đình là hình ảnh thu nhỏ, là hạt nhân, tế bào của xã hội. Sự hùng cường của một quốc gia,
sự bền vững của một dân tộc phải bắt đầu từ gia đình, Người khẳng định: “Rất quan tâm đến gia
đình là đúng và nhiều gia đình mới cộng lại thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình
tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”.
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
được, cũng còn nhiều hạn chế, rất cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để có những định
hướng kịp thời, góp phần tổ chức, triển khai cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá trên địa
bàn Vĩnh Phúc thực sự có hiệu quả trong thời gian tới.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề đã nêu trên, nghiên cứu công tác xây dựng gia
đình văn hoá ở Vĩnh Phúc hiện nay rất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tôi chọn: “Xây
dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất quan tâm đến
vấn đề gia đình và xây dựng gia đình mới - gia đình văn hoá. Từ đó đến nay, cùng với nhiều chủ
trương, chính sách về phát triển đất nước, xây dựng gia đình văn hoá được xem là một trong
những nhiệm vụ quan trọng đảm bảo sự bền vững của dân tộc ta. Xây dựng gia đình văn hoá trở
thành nhiệm vụ quan trọng trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.
Trong quá trình đổi mới đất nước, vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo,
nhà khoa học, nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau :
- GS.Vũ Ngọc Khánh (2007), “Văn hoá gia đình Việt Nam”, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
Tác giả đã cho thấy một bức tranh về gia đình văn hoá Việt Nam từ xưa cho tới nay với những
nét đặc trưng riêng biệt, và đã đề cập đến những vấn đề thực tiễn của sự biến đổi trong gia đình
người Việt.
- Hoàng Bích Nga (2005), “Để có một gia đình văn hóa”, Nxb Lao động, Hà nội. Tác
giả đã trình bày các giải pháp để có một gia đình văn minh, hạnh phúc, đó là trách nhiệm của
toàn Đảng, toàn dân và là quyền lợi của mỗi gia đình để gia đình đóng góp vào sự nghiệp nói
chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
- Đỗ Thị Thạch, “Về xây dựng gia đình văn hoá Việt Nam dưới ánh sáng Đại hội XI của
Đảng”, Tạp chí Cộng Sản, số 56 (8/2011). Tác giả đi sâu nghiên cứu, phân tích nghị quyết Đại
hội XI của Đảng để làm rõ vai trò của gia đình và xây dựng gia đình văn hoá trong thời kỳ đổi mới
được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi đó như nhân tố quan trọng góp phần giữ gìn sự
phát triển lành mạnh, an toàn của xã hội và sự ổn định dân số của mỗi quốc gia.
- Lê thi (chủ biên), (2002), “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà nội. Công trình đã nêu ra những vấn đề cơ bản như: gia đình, mục tiêu xây
- Lê Thi (1997),“Vai trò của gia đình trong sự hình thành nhân cách con người Việt
Nam”, Nxb Phụ Nữ.
- Lê Quý Đức và Vũ Thị Huệ (2003), “Người phụ nữ trong văn hoá gia đình đô thị”,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Lê Như Hoa (2001), “Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ
em”, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia
đình, văn hoá gia đình, xây dựng gia đình văn hoá, sự biến đổi của gia đình và văn hoá gia đình
trong bối cảnh mới, những vấn đề của gia đình Việt Nam từ truyền thống đến hiện tại, cũng như
ảnh hưởng của văn hoá gia đình đối với sự phát triển của cá nhân nói riêng và xã hội nói chung.
Nhìn chung, các công trình khoa học có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề
nghiên cứu của đề tài cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Điều đáng lưu ý, những yêu cầu về
xây dựng gia đình văn hoá ở nước ta, có sự biến đổi cùng với sự biến đổi về kinh tế - xã hội
trong từng giai đoạn lịch sử. Mặt khác, mỗi địa bàn khác nhau, tuỳ vào những điều kiện, hoàn
cảnh và văn hoá truyền thống khác nhau, mà xây dựng gia đình văn hoá có những yêu cầu khác
nhau. Vì vậy nghiên cứu về phương diện này đang có nhiều khoảng trống. Những công trình trên
đây mới chủ yếu đề cập đến gia đình, văn hoá gia đình, gia đình văn hoá nói chung, song chưa đề
cập đến vấn đề xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc. Vì vậy, nghiên cứu về xây dựng gia
đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc vẫn là một hướng nghiên cứu mới mẻ mà tôi hy vọng góp phần
nhìn nhận toàn diện và hệ thống hơn về vấn đề xây dựng gia đình văn hoá ở Vĩnh Phúc hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở đánh giá thực trạng xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua,
luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xây dựng gia đình văn hoá ở Vĩnh Phúc trong những
năm tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về gia đình, gia đình văn hoá trong thời kỳ đi lên chủ
nghĩa xã hội.
- Phân tích thực trạng xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua để
thấy được những ưu điểm và nhược điểm, mặt hạn chế, nguyên nhân của chúng.
References
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình chủ nghĩa xã hội học, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
2. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2002), Gia đình Việt Nam và người phụ
nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3. Bùi Đình Châu (2002), Văn hóa gia đình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
4. Doãn Chính - Đinh Ngọc Thạch (2008), Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác -
Ph.Ăngghen - V.I.Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. C. Mác - Ph. Ăngghen (1984), Toàn tập, tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội.
9. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. C.Mác - Ph.Ăngghen (1967), Vấn đề giải phóng phụ nữ, Nxb Sự thật, Hà Nội.
12. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (2005), Văn kiện Hội nghị kiểm điểm nhiệm kỳ 2001- 1005 thực hiện nghị
quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Vĩnh Phúc.
13. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Vĩnh
Phúc.
14. Đảng cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII ,Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII ,Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương
khóa VIII ,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Nữ, Hà Nội.
39. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
41. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
43. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
44. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
45. Hồ Chí Minh (1980), Toàn tập, tập 12, Nxb Sự thật, Hà Nội.
46. Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện
nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
47. Hoàng Bích Nga (2005), Để có một gia đình văn hoá, Nxb Lao động, Hà Nội.
48. Trần Đình Nghiêm, Trần Hoàn, Nguyễn Phúc Khánh (2000), Phác thảo chân dung văn hóa
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
49. Phan Ngọc (2004), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
50. Ph.Ăngghen(1984), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước, Toàn tập, tập
21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
51. Quan hệ các thế hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay từ góc độ xã hội học (2005), Lao
động và công đoàn, (343), tr.46-47.
52. Lê Thị Quý (2000), Bạo lực trong gia đình và bất bình đẳng trong quan hệ giới, Khoa học
về Phụ Nữ, (4), tr.18.
53. Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
54. Đỗ Thị Thạch (2011), Về xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng Đại hội XI
của Đảng, Tạp chí Cộng sản (Chuyên đề cơ sở),(56), tr.7-10.
55. Mai Thị Việt Thắng (2004), Sự phát triển và xung đột giữa cha mẹ và con cái, Khoa học về
Phụ Nữ, (4), tr.60-62.
56. Lê Ngọc Thắng (1998), “Phụ nữ dân tộc và miền núi trong đời sống kinh tế - văn hoá các
dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, (5), tr.12-15.
57. Lê Thi (1997), Bài viết: Gia đình Việt Nam và xây dựng văn hóa gia đình trong công cuộc
đổi mới, trong “Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc