LUẬN VĂN:
Kế thừa và phát huy những giá trị
đạo đức truyền thống của phụ nữ
Việt Nam hiện nay
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ chiếm trên 50% dân số và lao động xã hội, là lực lượng to lớn, đóng góp quan
trọng vào sự nghiệp cách mạng của nước ta. Họ với tư cách là người mẹ sinh thành nuôi
dưỡng cho đất nước các thế hệ công dân tiếp nối thực hiện sự nghiệp cách mạng của dân
tộc ta. Ngoài ra phụ nữ Việt Nam còn tham gia tích cực vào các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội Phụ nữ Việt Nam có truyền thống vẻ vang, nguyên Tổng Bí thư Đỗ
Mười đã nêu trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII: "Từ
xưa đến nay, phụ nữ Việt Nam luôn luôn giữ vị trí quan trọng trong quá trình hình thành
cộng đồng dân tộc, trong sự nghiệp đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước cũng như
Một số sách như: "Phụ nữ miền Nam" của Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ biên soạn; "Mười
năm tiến bộ của phụ nữ Việt Nam" (1985-1995) của Trung tâm khoa học xã hội và nhân
văn quốc gia, Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ biên soạn (Nhà
xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 1997); "Phát huy tiềm năng kinh doanh của phụ nữ Việt Nam"
do GS Lê Thi chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); "Vấn đề phụ
nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp" (Luận án PTS của
Đặng Thị Linh, 1996).
Tuy nhiên, vấn đề kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt
Nam trong tình hình hiện nay cần có những công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu
và có hệ thống hơn nữa.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
a) Mục đích của đề tài
Trên cơ sở phân tích thực trạng của việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của
người phụ nữ (qua thực tế Kiên Giang), đề xuất một số giải pháp có tính định hướng
nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị đạo đức truyền thống ở người phụ nữ Kiên Giang
hiện nay.
b) Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện mục đích trên luận văn phải thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản sau: - Làm rõ các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam và tầm quan trọng, nội
dung, yêu cầu của việc phát huy chúng trong tình hình hiện nay.
- Phân tích thực trạng của việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống ở phụ nữ Kiên
Giang; phân tích những nguyên nhân của thực trạng đó; từ đó rút ra những vấn đề cần
giải quyết để thực hiện kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống ở phụ
nữ.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả các giá trị đạo đức
truyền thống ở phụ nữ Kiên Giang.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
a) Đối tượng
- Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập
về đạo đức truyền thống dân tộc ở phụ nữ.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 2 chương, 4
tiết.
Chương 1
những Giá trị đạo đức truyền thống
của phụ nữ Việt Nam và yêu cầu kế thừa,
phát huy chúng trong giai đoạn hiện nay
1.1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc của phụ nữ Việt Nam
1.1.1. Truyền thống đạo đức dân tộc
Trong truyền thống của dân tộc có những truyền thống tốt và những truyền thống không
tốt. Những truyền thống tốt phù hợp với sự phát triển của lịch sử dân tộc được gọi là
những giá trị truyền thống. Trong đó những giá trị đạo đức truyền thống (GTĐĐTT)
đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Giá trị có thể được hiểu là: "Những thành tựu của con người góp vào sự phát triển đi lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và
hạnh phúc của con người xã hội. Giá trị vì thế được xác định bởi sự đánh giá đúng đắn
của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn" [25, 16].
Giá trị đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người. Nó là cái con người
dựa vào để xác định mục đích, phương hướng cho hoạt động của mình, là cái mà con
người mong muốn được theo đuổi. Giá trị là cơ sở đánh giá thái độ, hành vi đúng, sai,
nên có và không nên có của con người. Giá trị là cơ sở của các chuẩn mực, quy tắc xác
định cách thức hành động của con người. Cách thức và hành động xã hội được chỉ đạo
bởi các giá trị - Người ta dựa vào giá trị được xã hội chấp nhận để lựa chọn cách thức
suy nghĩ và hành động phù hợp nhất. Các giá trị, nhất là các giá trị chung, phổ biến được
coi như phương tiện cơ bản để tạo nên sự liên kết, hợp tác mọi thành viên trong nhóm,
cộng đồng. Bất kỳ một chế độ xã hội nào cũng được tổ chức trên cơ sở những giá trị và
nào đấy" [14, 61]. Và ông cho rằng, GTĐĐTT của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu
nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [14, 108].
Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: Trong những truyền thống quý báu của dân tộc, nổi bật
nhất là truyền thống đạo đức (Người trích nhấn mạnh) và khẳng định truyền thống đạo
đức cao đẹp của dân tộc ta bao gồm: lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần
cù và sáng tạo; tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó
yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [14, 74-86].
Theo Giáo sư Nguyễn Hồng Phong thì tính cách dân tộc gần như là tất cả nội dung của
GTĐĐTT bao gồm: tính tập thể - cộng đồng; trọng đạo đức; cần kiệm, giản dị, thực
tiễn; tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình, nhân đạo, lạc quan
[62].
Kết quả nghiên cứu của chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước: con người Việt
Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội (KX. 07) cũng đã khẳng
định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo đức, phẩm chất, nhân cách con người
Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người [58, 32-34].
Những GTĐĐ tinh thần truyền thống dân tộc được nói đến khá nhiều trong các văn kiện
của Đảng. Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về: "Một số định hướng lớn trong công tác tư
tưởng hiện nay" ghi rõ: "Những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thương người như
thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó sáng tạo trong lao động" [57, 19]. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng định:
"Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan
dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong
ứng xử, tính giản dị trong lối sống" [92, 56].
hiện đại". Hình thành sớm, được thử thách và khẳng định qua bao thăng trầm của lịch
sử, được bổ sung và phát triển qua từng thời kỳ, theo yêu cầu phát triển của dân tộc và
thời đại, chủ nghĩa yêu nước là một trong những giá trị cao quý bền vững nhất của dân
tộc ta.
Truyền thống yêu nước của dân tộc ta bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với lòng thương yêu
và quý trọng con người, nhất là người lao động.
Lòng thương người của ông cha ta có nguồn gốc sâu xa từ trong sinh hoạt công xã, nông
thôn, chế độ ruộng công, làng cùng họ từ đời cộng đồng nguyên thủy và được củng cố,
phát triển qua quá trình chung lưng khai phá giang sơn, giữ gìn đất nước.
Lòng thương người là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta. Nó gắn liền
với tinh thần chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm cứu dân, cứu nước, chống lại mọi bất
công, chà đạp lên cuộc sống con người. Nó thấm nhuần tình thương yêu đùm bọc lẫn
nhau giữa người và người trong sản xuất, chiến đấu, trong sinh hoạt thường ngày và
lòng yêu chuộng hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc, lạc quan tin tưởng vào sức mạnh
của nhân dân và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Đúng như Đại hội lần thứ V Đảng Cộng
sản Việt Nam khẳng định: "Người Việt Nam vốn có lòng yêu nước thiết tha, có tinh
thần dân chủ bình đẳng trong quan hệ giữa người với người, "thương nước - thương nhà,
thương người - thương mình" là truyền thống đậm đà của nhân dân ta" [89]. Truyền thống thương người của dân tộc Việt Nam được kết tinh cao đẹp trong con
người, cuộc đời và đạo đức Hồ Chí Minh. Người là biểu tượng sáng chói về lòng nhân
ái cho dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới noi theo. Vì thương nước, thương dân,
thương mình mà Bác đi tìm đường cứu nước, trải qua bao gian truân thử thách, vào tù ra
tội cũng vì yêu thương con người. Bác nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột
bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta
ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" [44, 161]. Từ ngày có Đảng đến nay,
truyền thống yêu nước và dân chủ của nhân dân ta được nâng lên một trình độ mới và
phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Lòng yêu nước, thương người là cơ sở sâu xa và
bền vững của chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa của chúng ta ngày nay.
Thật vậy, Bác Hồ của chúng ta đã dẫn lời của Dơ pu Puốc vin trong "Đây công lý" của thực
dân Pháp ở Đông Dương như sau: "Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, thờ kính
tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, thương yêu
giống nòi, tôn trọng lẽ phải, ghét xa hoa, không ham tiền tài, khinh vũ lực, không sợ gian
khổ hy sinh đó là đặc điểm về bản tính của người Việt Nam được hình thành từ bao thế
hệ, những thế hệ luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính. Người Việt
Nam bình thường mà ta gặp ở bất kỳ ở đâu cũng đều như vậy cả" [29, 265].
1.1.2. Những nhân tố quy định đặc điểm đạo đức của người phụ nữ Việt Nam
Đạo đức phụ nữ Việt Nam không tách rời những GTĐĐTT của dân tộc Việt Nam.
Nhưng đạo đức truyền thống của dân tộc được biểu hiện đặc thù ở người phụ nữ; điều
đó được cắt nghĩa bởi toàn bộ điều kiện sinh hoạt xã hội của họ.
* Vai trò của phụ nữ trong sản xuất
Sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người; trong
đó phụ nữ đóng vai trò to lớn.
Thuở sơ khai ban đầu, người ta cùng lao động chung: cùng sản xuất, hái lượm; nhưng
săn bắt với kỹ thuật nguyên thủy không phù hợp với phụ nữ. Sự phân công lao động
theo giới tính phát sinh và phát triển dần trong bày người nguyên thủy. Đó là một cơ sở
để xuất hiện và tồn tại chế độ mẫu quyền. Kinh tế hái lượm do những người phụ nữ phụ trách, đảm nhiệm một nguồn thức ăn
thường xuyên và quan trọng về số lượng cho các tập đoàn người nguyên thủy. Đồng
thời họ còn có vai trò quan trọng trong việc phát sinh nghề đánh cá, nghề chăn nuôi,
nghề gốm và nghề nông nguyên thủy. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh Việt
Nam là một trong những nơi có nghề trồng lúa nước sớm nhất. Khác với hái lượm, nền
nông nghiệp nguyên thủy là một nền kinh tế sản xuất, cung cấp nguồn thức ăn thường
xuyên và ổn định cho con người. Dưới con mắt và bàn tay chăm sóc, đảm nhiệm của
người phụ nữ nguyên thủy nông nghiệp dần dần phát triển. Và trong khi nâng cao toàn
bộ nền kinh tế nguyên thủy, văn hóa nguyên thủy, con người nguyên thủy, nó cũng nâng
cao vai trò, địa vị của người phụ nữ lên. ở thời đại đá mới, cùng với sự xuất hiện và phát
chung, sẵn sàng vì mọi người mà làm việc, đây là điểm nhận thấy đầu tiên trong đức
tính truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, vì họ tham gia tích cực vào lao động sản
xuất trong các xã hội cũ. Chính vì tinh thần làm chủ và ý thức cộng đồng như thế, mà
các thế hệ phụ nữ Việt Nam xưa đã biểu lộ một tinh thần dũng cảm tuyệt vời trong khi
đảm nhiệm những công việc lao động sản xuất của mình. Dũng cảm trong ý thức quyết
vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp, hoàn cảnh chật hẹp, mà lễ giáo xã hội có giai cấp
trước đây đã quy định cho chức phận chủ yếu của họ. Dũng cảm ở chỗ năm này qua
năm khác, ngày này qua ngày khác, đương đầu với nắng mưa, sương giá, nóng nực, bùn
lầy, biến khó khăn vất vả thành niềm vui.
Bên cạnh tinh thần dũng cảm đó là tinh thần cần cù nhẫn nại được hình thành từ trong
những điều kiện sản xuất khó nhọc. Chính nhờ tinh thần cần cù nhẫn nại đó mà người
phụ nữ có vai trò quan trọng đặc biệt trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Như vậy, qua việc thực hiện vai trò quan trọng của người phụ nữ Việt Nam trong nền
sản xuất nông nghiệp theo chiều dài lịch sử, hình thành ở họ những đức tính truyền
thống quý báu: Dũng cảm, đảm đang, sáng tạo và cần cù nhẫn nại.
* Vai trò của phụ nữ trong việc gánh vác công việc gia đình.
Ngoài vai trò quan trọng của phụ nữ trong sản xuất, phụ nữ còn có vai trò thiêng liêng
không thể thiếu được đó là vai trò gánh vác công việc gia đình.
Bất luận trước khi có sự phân công giữa nam giới và nữ giới về mặt kinh tế, trước khi có
sự phân công lao động theo giới tính thì đã có sự phân công giữa nam giới và nữ giới về mặt sinh con đẻ cái, điều mà Mác và Ăngghen đã gọi là "sự phân công đầu tiên". "Sự
phân công đầu tiên là sự phân công giữa đàn ông và đàn bà trong việc sinh con đẻ cái"
[38, 94]. Chức năng sinh đẻ và nuôi dạy con cái là chức năng mà người phụ nữ đã đảm
nhiệm trong những điều kiện sinh tồn hết sức gay go, căng thẳng của người nguyên
thủy. Họ vẫn phải thường xuyên lao động sản xuất, đảm nhiệm chức năng kinh tế ở
những lĩnh vực quan trọng nhất, đồng thời gánh vác cả chức năng sinh đẻ và nuôi dạy
con cái. Người phụ nữ nguyên thủy đã làm nhiệm vụ sinh đẻ và nuôi dạy con cái, trong
điều kiện của xã hội nguyên thủy, với một tinh thần tận tụy khôn cùng và lòng yêu thương
sản xuất vừa phải kín đáo chăm sóc và phục vụ người chồng của mình.
Khi đã sinh con đẻ cái ra "ở riêng", người phụ nữ có một gia đình của mình. Từ đây,
cho đến lúc về già, nhắm mắt, người phụ nữ chủ yếu làm nghĩa vụ và trách nhiệm của
người vợ, người mẹ. Vai trò của người phụ nữ bấy giờ chính thức là vai trò của một
người "nội tướng". Ngoài việc cùng với chồng lao động sản xuất để bảo đảm kinh kế
cho gia đình, người phụ nữ còn phải quán xuyến hầu hết công việc trong nhà mình: cơm
nước, chợ búa, tiền nong, củi lửa, dầu đèn, quần áo, gà lợn, vườn tược
Là mẹ của một đàn con, việc sinh đẻ, nuôi dạy, gây dựng cho con cái tới khi trưởng
thành là việc mà người phụ nữ xưa độc lực đảm nhiệm. Nên dân gian có câu "con hư tại
mẹ cháu hư tại bà".
Là một người vợ, gắn bó chữ tình với chữ nghĩa, người phụ nữ xưa, ngoài nghĩa vụ đối
với bản thân người chồng, còn gánh vác luôn cả phần nghĩa vụ của người chồng đối với
gia đình và xã hội.
"Lấy gì đóng góp cho chồng
Lấy gì giỗ chạp thổ công, ông bà
Lấy gì nuôi mẹ nuôi cha
Lấy gì thu xếp việc nhà chàng ơi
Lấy gì cho ngựa cho voi
Lấy gì đóng góp như đôi láng giềng".
Đây là nỗi lo toan quán xuyến trong suốt đời làm vợ của người phụ nữ xưa.
Nghĩa vụ và trách nhiệm làm con, làm vợ, làm mẹ qua suốt một đời người phụ nữ trong
gia đình xưa, thật nặng nề, người phụ nữ giữ một vai trò rõ ràng là trung tâm, là linh hồn chủ đạo của các gia đình. Nguyên nhân đưa đến thực tế đó là do những mầm mống tốt đẹp gây
dựng được từ thuở nguyên sơ, khi những người phụ nữ đảm đang quán xuyến những
"việc trong nhà" ở xã hội thị tộc, vẫn tiếp nối sang thời đại các xã hội có giai cấp. Mặt
khác, ở các xã hội này, như đã thấy, sự vắng nhà của người đàn ông đi chiến đấu, đi làm
công việc xã hội v.v là hiện tượng thường xuyên. Trong hoàn cảnh đặc biệt nhưng lại phổ
biến của lịch sử ấy, nếu không muốn quỵ xuống vì yếu đuối, bất lực, thì phải mạnh mẽ
Việt Nam xưa cũng biểu lộ những đức tính khiêm tốn, giản dị. Người phụ nữ có mặt ở
khắp mọi nơi, mọi việc trong gia đình, nhưng về mặt quyền lợi lại dường như vắng mặt,
không tồn tại trong gia đình, không bao giờ đòi hỏi cho mình điều gì.
Tính khiêm nhường, lòng vị tha, đức hy sinh và lòng yêu thương rộng lớn của người phụ
nữ xưa có một vị trí rất đặc biệt giữa chồng con họ. Người chồng gọi vợ là "nội tướng".
Người ngoài khẳng định "lệnh ông không bằng cồng bà". Và dân tộc thì trong khi xây
dựng hình tượng anh hùng đầu tiên của mình về Thánh Gióng, cũng kèm ngay hình
tượng của bà mẹ Gióng; bà mẹ biết bao tháng ngày mang nặng đẻ đau, chịu đựng biết
bao khổ nhọc, cho đến lúc tự tay mình mở đường cho con đi cứu nước.
Chịu đựng biết bao vất vả, khó nhọc, gian truân, để thực hiện vai trò, nhiệm vụ thiêng
liêng của người phụ nữ trong gia đình qua các thời đại, đã hình thành ở người phụ nữ
Việt Nam xưa những đức tính truyền thống cao đẹp: Trung hậu, đảm đang, tần tảo,
khiêm tốn, giản dị, giàu lòng vị tha, đức hy sinh.
* Vai trò đảm nhiệm công việc xã hội:
Ngoài vai trò lao động sản xuất, gánh vác công việc gia đình, phụ nữ Việt Nam xưa còn
có vai trò đảm nhiệm công việc xã hội.
Địa vị xã hội của người phụ nữ ở thời đại chế độ mẫu quyền thể hiện ở địa vị của họ
trong các gia tộc và thị tộc mẫu hệ - tế bào cơ bản và tổ chức phổ biến của xã hội mẫu
quyền.
Một người đàn bà cao tuổi nhất đứng đầu một gia tộc mẫu hệ. Người nữ tộc trưởng này
điều khiển mọi việc sản xuất trong gia tộc. Và thường cũng là người giữ ngọn lửa bếp
chính và trông nom việc chuẩn bị thức ăn chung cho cả gia tộc, tập trung sản phẩm lao
động của mọi người trong gia tộc rồi phân chia cho họ theo nguyên tắc tập thể. Người nữ tộc trưởng còn đứng ra phân xử hoặc hòa giải các vấn đề trong gia tộc, đứng
đầu các lễ nghi tôn giáo, tổ chức các hội vui
Truyền thống đảm nhiệm công việc xã hội của phụ nữ ở chế độ mẫu quyền, qua nhiều
thời đại vẫn được phát huy, nhất là trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. Cho nên, khi
đất nước bị nạn ngoại xâm đe dọa, khi đất nước đứng lên chống bọn thống trị giành lấy
đã viết: "Phụ nữ Việt Nam sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù.
Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu
nước" [84, 39].
Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (họp phiên
họp mở rộng), cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: "Lịch sử dân tộc ta từ xưa với tấm
gương chói lọi của Bà Trưng, Bà Triệu, trải qua các chặng đường, luôn luôn sáng ngời
hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, người sản xuất, người chiến sĩ, người vợ và người
mẹ, biết bao dũng cảm và dịu hiền, biết bao vị tha và tần tảo" [10].
Tại Đại hội đại biểu phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII năm 1997, nguyên Tổng Bí thư Đỗ
Mười đã phát biểu: "Từ xưa đến nay, phụ nữ Việt Nam luôn luôn giữ vị trí quan trọng
trong quá trình hình thành cộng đồng dân tộc, trong sự nghiệp đấu tranh lâu dài dựng
nước và giữ nước cũng như trong cuộc sống đời thường. Truyền thống và phẩm giá của
phụ nữ nước ta được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là lòng yêu nước, tính
nhân ái, đức hy sinh, trí thông minh, tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam. Tám chữ vàng
"Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" mà Bác Hồ kính yêu và nhân dân trao tặng
phụ nữ nước ta chính là sự đúc kết một cách sâu sắc truyền thống vẻ vang và phẩm giá
cao đẹp đó" [92, 90-91].
Dựa vào cách tiếp cận xác định GTĐĐTT ở phần đầu và cách thể hiện của các nhà lãnh
đạo về đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam có thể khẳng định các GTĐĐTT cơ
bản của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử lâu dài của dân tộc là:
- Yêu nước
- Anh hùng, bất khuất
- Trung hậu, đảm đang. Trong đó yêu nước là giá trị cao nhất, phổ biến nhất trong các GTĐĐTT của dân tộc
Việt Nam nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng. Truyền thống yêu nước là sợi chỉ đỏ
xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến đương đại.
Truyền thống yêu nước được hình thành rất sớm từ buổi đầu dựng nước và giữ nước.
Truyền thống đó của phụ nữ Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ trong quá trình
Bảy Trờ Bến Tre là người tham gia đấu tranh trực diện với kẻ thù đến 300 lần. Nhiều
lần chị bị kẻ thù đánh đập tàn nhẫn, có lần gần chết. Nhưng chị vẫn khăng khăng cương
quyết: "Cứ khiêng tôi đi tố cáo nó. Nếu tôi chết cũng đừng chôn tôi. Bà con có thương
tôi thì cứ khiêng xác tôi đi đấu tranh đến cùng, dù rã thây cũng được!". Hay chị Nguyễn
Thị Hạnh ở Long An, chỉ trong mấy năm không kể những thời gian vào tù ra tội, ngoài
cuộc đấu tranh chính trị và binh vận, chị đã đánh địch đến hơn 400 trận. Tạ Thị Kiều
tay không lăn vào đồn giặc vật lộn với chúng, cướp súng và cướp đồn. Kan Lịch khi tấn
công thì đi trước, rút lui thì đi sau, chỉ nổ súng khi còn cách giặc 5 mét. Còn biết bao
tấm gương anh dũng, bất khuất đã tô đậm thêm cho chí khí anh hùng của phụ nữ miền
Nam bằng tinh thần kiên quyết và triệt để cách mạng. Tinh thần ấy xuất phát từ niềm tin
vững vàng ở chính nghĩa và sức mạnh của mình, lòng tin ở sự tất thắng. "Nụ cười Võ
Thị Thắng", "Đấy chính là Việt Nam đang cười", "là cái nhìn của nữ thần chiến thắng"
[23].
Xuất phát từ tinh thần yêu nước, phụ nữ Việt Nam đã chiến đấu anh hùng, bất khuất để
giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Đấy là những GTĐĐ cao đẹp mà các thế hệ phụ nữ
tiếp theo phải kế thừa trong công cuộc xây dựng và bảo đảm đất nước hiện nay.
* "Trung hậu, đảm đang" là những phẩm hạnh tuyệt vời trong đạo đức truyền thống của
phụ nữ Việt Nam.
Người phụ nữ xưa đảm đang trong sản xuất nông nghiệp, nuôi sống xã hội; đảm đang
gánh vác công việc gia đình cho chồng, con đi chiến đấu Bên cạnh đó các thế hệ phụ
nữ Việt Nam xưa còn biểu lộ rất rõ đức tính trung hậu cao quý.
Yêu nước, trung kiên với nước: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh"; yêu chồng, chung
thủy sắt son với chồng: "Chồng em áo rách em thương. Chồng người áo gấm xông
hương mặc người". Tinh thần đó của phụ nữ Việt Nam xưa được nâng cao trong phong trào cách mạng dưới
sự lãnh đạo của Đảng.
Trong công cuộc xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất đất nước, phụ nữ hai miền
Nam, Bắc thể hiện rất rõ truyền thống nói trên.
chống quân thù của phụ nữ miền Nam. Song song với hoạt động đấu tranh chính trị, phụ
nữ miền Nam còn đảm nhiệm xuất sắc vai trò quan trọng của mình trong đấu tranh vũ
trang giết giặc cứu nước, cứu nhà. Đấy là những biểu hiện tuyệt vời của tinh thần đảm
đang đáng quý của người phụ nữ miền Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước.
Tinh thần đảm đang của họ trong thời kỳ mới cũng vượt lên với khí thế tấn công
liên tục. Khó khăn nhiều khi tưởng như quá sức người, nhưng phụ nữ vẫn là người góp
sức san bằng những khó khăn đó. Và nội dung đảm đang của người phụ nữ đã không chỉ
đóng khung trong việc quán xuyến việc nhà, việc làng, mà còn mở rộng ra tới những
công việc bao quát hơn, phức tạp hơn, đòi hỏi người phụ nữ phải có lòng thương yêu
giai cấp, chí căm thù giặc, lòng dũng cảm, tài khéo léo, trí thông minh Người phụ nữ
miền Nam đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu đó. Khi giáp mặt với kẻ thù, trước làn bom mũi
đạn, họ đảm nhiệm việc tiếp lương, tải đạn; chuyển tải thương binh về nơi an toàn. Giữa
vòng vây của địch, họ lại nhận nuôi chứa, chăm sóc thương binh và mở đường cho thương
binh thoát vây về đơn vị an toàn
ở hậu phương lớn, phụ nữ miền Bắc "đảm đang sản xuất và công tác", "đảm đang
gia đình", đảm đang phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu". Chiến tranh nổ ra, lập
tức sức người, sức của phải dồn một phần lớn vào cuộc chiến đấu. Những công việc hậu
phương do đó phải đảm bảo thực hiện trong điều kiện hết sức căng thẳng về nhân công,
nhân lực. Phụ nữ ở khắp nơi là lực lượng chủ yếu giải quyết tình trạng nhân công, nhân
lực căng thẳng đó. Hàng triệu phụ nữ đã đứng ra gánh vác việc sản xuất và công tác, và
đã lập nên những kỳ tích với tinh thần đảm đang thay thế nam giới đi chiến đấu. Đây
cũng là cách đánh Mỹ, cách biểu hiện tinh thần đánh giặc của họ. Phụ nữ không phải chỉ
có đứng ra thay thế nam giới làm tất cả các công việc mà còn tự đảm nhiệm lấy việc
quản lý và lãnh đạo của mình. Từ thực tế của phong trào phụ nữ quản lý và lãnh đạo các công việc, chỉ trong vài năm chống Mỹ, cứu nước, đã hình thành một đội ngũ cán bộ
phụ nữ rất đông đảo ở các ngành các cấp.
Đảm đang công việc gia đình vốn là truyền thống lâu đời của phụ nữ ta. Nhưng
chiến công của bộ đội, bất cứ về mặt nào cũng đều có công lao đóng góp tích cực của
phụ nữ. Họ đã trở thành một đạo quân đông đảo hàng triệu người làm công tác phục vụ
chiến đấu. Những người phụ nữ ấy trước hết đã làm nhiệm vụ của những chiến sĩ hậu
cần nhân dân, và họ còn là những chiến sĩ phòng không, là những chiến sĩ thông tin liên
lạc, là những chiến sĩ giao thông vận tải, là những người động viên cổ động chiến
trường và chiến đấu.
Phục vụ đắc lực cho công tác phục vụ chiến đấu, chính những người phụ nữ ấy,
khi tình huống xảy ra đã trở thành những chiến binh thật sự, những người bằng khẩu
súng và lá cờ chỉ huy của mình, tiêu diệt kẻ địch bằng những trận chiến đấu oanh liệt.
Đấy cũng còn là những người, bằng đủ tất cả những gì có thể sử dụng làm vũ khí, đã
đuổi giặc lái hàng cây số, bắt gọn những đứa "con cưng của không lực và hải lực Huê
Kỳ".
Đấy chính là tinh thần kiên quyết chiến đấu của những nữ chiến sĩ ở hậu phương
lớn. Đã biểu hiện khí phách hiên ngang, sức tiến công dũng mãnh của người phụ nữ ở
khắp nơi trên miền Bắc - những người phụ nữ đầu tiên trên thế giới đã góp phần đập tan
những cái gọi là "uy thế" của "không lực và hải lực Huê Kỳ".
Tất cả những hành động cách mạng đó nói lên tinh thần trách nhiệm, ý thức tập
thể và đồng đội rất cao của những người phụ nữ vốn đã mang truyền thống yêu nước
nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc, cùng với lòng thiết tha gắn bó với CNXH.
Như thế "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" - những phẩm chất quý báu
của phụ nữ Việt Nam đã được phụ nữ hai miền Nam - Bắc kế thừa, phát huy tuyệt vời
trong thời kỳ lịch sử mới. Đặc biệt là trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước. 20 năm bằng
biết bao năm trước cộng lại, phụ nữ Việt Nam vẫn giữ được tinh hoa của truyền thống cũ,