Đề cương tuyên truyền những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của phụ nữ việt nam cần giữ gin, phát triển trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Pdf 13

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN
NHỮNG PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC TỐT ĐẸP CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
CẦN GIỮ GÌN, PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KỲ CNH, HĐH ĐẤT NƯỚC
VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT
Câu 1: Quan niệm về pháp luật, ý thức pháp luật.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận, là công cụ quản lý xã hội và bảo vệ các trật tự xã hội theo ý chí của Nhà nước,
được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Pháp luật là một dạng
quy phạm xã hội bên cạnh những quy phạm đạo đức, tôn giáo, quy phạm của các thiết
chế, tổ chức, cộng đồng... để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhưng pháp luật do Nhà
nước quy định và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Người
vi phạm pháp luật có thể phải gánh chịu những dạng trách nhiệm pháp lý nhất định
như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, dân sự và nghiêm khắc nhất là trách
nhiệm hình sự.
Về vai trò của pháp luật, pháp luật có tầm quan trọng đặc biệt trong quản lý Nhà
nước và xã hội, bảo vệ trật tự an toàn và sự phát triển lành mạnh của xã hội. Điều 12
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa”. Pháp luật là phương tiện thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của
Nhà nước, của giai cấp nắm giữ quyền lực nhà nước. Đồng thời, pháp luật cũng đặt ra
những giới hạn đối với chính Nhà nước, đối với giai cấp, đảng phái nắm giữ quyền
lực Nhà nước, pháp luật quy định trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và công
dân. Với mỗi công dân, pháp luật là phương tiện ghi nhận và bảo vệ các quyền con
người, quyền công dân và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện
trên thực tế. Pháp luật cũng là phương tiện để mỗi công dân thực hiện các quyền tự do
cá nhân của bản thân, yêu cầu nhà nước phải bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, chỗ ở, tài sản... khi các quyền đó bị những tập thể, cá nhân khác xâm
phạm.
Tuy nhiên, từ pháp luật với tư cách là các quy phạm, các văn bản pháp luật đến
pháp luật được thực hiện trên thực tế là một khoảng cách. Việc pháp luật quy định một
khuôn mẫu xử sự nhất định nhưng thực tế có thực hiện theo đúng khuôn mẫu đó hay

hội. Như vậy, giáo dục ý thức pháp luật cho phụ nữ nhằm hình thành:
• Cấp độ thứ nhất, hình thành hệ thống tri thức pháp luật cho phụ nữ;
• Cấp độ thứ hai, hình thành lòng tin vào pháp luật;
• Cấp độ thứ ba, hình thành động cơ, thói quen xử sự theo pháp luật, thái độ không
khoan nhượng đối với các vi phạm pháp luật; hình thành hành vi pháp luật tích cực.
Trong các mục đích giáo dục pháp luật như trên, mục đích nào cũng quan trọng,
thói quen xử sự theo pháp luật và hành vi pháp luật tích cực là kết quả cuối cùng mà
quá trình giáo dục pháp luật hướng tới. Tuy nhiên, việc trang bị hệ thống tri thức pháp
luật chính là xây dựng nền tảng nhận thức, tạo nên cơ sở hình thành lòng tin, động cơ
và hành vi pháp luật tích cực. Thói quen xử sự theo pháp luật và hành vi pháp luật tích
cực là kết quả cuối cùng mà quá trình giáo dục pháp luật hướng tới.
Như vậy, công tác giáo dục ý thức pháp luật cho phụ nữ cần hình thành các cấp độ
ý thức pháp luật như trên mà không chỉ dừng lại ở việc trang bị một khối lượng kiến
thức pháp luật. Quá trình hình thành thói quen xử sự theo pháp luật và hành vi pháp
luật tích cực ở phụ nữ là một quá trình lâu dài, vừa do sự tự ý thức bên trong của mỗi
người, từ giá trị thực tế và nhu cầu sử dụng pháp luật của mỗi người, nhưng cũng
đồng thời là sản phẩm của quá trình giáo dục, tuyên truyền pháp luật và bồi dưỡng ý
thức pháp luật từ bên ngoài một cách lâu dài, bền bỉ với nhiều hình thức và mức độ
khác nhau.
Câu 3: Phụ nữ và pháp luật trong điều chỉnh quan hệ gia đình.
Phụ nữ chiếm tỷ lệ xấp xỉ 50% dân số và về cơ bản, 50% dân số này phải được
trang bị các tri thức pháp luật chung đối với toàn bộ dân số, điều này xuất phát từ
nguyên tắc bình đẳng về giới tính, dân tộc tôn giáo của công dân trong việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận tại Điều 5 của Hiến pháp năm 1992. Do đó, về
mức độ giáo dục, phụ nữ cũng như toàn bộ dân số, không có sự khác biệt về mức độ thụ
hưởng các kết quả giáo dục pháp luật.
Tuy nhiên, do những đặc thù về giới, dù hiến pháp và pháp luật có ghi nhận địa vị
bình đẳng về giới, nhưng nữ giới ở bất kỳ quốc gia, dân tộc, tôn giáo nào vẫn bị hạn
chế hơn nam giới trong việc tham gia các hoạt động xã hội, nữ giới có thiên hướng
gắn với gia đình nhiều hơn nam giới và đa phần nữ giới vẫn ưu tiên thực hiện các

bị xâm hại, các tội danh cụ thể được xếp thành 2 nhóm: nhóm các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân và nhóm các tội xâm phạm chế độ gia đình.
Đối với nhóm kiến thức pháp luật này, người phụ nữ cần nhận thức được nội dung
và thời điểm những quy định của pháp luật hình sự được áp dụng: một hành vi xâm
phạm khách thể của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình thường chỉ bị xử
lý hình sự khi hành vi vi phạm đã cấu thành tội phạm - khi có tính chất nguy hiểm
đáng kể và gây ra hậu quả nghiêm trọng, vượt ra khỏi phạm vi của một gia đình, cần
có sự tham gia giải quyết của Nhà nước để trừng phạt người phạm tội và giáo dục,
phòng ngừa chung. Ví dụ: với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng của người
đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc
người chưa có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà
mình biết rõ là đang có vợ có chồng - nếu chỉ dừng lại ở đây thì chưa thể xử lý hình
sự, phải gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý về hành vi này thì mới cấu
thành tội phạm xử lí không hiệu quả, đã gây ra những hậu quả tương đối nghiêm
trọng.
Là một bộ luật điều chỉnh tương đối tổng quát các lĩnh vực của cuộc sống, luật
hình sự bảo vệ mọi công dân trong xã hội, trong đó, người phụ nữ đương nhiên là đối
tượng được luật này bảo vệ và phụ nữ cần ý thức được một số nhóm tội khác mà họ
có nguy cơ cao trở thành người bị xâm hại trong quan hệ gia đình:
Một, hầu hết các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của con
người (ngoại trừ một số tội danh như: tội làm chết người trong khi thi hành công vụ;
tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; tội
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công
vụ; tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy
tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính).
Hai,một số tội xâm phạm các quyền tự do dân chủ của công dân như: tội bắt, giữ
hoặc giam người trái pháp luật, tội xâm phạm chỗ ở của công dân… (ví dụ: đối với
các hành vi giữ, trói vợ con, đuổi vợ con ra khỏi chỗ ở gây hậu quả nghiêm trọng...);
Ba, các tội xâm phạm chế độ sở hữu (ví dụ: đối với các hành vi chiếm đoạt hoặc
chiếm giữ, sử dụng trái phép, cố ý làm hư hỏng, hủy hoại tài sản thuộc sở hữu hoặc

quan hệ trong cùng gia đình, hành vi vi phạm hành chính diễn ra tại nơi công cộng
hoặc trong gia đình nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng) theo quy
định của Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội, gồm các hành vi sau đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status