Vấn đề phát huy vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở việt nam hiện nay - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

PHÙNG THỊ NGÀ

VẤN ĐỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS.HOÀNG THANH SƠN

Hµ néi - 2012

Phùng Thị Ngà

1

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị
LỜI CẢM ƠN

sức lực của bản thân tôi đã nghiên cứu và hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 hoàn toàn không trùng lặp hoặc sao chép kết quả của người khác. Các số
liệu trong khóa luận là trung thực. Khóa luận này chưa từng được công bố trong bất
kì công trình nào. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 05, năm 2012
Ngƣời thực hiện
Sinh viên

Phùng Thị Ngà

Phùng Thị Ngà

3

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
NỘI DUNG ................................................................................................. 11
Chương 1. LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIA
ĐÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG
GIA ĐÌNH ....................................................................................................... 11
1.1. Một số vấn đề lý luận về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ...... 11
1.2. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình qua các thời kì lịch sử Việt
Nam ................................................................................................................. 20

1. Lí do chọn đề tài
Trong mấy chục năm qua, cùng với cuộc đấu tranh giành độc lập thống nhất
đất nước, vai trò của người phụ nữ Việt Nam đã được khẳng định trong gia đình và
ngoài xã hội. Cùng với việc xây dựng chính sách mới, việc xây dựng gia đình văn
hóa mới cũng đạt được những kết quả đáng kể. Từ mô hình gia đình truyền thống
trong chế độ phong kiến, gia đình ngày nay đang từng bước biến đổi để hình thành
một kiểu gia đình mới - gia đình xã hội chủ nghĩa dân chủ, hòa thuận, tiến bộ.
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, gia đình Việt Nam gồm nhiều thế hệ sống
chung trong một mái nhà mà người ta thường gọi là “Tứ đại đồng đường”. Người
phụ nữ trong gia đình chịu nhiều ràng buộc khắt khe bởi các lễ giáo phong kiến.
Theo giáo điều phong kiến, người phụ nữ phải tuân theo lời dạy của “tam tòng, tứ
đức”, họ không thể tự quyết định vận mệnh của mình, hết phụ thuộc vào cha, vào
chồng rồi phụ thuộc vào con trai - khái niệm bình đẳng, ước mơ tự do, giải phóng
chỉ là xa vời.
Ngày nay, bộ mặt gia đình Việt Nam đã khác trước rất nhiều. Cho nên địa vị
người phụ nữ cũng thay đổi về cơ bản. Gia đình nhiều thế hệ giảm dần, gia đình hạt
nhân đã và đang tăng nhanh chóng. Địa vị người phụ nữ đã được nâng cao, một mặt
do nhà nước ban hành nhiều chính sách, luật, chế độ đảm bảo quyền bình đẳng
trong mọi mặt của đời sống xã hội và gia đình. Mặt khác, do bản thân người phụ nữ
đã có nhiều nỗ lực vươn lên, tự khẳng định mình và làm chủ cuộc sống. Luật hôn
nhân ra đời là cơ sở pháp lí đã góp phần giải phóng phụ nữ. Phụ nữ đã có mọi điều
kiện để có quyền học tập, làm việc, đóng góp tài năng, trí tuệ cho xã hội và có điều
kiện để xây dựng gia đình hạnh phúc.
Trước tình hình phát triển mạnh mẽ của xã hội, nhất là khi có chính sách mở
cửa đến nay, sự biến đổi của gia đình cũng nhanh chóng. Nhiều quan điểm về hôn

Phùng Thị Ngà

5


trò to lớn của người phụ nữ trong gia đình trong thời kì CNH, HĐH đất nước với
nhiều biến động. Đó là nhiệm

nghĩa cấp bách, đòi hỏi

sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, trước hết là các ngành, các cấp, các nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu vấn đề này.

Phùng Thị Ngà

6

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị

Đề tài “Vấn đề phát huy vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Việt
Nam hiện nay” mong muốn góp một phần công sức vào nỗ lực chung đó của toàn
xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phụ nữ và vai trò của người phụ nữ trong gia đình, từ lâu đã được
nhiều nhà tư tưởng và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin nghiên cứu.
Bác Hồ và Đảng ta ngay từ những ngày đầu cách mạng cũng đã dành sự quan tâm
thích đáng trong việc đề ra đường lối, chính sách nhằm giải phóng phụ nữ, phát huy
vai trò tối đa của họ trong gia đình và trong sự nghiệp cách mạng. Trên thực tế
người phụ nữ Việt Nam với truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm
đang” đã đóng vai trò cực kì to lớn trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đặc biệt là

“Thực trạng gia đình Việt Nam và vai trò phụ nữ trong gia đình” (1993), “Gia đình
Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước và vấn đề xây dựng con người” (1995),
“Đánh giá sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985 - 1995” (1995).
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về gia đình và vai trò
người phụ nữ trong gia đình đã được triển khai như: “Vai trò của gia đình trong sự
hình thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam” do giáo sư Lê Thi Tổng biên tập Tạp chí khoa học về phụ nữ là chủ đề tài. “Luận cứ khoa học cho việc
đổi mới chính sách xã hội đối với phụ nữ và gia đình” do phó Tiến sĩ Trần Thị Vân
Anh - ở Trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ làm chủ đề tài. Kết quả các cuộc
hội thảo và công trình nghiên cứu khoa học đã được đăng tải trên các tạp chí khoa
học đã phản ánh
ý nghĩa tham khảo, những tư liệu quý.
Cống hiến của các nhà khoa học nghiên cứu về phụ nữ trước hết phải kể đến
sự đóng góp của giáo sư Lê Thi –Tổng biên tập Tạp chí khoa học về phụ nữ, Bà đã
có nhiều công trình nghiên cứu về phụ nữ có

nghĩa như: “Thực trạng gia đình

Việt Nam và vai trò phụ nữ trong gia đình”, “Gia đình người phụ nữ và giáo dục
gia đình”, “Phụ nữ mục tiêu và sự phát triển ở Việt Nam”… Các bài viết của giáo
sư đã chỉ ra thực trạng vai trò của phụ nữ trong gia đình ở nước ta, nêu những kiến
nghị, thay đổi và bổ sung những chính sách đối với phụ nữ để họ phát huy vai trò
của mình trong sự nghiệp đổi mới. Giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết với“Phụ nữ Việt
Nam qua các thời đại” đã làm nổi bật vai trò của người phụ nữ trong suốt chiều dài
lịch sử dân tộc. Các phó tiến sĩ Đỗ Thúy Bình, Trần Thị Vân Anh, Lê Thị Qúy, giáo
sư Đặng Thanh Lê… là những nhà khoa học có nhiều công trình nghiên cứu về phụ
nữ.
Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu phong phú cho việc thực hiện đề tài
này nhằm tìm kiếm những giải pháp tốt hơn cho việc phát huy vai trò phụ nữ trong
gia đình ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của khóa luận

Minh, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về gia đình, vai
trò người phụ nữ trong gia đình.
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử trong nghiên cứu vấn đề phát huy vai trò người phụ nữ trong gia đình ở Việt
Nam hiện nay.
Phương pháp cụ thể: logic - lịch sử, phân tích tổng hợp, khảo sát thực tiễn,
điều tra, so sánh…
Ý nghĩa khóa luận
Với những đóng góp mới về mặt khoa học trên đây, khóa luận góp một phần
vào việc nghiên cứu những đề tài lí luận về vai trò người phụ nữ trong gia đình ở

Phùng Thị Ngà

9

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị

nước ta, cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc đưa ra những giải pháp tối ưu góp
phần nâng cao vai trò của phụ nữ trong gia đình ở nước ta hiện nay.
Ngoài ra, khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu của sinh
viên khoa GDCT và các khoa, ngành khác có liên quan.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận có kết
cấu bao gồm:

cảnh bất bình đẳng với nam giới, bị bóc lột thậm tệ, tha hóa. Các hình thức bất bình
đẳng và áp bức phụ nữ tuy có thay đổi trong từng thời kì lịch sử, nhưng bản chất
của sự bất bình đẳng không hề thay đổi. Để bảo vệ nhà nước thống trị, các nhà tư
tưởng của giai cấp bóc lột cố biện hộ điều đó bằng cách viện đến “giá trị không đầy
đủ” của người phụ nữ, viện đến chức năng làm mẹ vốn có của người phụ nữ.
Trái lại với quan điểm lấy con người làm xuất phát điểm, khi tạo lập hệ thống
lý luận của mình về xã hội, các nhà triết học Khai sáng như: Điđơrô, J.Rút-xô đã
phê phán quyền độc đoán của giai cấp phong kiến những phong tục bất bình đẳng,
những tệ nạn xã hội đã xô đẩy người phụ nữ đến những sinh hoạt phóng túng, còn
thực chất, phẩm hạnh của người phụ nữ nói chung là đúng đắn. Phuriê nhà XHCN
không tưởng nổi tiếng ở Pháp thế kỷ thứ XIX cho rằng “Làm ô nhục người phụ nữ
là nét căn bản và tiêu biểu của thời đại văn minh cũng như thời đại dã man”. Rằng,
“Giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ giải phóng xã hội”. Vấn đề đặt ra là: làm
thế nào để giải phóng người phụ nữ thoát khỏi thân phận nô lệ và địa vị thấp hèn, để
họ làm tròn thiên chức của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Do hạn chế về thế
giới quan và bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, các nhà tư tưởng tiến bộ đương thời,

Phùng Thị Ngà

11

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị

dù có nỗ lực vượt bậc, cũng không thể vượt qua được những hạn chế mà chính thời
đại họ chưa cho phép.

12

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị

hiện quyền lực của mình mà thôi” [24, tr.96]. Họ trở thành đầy tớ chính trong gia
đình, không được tham gia vào nền sản xuất xã hội. Như vậy, người phụ nữ bị tha
hóa cả trong gia đình và ngoài xã hội.
Tất nhiên, theo sự phát triển của lịch sử xã hội, trong các xã hội dựa trên chế
độ tư hữu, với sự biến đổi của các hình thức hôn nhân, hình thức phụ thuộc của
người phụ nữ vào chồng có sự thay đổi. Ở thời đại mông muội có chế độ quần hôn,
thời đại dã man có hôn nhân cặp đôi, ở thời đại văn minh có chế độ hôn nhân một
vợ một chồng được bổ sung bằng tệ ngoại tình và mại dâm. Từ chế độ quần hôn
chuyển sang hôn nhân cặp đôi thực hiện chủ yếu là nhờ phụ nữ. Chế độ CSNT tan
rã, dân số tăng nhanh, những quan hệ tính giao lúc này đã mất hết tính ngây thơ
nguyên thủy. Vì vậy, phụ nữ thiết tha mong muốn “được giữ trinh tiết để kết hôn
nhất thời hay lâu dài với một người đàn ông, coi đây là được giải phóng” [24,
tr.890].
Sự thay đổi các hình thức hôn nhân trong xã hội thể hiện sự tiến bộ của nhân
loại, nhưng đồng thời cũng nói lên một thực tế là đàn bà ngày càng mất đi quyền tự
do tính giao kiểu chế độ quần hôn, trái lại, đối với đàn ông quyền này vẫn được đảm
bảo và tăng cường. Trong chế độ gia trưởng và chế độ TBCN, người đàn ông có
quyền lấy nhiều vợ, có quyền ly dị vợ và có quyền ngoại tình. Luật pháp đã tạo mọi
điều kiện cho đàn ông thả sức sử dụng “những xa xỉ phẩm của lịch sử”, miễn là
người đó không dắt tình nhân về nhà mình. Trong xã hội TBCN thì quyền này của
đàn ông được sử dụng dưới nhiều hình thức. Với quan niệm coi vợ “chẳng qua chỉ

Như vậy, chế độ TBCN, phụ nữ luôn ở trong tình trạng mâu thuẫn không lối
thoát “Nếu làm tròn bổn phận phục vụ riêng cho gia đình thì phải đứng ngoài nền
sản xuất xã hội và không có một thu nhập nào cả, ngược lại, nếu muốn tham gia
công việc xã hội để kiếm sống một cách độc lập thì họ lại không có điều kiện làm
tròn nhiệm vụ gia đình” [24, tr.118].
Mặt khác, do môi trường làm việc hỗn tạp, trình độ trí dục và đức dục thấp,
nên hành vi thiếu văn hóa nhân cách là không tránh khỏi. Sự tha hóa nhân cách của
người mẹ đã ảnh hưởng xấu đến thiên chức làm mẹ, làm vợ trong gia đình. Vấn đề
đặt ra là làm thế nào để giải phóng và phát huy vai trò của phụ nữ trong gia đình và
xã hội?
Chính Mác và Ăngghen đã xem vấn đề giải phóng phụ nữ là nhiệm vụ, nội
dung của cách mạng XHCN. Theo Mác và Ăngghen, mọi sự bất bình đẳng, áp bức
với phụ nữ suy đến cùng là do chế độ tư hữu. Để giải phóng phụ nữ, vấn đề cơ bản
là phải xóa bỏ cơ sở kinh tế của sự áp bức, đó là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
Đồng thời phải xóa bỏ cơ sở xã hội của sự áp bức, đó là xóa bỏ sự đối kháng về giai
cấp và sự phân chia xã hội thành giai cấp. Từ đó, tình trạng “vợ phụ thuộc chồng,
con phụ thuộc vào cha mẹ” [22, tr.462], tệ nạn mại dâm công khai, cộng thê, những
tệ nạn làm nhục mạ phẩm hạnh người phụ nữ cũng bị thủ tiêu.

Phùng Thị Ngà

14

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị



15

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị

Là học trò xuất sắc của Mác và Ăngghen, Lênin đã phát triển học thuyết của
Mác và Ăngghen trong gia đoạn lịch sử mới: giai đoạn CNTB chuyển từ tự do cạnh
tranh sang giai đoạn CNĐQ và giai đoạn XHCN từ lý luận thành hiện thực.
Cũng như trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh, ở giai đoạn ĐQCN, địa vị
của người phụ nữ cũng không thay đổi, thậm chí còn tồi tệ hơn. Đối lập với bên kia
là một ít gia đình tư sản giàu có, lấy việc tăng lên của lợi nhuận làm mục tiêu là sự
nghèo khổ bao trùm lên mọi tầng lớp xã hội. Trong những gia đình khốn khó này,
phụ nữ là người sống đau khổ nhất. Vì muốn cả nhà được ăn no, mặc ấm, bằng một
số tiền hết sức ít ỏi, nên chị em hàng ngày phải tính toán chi li, phải đầu tắt mặt tối
với công việc “chỉ có sức lao động của mình là không hề tiếc”. “Họ sẵn sàng chấp
nhận số tiền công hết sức rẻ mạt, để kiếm thêm cho bản thân hoặc gia đình một mẩu
bánh mì”. Cùng quẫn, nhiều chị em rơi vào con đường cùng, nhục nhã họ phải bán
thân nuôi miệng. Trước cảnh cùng quẫn đó, theo Lênin, phụ nữ vô sản không thể
thụ động ngồi nhìn giai cấp tư sản có vũ trang đầy đủ bắn giết công nhân kém vũ
trang. Ngày nay, để giải phóng mình, chỉ có một con đường duy nhất phụ nữ đứng
lên cầm vũ khí, thủ tiêu sự áp bức nô dịch của CNTB, để tiến hành công cuộc xây
dựng CNXH. Với sự tham gia nhiệt tình của quần chúng lao động, trong đó có phụ
nữ đóng vai trò không nhỏ, cách mạng tháng Muời Nga thành công, nền chuyên
chính Công Nông được xác lập. Điều kiện chính trị để giải phóng người lao động,
giải phóng phụ nữ đã xuất hiện. Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng Bôn sê vích và

về kinh tế là quan trọng nhất. Muốn có bình đẳng về kinh tế, theo Lênin phải: “Phải
thủ tiêu chế độ tư hữu về ruộng đất, công xưởng, nhà máy, chỉ có như vậy mới có
thể chuyển từ lối làm ăn riêng lẻ sang lối làm ăn chung” [19, tr.221], chuyển nền
kinh tế nhỏ thành nền kinh tế lớn XHCN trên quy mô rộng lớn. Có như vậy, trình
độ năng lực và sự giác ngộ của phụ nữ được nâng lên, địa vị của người phụ nữ
ngoài xã hội được củng cố, vai trò của họ trong gia đình được phát huy.
Hai là, tạo điều kiện để phụ nữ được giải phóng, Lênin cho rằng: “Ngay trong
điều kiện hoàn toàn bình đẳng, phụ nữ vẫn bị trói buộc vì toàn bộ công việc gia
đình đều trút lên vai họ. Trong phần lớn trường hợp lao động gia đình do phụ nữ
gánh vác, là loại lao động hết sức vụn vặt, nặng nhọc, không giúp ích chút nào cho
sự tiến bộ của phụ nữ cả” [25, tr.231].
Sau cách mạng tháng Mười, mặc dù phải đương đầu với thù trong giặc ngoài
bề bộn công việc để bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ nhưng nhà nước Xô viết
dưới sự lãnh đạo của Lênin vẫn rất quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ. Lênin
yêu cầu các cơ quan, các cơ sở sản xuất “phải lập ra một số cơ quan kiểu mẫu như:
nhà ăn, nhà trẻ để phụ nữ thoát khỏi công việc gia đình” [20, tr.231]. Việc lập ra
các cơ quan đó, trước hết phải do chính phụ nữ đảm nhận. Nhà nước Xô viết còn
đưa ra chính sách: “Tất cả phụ nữ lao động có con nhỏ đều được dành thời gian cho
con bú vào các khoảng cách nhau không quá 3 giờ, được nhận một số tiền phụ cấp
và chỉ làm việc 6 giờ một ngày, cấm dùng phụ nữ lao động ban đêm, phụ nữ được

Phùng Thị Ngà

17

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp


này, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ mang tính dân tộc và quốc tế
sâu sắc.

Phùng Thị Ngà

18

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị

Tìm hiểu cuộc sống của người phụ nữ lao động khắp năm châu, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã rút ra kết luận: “Không chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành
động bạo ngược của thực dân” [22, tr.435]. Chế độ thực dân đã xúc phạm nhân
phẩm của người phụ nữ cực kì vô liêm sỉ. Để cứu nước giải phóng dân tộc, giải
phóng phụ nữ, Hồ Chí Minh cho rằng: chỉ có con đường duy nhất là cách mạng vô
sản. Cuộc cách mạng này muốn giành được thắng lợi phải “có nữ giới tham gia,
cách mạng mới thành công” [12, tr.219]. Vì vậy, vận động, tổ chức, giáo dục phụ
nữ là nhiệm vụ của chính Đảng của giai cấp công nhân. Một trong mười nhiệm vụ
cốt yếu của cách mạng Việt Nam mà Bác đưa ra là: “nam nữ bình quyền”.
Cùng với sức mạnh của cả dân tộc, sự đóng góp to lớn của phụ nữ đã góp phần
làm nên thắng lợi của cách mạng tháng Tám, đem lại hạnh phúc cho nhân dân lao
động và quyền bình đẳng cho phụ nữ ở nước ta.
Không chỉ vươn lên hoàn thành nhiệm vụ xã hội, với thiên chức làm vợ, làm
mẹ, phụ nữ phải nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc thế hệ trẻ “hết
sức chăm lo đến sức khỏe của con cái và thiếu nhi vì đó là tương lai của dân tộc”
[11, tr.498].

và tinh thần, nâng cao địa vị xã hội và quyền bình đẳng của phụ nữ, đẩy mạnh sự
nghiệp giải phóng phụ nữ” [3, tr.19].
Dưới ánh sáng của những chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, với sự
đóng góp to lớn của Hội liên hiệp phụ nữ, của các tổ chức và các đoàn thể nhân dân,
thông qua công cuộc cải tạo, xây dựng và đổi mới vì CNXH, phong trào giải phóng
phụ nữ ở nước ta đạt được những thành tựu đáng kể, đặc biệt, địa vị, vai trò của
người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đã được khẳng định trên thực tế.
1.2. Vai trò của ngƣời phụ nữ trong gia đình qua các thời kì lịch sử Việt Nam
1.2.1. Trong xã hội thời cổ
Trong xã hội thời cổ, gia đình Việt Nam theo chế độ mẫu quyền, người phụ nữ
giữ vai trò quan trọng: sinh đẻ, nuôi con, giữ lửa, làm nhà, sản xuất nông nghiệp,
đứng đầu các gia tộc, thị tộc, giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ thị tộc và làm công
việc “đối ngoại”. Từ đảm trách và thực hiện xuất sắc các công việc, nên người phụ
nữ đã giữ lấy quyền lực phân phối tài sản của tập thể. Ngày nay, trong các đền đài
còn lưu truyền các nữ thần như: chùa Bà Dâu, chùa Bà Giản… Điều đó chứng tỏ đa
số những người đứng đầu gia tộc, thị tộc là phụ nữ.
Thời kì gia đình cổ truyền, đặc biệt là ở 53 dân tộc thiểu số thì ảnh hưởng của
Nho giáo rất mờ nhạt và ở nhiều dân tộc người ta không biết đến “tam tòng tứ đức”
là cái gì hết. Ở những dân tộc đang còn trong thời kì chế độ mẫu hệ, các gia đình
nhỏ không được công nhận. Ở đó chỉ có những gia đình lớn bao gồm 3-4 thế hệ trở
lên, trong đó bà mẹ gốc làm chủ và cai quản mọi mặt trong gia đình lớn, sống trong
một căn nhà có khi dài hàng trăm mét. Thành viên của gia đình lớn là những gia
đình nhỏ. Gia đình lớn là đơn vị kinh tế của làng. Nhiều làng chỉ gồm 2 -3 gia đình
lớn - mọi phụ nữ trong gia đình lớn đều phụ thuộc vào mẹ gốc và có chút “quyền
mẫu hệ với chồng và với con”. Người chồng ở vị trí phụ thuộc - người phụ nữ
chiếm địa vị độc tôn của một gia trưởng.

Phùng Thị Ngà

20

Dưới chế độ phong kiến, quyền hành quốc gia tập trung ở vua, ở gia đình thì
tập trung vào người đàn ông gia trưởng. Sách Việt Nam văn hóa sử cương có viết:
“Theo nguyên lý thì trong chế độ phụ quyền, người gia trưởng có uy quyền tuyệt đối
trong nhà. Họ có những quyền như: Gia trưởng có quyền sở hữu và quản lý tài sản
của gia đình, vợ con phải làm lụng cho gia trưởng, chứ không ai được định lợi về
phần riêng…” [1, tr.116].

Phùng Thị Ngà

21

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị

Người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, được coi là tài sản của chồng. Luật
nhà Trần cho phép: đàn ông nếu có vợ ngoại tình được coi vợ như nô tỳ và được
phép cầm bán. Phép nhà Hồ quy định, nếu binh sĩ ra trận mà nhút nhát thì vợ con,
điền sản phải xung công. Triều đình phong kiến nhà Lý còn có tục bắt cung nữ chết
theo vua hoặc hoàng hậu, bằng cách đưa họ lên dàn hỏa thiêu.
Dưới thời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông đã ban 24 điều, trong đó có 9 điều
bắt buộc đàn bà, con gái phải theo. Đến thời Lê Mạt đời Cảnh Trị thứ XVII, vua Lê
lại định 47 điều giáo hóa, trong đó có nhiều điều giành riêng cho phụ nữ. Đến thời
Nguyễn - đời Minh Mạng, nhà vua lại ban bố “Thập điều” và hàng tháng bắt già
trẻ, gái trai tập trung ở các đình làng để nghe xã quan giảng giải. Cũng trong thời
gian này, nhà nước phong kiến đã dùng các sách “Nữ huấn”, “Nữ tắc” để giáo
huấn, trói buộc phụ nữ trong trật tự phong kiến.

pháp nhục hình và cực hình chỉ áp dụng riêng đối với phụ nữ như: gọt gáy, bôi vôi,
thả bè trôi sông và cho voi dày. Những hình phạt dã man này đã được miêu tả tỉ mỉ
trong nhiều chuyện Nôm ở thế kỉ XVIII như chuyện thơ “Lý Công”, chuyện “Vũ
vôi dày”.
Áp dụng mọi cực hình đối với phụ nữ, giai cấp phong kiến còn thực hiện triệt
để thuyết “Nam ngoại nữ nội” nhằm biến biến phụ nữ thành nô lệ trong gia đình
“Gái trong cửa kín như bưng
Khác nào chim chích vào rừng biết chi”
Hơn thế nữa, giai cấp phong kiến còn duy trì đạo “tam tòng” mà cơ sở kinh
tế của nó là quyền thừa kế tài sản, để tăng cường giám sát phụ nữ trong gia đình.
Nếu thời hậu Lê, luật Hồng Đức đã phản ánh một thực tế là từ thế kỉ XV trở về
trước, nếu gia đình không có con trai, người phụ nữ được kế thừa tài sản, được thờ
tự thì đến thời Lê Mạt, điều này không được thừa nhận. Phạm Đình Hổ - một nho
sỹ, tác giả của “Vũ trung tùy bút” cho rằng: “Người quân tử ai cũng đau lòng khi
phải nghe chuyện ấy”, “Cổ nhân phải ân cần về sự nối dõi, nếu chi trưởng không
có con nối dõi thì chi thứ kế tự chứ không để cho con gái kế tự”. Vì vậy, đối với
người phụ nữ dù có giỏi giang làm ra của đến đâu, vẫn chỉ ở vị trí phụ thuộc vào
chồng: “Trai tay không chẳng ăn mày vợ, gái trăm vạn cũng thể nhờ chồng”.
Cùng với đạo “tam tòng”, người phụ nữ còn bị trói buộc bởi đạo “tứ đức”.
Công bằng mà nói, những giá trị đạo đức này cũng có tính tích cực nhất định đối
với việc tu dưỡng, rèn luyện, để lầm tốt chức năng người mẹ, người vợ trong gia
đình. Song, dưới chế độ phong kiến, “tam tòng”, “tứ đức” thực sự là công cụ của
giai cấp thống trị, của người đàn ông để áp bức về tinh thần của người phụ nữ theo
chuẩn mực “phu xướng, phụ tùy”.
Pháp luật phong kiến đã tạo điều kiện cho đàn ông có thể bỏ vợ bất cứ lúc
nào. Điều 108, luật Gia Long cho phép người chồng và gia đình nhà chồng được tự
tiện bỏ vợ không cần phải ra trước công môn, chỉ cần làm giấy tờ bỏ vợ là đủ, nếu
người vợ có tội thất xuất, nghĩa là phụ nữ mắc một trong bảy tội sau: 1- Không có
con trai, 2- Lẳng lơ, 3- Không thờ phụng cha mẹ, 4- Lắm điều, 5- Ăn trộm, 6- Ghen


địa vị đàn ông, chế diễu, phủ định vai trò của họ như hàng loạt chuyện về đề tài
“chồng ngốc vợ khôn”.
Như vậy, trong thời kì phong kiến, người phụ nữ luôn bị khinh miệt và coi
thường dù là trong gia đình hay ngoài xã hội. Tất cả mọi công lao hay cố gắng của
họ đều không được công nhận. Hay nói cách khác là địa vị và vai trò của người phụ
nữ trong gia đình và ngoài xã hội bị hạ thấp.
1.2.4. Phụ nữ Việt Nam trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc
Đến giữa thế kỉ XIX, từ sự đình đốn của chế độ phong kiến Việt Nam, thực
dân Pháp ồ ạt xâm lược nước ta. Lịch sử đất nước bước sang một thời kì mới, ách
thống trị đè trĩu lên dân tộc Việt Nam trong đó có hơn một nửa là phụ nữ.

Phùng Thị Ngà

24

K34B - GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Giáo dục Chính trị

Đế quốc Pháp duy trì chế độ phong kiến bóc lột theo lối Tư bản chủ nghĩa
nặng nề hơn. Thời kì này, người phụ nữ trở thành những nạn nhân đau thương nhất
của những chính sách dã man vô nhân đạo của bọn cướp nước. Giai cấp địa chủ
nông thôn phát triển, ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân, người phụ nữ chỉ có
cách đi làm thuê cho người nhưng lại chịu sưu cao thuế nặng. Biết bao hình ảnh chị
Dậu, anh Pha trong tác phẩm “Tắt đèn” và “Bước đường cùng”. Khi nghe tiếng
trống thúc thuế sợ hãi đến kinh hoàng phải chạy vạy đủ cách để khỏi bị tra khảo, bị
cùm trói ở đình và nhà cửa bị vơ vét, tịch thu.

Trích đoạn Khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình nhằm bảo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status