LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế VAI TRÒ của CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG sản và DỊCH vụ đối với sự PHÁT TRIỂN nền NÔNG NGHIỆP HÀNG hóa ở CỘNG hòa dân CHỦ NHÂN dân lào - Pdf 39

5

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) là một nước
nông nghiệp kém phát triển, 80% dân số và 85% lao động xã hội sống và
lao động bằng sản xuất nông nghiệp (NN), NN chiếm vị trí đặc biệt quan
trọng trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Trong quá trình phát triển kinh tế, việc
chuyển nền NN độc canh mang tính chất tự cấp, tự túc sang kinh tế hàng
hóa (HH) là quá trình có tính tất yếu. Việc thực hiện quá trình này không
thể chỉ dựa vào sự nỗ lực chủ quan của NN, mà luôn đòi hỏi có sự trợ giúp
của công nghiệp (CN) và dịch vụ (DV), trong đó trực tiếp nhất là công
nghiệp chế biến nông sản (CNCBNS) và các hoạt động DV NN. Ngược lại,
sự phát triển của NNHH lại là điều kiện quan trọng để phát triển CNCBNS
và các hoạt động DV liên quan. Thấy được vai trò quan trọng của mối quan
hệ ấy, Đảng nhân dân cách mạng Lào (ĐNDCM Lào) đã xác định: "Để
chuyển kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, ngay từ đầu
hướng đi là phải phát triển nông - lâm nghiệp toàn diện gắn với phát triển
công nghiệp và dịch vụ. Coi nông nghiệp là cơ bản và lấy việc xây dựng
công nghiệp chủ yếu làm trọng điểm; khuyến khích và phát triển mạnh
ngành dịch vụ théo hướng từng bước hiện đại hóa... Đẩy mạnh và khuyến
khích phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu công nghiệp và thủ công nhằm chế
biến sản phẩm nông - lâm nghiệp" [106, tr. 32; 37].
Song, trong những năm qua, tuy ngành CNCBNS và DV ở Lào đã
từng bước phát triển và góp phần khá nhiều vào việc thúc đẩy phát triển
NN, nhưng so với yêu cầu mới của phát triển sản xuất NNHH thì quả thực
là còn ít ỏi. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với CHDCND Lào là việc nâng
cao vai trò của CNCBNS và DV trong quá trình phát triển nền NNHH là



7

- Công Chắc No Kẹo: Đổi mới quản lý nhà nước nhằm phát triển
ngành công nghiệp trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở
CHDCND Lào [3];
- Khăm Pao: Phát triển nông nghiệp Lào theo hướng sản xuất
hàng hóa [44];
- Bun Thi Khưa My Say: Phát triển thị trường nông thôn ở
CHDCND Lào [1];
Do đó, đây là một đề tài độc lập, không trùng với các đề tài luận án
phó tiến sĩ hoặc luận án tiến sĩ đã bảo vệ trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò
của công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ đối với sự phát triển nên
nông nghiệp hàng hóa, từ đó nêu lên những phương hướng và giải pháp chủ
yếu nâng cao vai trò công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ nhằm thúc
đẩy sự phát triển nên nông nghiệp hàng hóa ở Lào trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Phân tích vai trò của công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ
đối với sự phát triển nền nông nghiệp hàng hóa.
- Phân tích thực trạng vai trò của công nghiệp chế biến nông sản và
dịch vụ trong việc thúc đẩy nền nông nghiệp ở Lào những năm vừa qua.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao vai trò công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ đối với sự phát triển
nền nông nghiệp hàng hóa ở Lào trong những năm tới.


8

9

- Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến việc
thực hiện vai trò của CNCBNS và DVNN ở Lào; tình hình thực hiện vai trò
của CNCBNS và DV; đối với sản xuất NNHH ở Lào trong những năm vừa
qua. Từ đó đã nêu lên một số vấn đề bức xúc đặt ra để nâng cao vai trò của
CNCBNS và DV đối với sự phát triển nền NNHH ở Lào.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao vai
trò của CNCBNS và DVNN đối với sự phát triển nền NNHH ở Lào trong
những năm tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu
tham khảo cho việc nghiên cứu và tổ chức thực tiễn góp thêm những căn cứ
khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và phát triển CNCBNS, DV và sản xuất NNHH nói riêng ở
CHDCND Lào
8. Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm 3 chương, 8 tiết.


10

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ
CỦA CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ DỊCH VỤ
ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA

1.1. CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN, DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP
VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN NÔNG NGHIỆP

sản phẩm dùng trong sinh hoạt. CN sửa chữa là hình thức có sau so với CN
khai thác và chế biến. Lúc đầu các hoạt động này được thực hiện ngay
trong các ngành CN khai thác, chế biến và trong đời sống sinh hoạt của dân
cư, do lực lượng lao động trong các ngành và lĩnh vực đó thực hiện. Sau
đó, do sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành sản xuất,
dịch vụ, do sự phát triển đa dạng hóa của sản phẩm tiêu dùng trong sinh
hoạt, hoạt động sửa chữa được tách thành một ngành chuyên môn hóa DV
sửa chữa có tính chất xã hội.
Từ những nội dung trình bày ở trên, có thể hiểu CN là một ngành
kinh tế to lớn thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, bao gồm một hệ thống các
ngành sản xuất chuyên môn hóa hẹp đó lại bao gồm nhiều đơn vị sản xuất
kinh doanh thuộc nhiều loại hình khác nhau. Trên góc độ trình độ kỹ thuật
và hình thức tổ chức sản xuất, CN còn được cụ thể hóa bằng các khái niệm
khác nhau như: CN và tiểu thủ công nghiệp; CN lớn; CN vừa và nhỏ; CN
nằm trong NN; CN nông thôn; CN quốc doanh và CN ngoài quốc doanh...
Sự hình thành CN chế biến cho đến thời đại ngày nay là cả một quá
trình diễn biến lâu dài của sự phát triển lịch sử xã hội loài người. Từ xã hội
nguyên thủy đến chủ nghĩa tư bản hiện đại trải qua ba lần phân công lao
động xã hội. Xét trong mối quan hệ phân công lao động xã hội giữa hai
ngành CN và NN, thường trải qua một chu trình bao gồm ba giai đoạn cơ
bản: sản xuất CN ra đời trong NN - một hoạt động nằm trong NN; tách ra
khỏi NN thành ngành độc lập; quay trở lại kết hợp với NN bằng nhiều hình
thức tổ chức, mối liên hệ sản xuất đa dạng ở trình độ hoàn thiện và tiên tiến


12

hơn. Sự phân công lao động xã hội mang lại kết quả công cụ lao động ngày
càng cải tiến, năng suất lao động ngày càng cao, giá trị thặng dư ngày càng
nhiều và sự phát triển các ngành sản xuất kinh doanh, DV ngày càng phong

phẩm chế biến rất đa dạng, do đó CNCBNS có nhiều ngành nghề: chế biến
lương thực, cụ thể là lúa, gạo, ngô, khoai, sắn; chế biến thực phẩm như cá,
tôm, thịt, sữa, đường, rượu, dầu thực vật; chế biến rau quả v.v... trong đó
chế biến lương thực chiếm vị trí quan trọng nhất vì chiếm khối lượng lớn,
địa bàn rộng.
Công nghiệp chế biến nông sản là một bộ phận hợp thành của CN
chế biến, thực hiện các hoạt động bảo quản, gìn giữ, cải biến và nâng cao
giá trị sử dụng của nguyên liệu từ NN thông qua quá trình cơ nhiệt - hóa,
nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm NN và
đưa lại hiệu quả kinh tế cao.
Qua khái niệm nêu trên, CNCBNS gồm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Sơ chế và bảo quản. Giai đoạn này được tiến hành
ngay sau khi thu hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng lao
động thủ công với phương tiện bảo quản và vận chuyển chuyên dùng. Nó
quyết định mức độ tổn thất sau thu hoạch và chất lượng nguyên liệu đưa
đến xí nghiệp chế biến. Đây là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa xác định thứ
hạng sản phẩm ở giai đoạn sau.
- Giai đoạn 2: Chế biến công nghiệp. Giai đoạn này diễn ra trong
các xí nghiệp CN chế biến. Nó sử dụng lao động kỹ thuật cùng với máy
móc thiết bị công nghệ cần thiết. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định mức
độ chất lượng sản phẩm chế biến và mức độ tăng giá trị của sản phẩm.
1.1.1.2. Vai trò của CNCBNS đối với nền NNHH
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân, một trong những bộ
phận chủ yếu của sản xuất vật chất, sản xuất lương thực thực phẩm cho xã
hội và nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến. NN theo nghĩa hẹp
bao gồm hai ngành: trồng trọt và chăn nuôi, song theo nghĩa rộng bao gồm


14


15

đề xã hội, nâng cao trình độ dân trí... là mục tiêu của quá trình phát triển,
song cũng là cơ sở xã hội của quá trình phát triển CN. Vai trò của
CNCBNS đối với nền NNHH thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, CNCBNS là nhân tố có ý nghĩa quan trọng đến sự
phát triển nền NNHH có hiệu quả
Tính chất tự nhiên của nông sản là những sản phẩm tươi sống rất dễ bị
hư hỏng. Nông sản thường đạt khối lượng lớn vào mùa thu hoạch. Muốn bảo
đảm và giữ được chất lượng cần phải chế biến hoặc tiêu thụ ngay. Lúa phải
làm khô ngay, nếu không sẽ bị nẩy mầm hoặc ảnh hưởng đến chất lượng gạo
khi xay xát. Tôm cá nếu không ướp, làm đông lạnh, chế biến sẽ bị ươn thối.
Vật nuôi đến thời kỳ phải thu hoạch để bán, nếu ế đọng, chi phí đầu vào sẽ
tăng lên, dẫn tới kém hiệu quả kinh tế. Theo FAO (Tổ chức Nông nghiệp và
Thực phẩm của Liên Hợp Quốc) đánh giá tỷ lệ hao hụt lương thực ở các nước
đang phát triển sau khi thu hoạch thường là từ 15-30% [45, tr. 36]. Ở Việt Nam
"nếu tính mức hao hụt đối với lúa là 13-15%, rau quả 25 - 30%" [38, tr. 24]. Ở
CHDCND Lào, từ sản xuất đến tiêu dùng hao hụt rất lớn, vì địa hình cách
trở, kỹ thuật thấp kém. Với đặc tính như vậy, vào mùa thu hoạch giá cả các
loại nông sản thường dễ bị ép giá khi bán, người nông dân phải gánh chịu
nhiều thiệt thòi. Sau sự thiệt thòi đó, dễ làm cho người nông dân chuyển
sang trồng loại cây khác hoặc lĩnh vực sản xuất khác do sự điều tiết của
quy luật kinh tế hàng hóa, và điều đó chính là một trong những nguyên nhân
gây mất ổn định trong sản xuất nông sản hàng hóa.
CNCBNS có mối quan hệ gắn bó và tác động qua lại với sản xuất
NN, hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển. Sản xuất NN phát triển khối
lượng, chủng loại nông sản nhiều, đa dạng tạo điều kiện cho CNCBNS hoạt
động thường xuyên. Ngược lại, CNCBNS góp phần nâng cao hiệu quả của
sản xuất NN, tạo điều kiện thúc đẩy NNHH phát triển. CNCBNS được coi


thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa phát triển.


17

Chính sự tác động nêu trên của CNCBNS sẽ thúc đẩy nền NNHH
phát triển mạnh hơn.
2- Công nghiệp chế biến nông sản làm cho nông sản hàng hóa tăng
giá trị và đa dạng hóa giá trị sử dụng
Đặc trưng chủ yếu của nền NN tự nhiên, tự cấp tự túc là hầu hết
những sản phẩm do NN sản xuất ra được tiêu dùng dưới dạng thô trong
từng hộ gia đình. Số còn lại được sơ chế bằng phương pháp thủ công lạc
hậu nên giá trị thấp và chủng loại giá trị sử dụng cũng rất ít. Do đó để nâng
cao hiệu quả sản xuất NN, phát triển NNHH, cần phải phát triển CNCBNS
nhằm làm tăng giá trị và đa dạng hóa giá trị sử dụng các sản phẩm NN.
CNCBNS tạo điều kiện để NN phát triển thuận lợi qua việc nâng
cao hiệu quả kinh tế của sản xuất NN, từ đó tăng khả năng tích lũy, tăng
khả năng đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, hiện đại hóa quá trình sản xuất
NN. Tác động này trước hết thể hiện ở chỗ: "Sau khi đưa vào chế biến, giá
trị của nông sản tăng lên rất nhiều. Theo tính toán của các chuyên gia
trong ngành, sau khi tinh chế giá trị của nông sản có thể tăng từ 4 - 10 lần so
với giá trị lúc chưa chế biến" [17, tr. 18]. "Tính ra một tấn cà phê hòa tan
trên thị trường quốc tế có giá trị bằng 10 tấn cà phê hạt, trong khi đó chỉ
cần 3 đến 4 tấn cà phê hạt đã chế biến được 1 tấn cà phê hòa tan. Một tấn
hạt điều thô bán được khoảng 800 USD, nhưng qua chế biến bán tới 4.800
USD" [45, tr. 136].
Sự tăng thêm số lượng và giá trị của nông sản đã góp phần làm tăng
thêm GDP trên đầu người, làm cho cuộc sống của người dân có cải thiện hơn.
Qua chế biến, từ một sản phẩm nông nghiệp, có thể tạo ra nhiều loại
sản phẩm có những giá trị sử dụng rất khác nhau, thậm chí tạo ra những đặc

nguyên liệu, cung ứng vật tư, thiết bị và các lĩnh vực DV khác kể cả lưu
thông tiếp thị.


19

Mặt khác, quá trình phát triển CNCBNS là quá trình phân công lại
lao động giữa NN và CN. Số lao động dôi ra trong NN sẽ chuyển sang lĩnh
vực chế biến, bảo quản, vận chuyển và các DV khác. Các ngành CNCBNS
không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, không đòi hỏi công nghệ phức tạp, nhưng nó
có khả năng thu hút được nhiều lao động và tạo ra tích lũy lớn.
Yêu cầu giải quyết việc làm cho một đội ngũ lao động khá đông đảo
đang được đặt ra một cách cấp bách. Trong bối cảnh đó, nếu phát triển
mạnh được CNCBNS với quy mô, tốc độ, cơ cấu, trình độ, tính chất thích
hợp thì có thể tạo nhiều việc làm cho người lao động, huy động được các
nguồn vốn trong nền kinh tế quốc dân, vừa phát huy được truyền thống, tay
nghề của người lao động, vừa tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, vừa khai
thác được lợi thế của tất cả các vùng, vừa phục vụ tốt nhu cầu nội địa, vừa
tăng cường được lượng hàng xuất khẩu và nâng cao thêm khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Sự tác động của CNCBNS tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
từ lĩnh vực sản xuất nguyên liệu, vận chuyển, chế biến, bảo quản, tiêu thụ
đã làm giảm bớt sức ép về lao động dư thừa ở nông thôn. Trong bối cảnh ở
nước Lào hiện nay, việc phát triển CNCBNS không chỉ đơn thuần là vấn đề
kinh tế mà còn là vấn đề an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội.
Thứ ba, CNCBNS góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo
hướng công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn
Do tính đồng bộ và liên ngành cao, việc phát triển CNCBNS không
chỉ đem lại hiệu quả cao cho bản thân ngành này mà còn tạo ra phản ứng
dây chuyền trong nền kinh tế quốc dân. Nó thúc đẩy và tạo điều kiện cho

thương mại và DV phát triển để phục vụ nhu cầu sản xuất của nông, công
nghiệp, đồng thời phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của người lao
động.
Thứ tư, CNCBNS góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu


21

Trong nền kinh tế mở, sự phát triển của công nghiệp chế biến là con
đường có hiệu quả làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Vai trò này của công
nghiệp chế biến lại càng quan trọng đối với các nước kém phát triển mà
nguồn thu nhập ngoại tệ vẫn chủ yếu dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô.
Thực tế ở một số nước đã cho thấy xuất khẩu thô là thua thiệt. Người sản
xuất chuối ở Ma-lai-xia cách đây hơn 10 năm chỉ nhận được khoảng 12%
giá chuối bán ở thị trường I-ta-lia.
Trên thị trường quốc tế, xuất khẩu sản phẩm thô nguyên dạng chỉ là
giải pháp tạm thời, bởi vì giá bán thấp và không ổn định, điều kiện thương
mại bất lợi, thế mạnh thuộc về người có vốn, tài nguyên bị cạn kiệt dần,
môi trường bị ô nhiễm và hệ sinh thái bị mất cân bằng. Trên thế giới cho
thấy không một nước nào giàu có và tăng trưởng bền vững chỉ nhờ xuất
khẩu thô mà không xây dựng công nghiệp chế biến.
Sản phẩm của CNCBNS đã được xuất khẩu ra nước ngoài, mang lại
một nguồn ngoại tệ khá lớn, góp phần giảm bớt sự mất cân đối giữa xuất
khẩu và nhập khẩu, gián tiếp góp phần ổn định tỷ giá hối đoái, giữ và ổn
định thị trường truyền thống và khai thác các thị trường mới. Mặt khác, do
tác động của chính sách kinh tế mở cửa, người nước ngoài vào ngày càng
nhiều, nhu cầu tiêu dùng của nhóm khách hàng này và một bộ phận dân cư
có liên quan trực tiếp với họ ngày một tăng lên và đa dạng hơn. Nếu
CNCBNS phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao và đa dạng
đáp ứng tốt nhu cầu của họ thì có thể tăng lượng sản phẩm CNCBNS xuất

những ngành độc lập, có vai trò và chức năng riêng trong nền kinh tế và
trong đời sống xã hội. Như vậy, DV xét từ góc độ cơ cấu tổ chức của nền
kinh tế là một lĩnh vực bao gồm nhiều ngành, nhiều bộ phận trong nền kinh
tế quốc dân. Dịch vụ giúp cho các chủ thể sản xuất thực hiện quá trình sản


23

xuất và tái sản xuất một cách thuận lợi hơn, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn và
đáp ứng tốt hơn những nhu cầu sinh hoạt ngày càng phong phú của con người.
Do vậy, có thể định nghĩa một cách chung nhất: DV là những hoạt
động lao động mang tính chất xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không
tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả
hơn các nhu cầu sản xuất và đời sống của con người. DV là lĩnh vực "mở",
nó thay đổi, phát triển tùy thuộc vào sự phát triển sâu rộng của phân công
lao động xã hội, của những tiến bộ khoa học, công nghệ phục vụ cho sản
xuất, đời sống con người. DV không bao gồm những hoạt động lao động
nhằm mục đích tự phục vụ cho quá trình sản xuất của chủ thể sản xuất tự
phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt của một người nào đó.
Dịch vụ có những đặc điểm sau đây khác với hàng hóa thông thường:
- Là sản phẩm vô hình có thể cảm nhận, nhưng không tách riêng
ra được.
- Việc sản xuất và tiêu dùng DV diễn ra đồng thời, sản xuất đến đâu
tiêu dùng đến đấy, không tiêu dùng sẽ bỏ phí vì sản phẩm DV không có
khả năng lưu kho, để dành, tích trữ làm phần đệm để điều chỉnh sự thay đổi
thất thường của nhu cầu thị trường như các hàng hóa thông thường. DV
thường không mang hình thái độc lập, kể cả trong trường hợp nó có tính
chất sản xuất vật chất, nó hòa nhập hay gắn liền với một sản phẩm hay một
giai đoạn nào đó. Tất cả các DV có ích đều được thực hiện đồng thời với
quá trình sản sinh ra nó. Cho nên lao động DV mang tính xã hội hóa cao.

Hai là, DVNN gắn với sự khai thác và sử dụng tiềm năng sinh vật.
Do đó, tính thời vụ rất khắt khe. Đối với cây lúa, trong một chu kỳ sinh
trưởng nhu cầu dinh dưỡng rất khác nhau. Mỗi giống lúa cũng có nhu cầu
về các điều kiện nước tưới, tiêu, phân bón, thời vụ gieo cấy không hoàn


25

toàn giống nhau. Vì thế DV tốt là một yếu tố quan trọng làm tăng năng suất
cây trồng.
Ba là, thời tiết khí hậu có tác động mạnh mẽ tới hoạt động DV. Sản
xuất NN chịu ảnh hưởng sâu sắc của thời tiết và khí hậu. Vì vậy nhu cầu sử
dụng DV của người sản xuất NN cũng thay đổi tùy theo diễn biến của thời
tiết, khí hậu.
Dịch vụ NN là những điều kiện, những yếu tố cần thiết, hoặc cần có
cho một quá trình sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong NN
mà người sản xuất không có sẵn, không thể làm được hoặc nếu tự làm thì
không có hiệu quả, vì vậy họ phải tiếp nhận các điều kiện, các yếu tố đó từ
bên ngoài bằng những cách thức khác nhau như: mua, bán, trao đổi, thuê,
nhờ....
Hoạt động DVNN: là hoạt động nhằm cung ứng, trao đổi, tiếp nhận
và sử dụng các DV người sản xuất NN và người cung cấp DV theo một
phương thức nhất định nào đó. Hoạt động DV có tính chất sản xuất hoặc
liên quan đến quá trình sản xuất trong NN như: các loại công việc làm đất,
cung ứng giống, nước tưới, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, thu hoạch,
chế biến, thông tin, thị trường, tiêu thụ sản phẩm...
1.1.2.2. Vai trò của DVNN đối với sự phát triển nền NNHH
Trong nền kinh tế NN tự cấp tự túc, người nông dân sản xuất ra sản
phẩm là nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của họ. Hầu hết nhu cầu cho sản
xuất và tiêu dùng cá nhân được tính toán và thỏa mãn chỉ trong phạm vi

chất lượng, mẫu mã, chủng loại hàng hóa, nhanh chóng đưa ra thị trường
những hàng hóa thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Do đặc điểm của
sản xuất NN mang tính thời vụ, diễn ra trong một không gian rộng lớn, đối
tượng của nó chịu sự tác động trực tiếp của khí hậu thời tiết... Cho nên để

nhiều sản phẩm NN với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của thị trường
phải có sự tác động của dịch vụ. Dịch vụ đầu vào, đầu ra và DV quá trình


27

sản xuất sẽ làm cho quy mô sản xuất được mở rộng, năng suất lao động
được nâng cao...
Dịch vụ NN có vai trò rất quan trọng thúc đẩy nền NNHH phát
triển, nó thể hiện như sau:
Thứ nhất, góp phần mở rộng quy mô sản xuất, làm tăng năng suất
lao động
Dịch vụ đầu vào và DV quá trình sản xuất là nhân tố rất quan trọng
không thể thiếu được đối với sự phát triển nền NNHH. Dịch vụ đầu vào và
DV quá trình sản xuất gồm có: DV vốn, giống, làm đất, thuốc trừ sâu, thú
y, thủy lợi, bảo vệ thực vật... Giống, phân hóa học, thuốc trừ sâu là những
yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng cây trồng. Dịch vụ bảo
vệ thực vật là một trong những DV rất quyết định đến năng suất cây trồng,
nó vừa mang tính chất tự nguyện, vừa có tính chất bắt buộc cần thiết trong
quá trình sản xuất.
Đối tượng sản xuất NN là những sinh vật sống, chúng sinh trưởng
và phát triển theo quy luật riêng, đồng thời chịu tác động ảnh hưởng lớn
của môi trường thiên nhiên. Nếu có sự tác động từ phía con người giúp cho
chúng sinh trưởng và phát triển tốt. Đặc biệt trong trồng trọt, năng suất cây
trồng phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố vật chất như: giống, phân bón, nước,

bón không có hiệu quả bằng việc sử dụng DV cung ứng phân bón, hơn nữa
người sản xuất không đủ khả năng để làm việc đó. Dịch vụ phân bón tốt sẽ
làm cho năng suất lao động tăng lên.
Trong sản xuất NN, cây trồng vật nuôi còn mang tính cộng đồng,
sống theo quần thể lớn, chịu sự tác động qua lại lẫn nhau kìm hãm hoặc
thúc đẩy nhau cùng phát triển. Một thửa ruộng bị sâu, rầy nếu không được
phát hiện và trừ kịp thời, nhất định sẽ lây lan sang ruộng xung quanh, có
khi thành dịch lớn, làm hư hại cả một vùng, một cánh đồng, nhất là đối với
cây lúa. Một con trâu bị bệnh dịch, không được điều trị kịp thời, chắc chắn
sẽ lây lan ra cả làng, cả khu vực trở thành dịch lớn. Vì thế nếu làm DV thú
y, DV bảo vệ thực vật tốt sẽ giải quyết được những vấn đề trên. Bảo vệ


29

thực vật là một khâu yêu cầu kỹ thuật cao, không phải ai cũng có khả năng
làm việc này và giao cho nông dân tự làm sẽ có nhiều điều bất lợi: nhiều
nông dân không đủ trình độ xác định được bệnh và loại sâu hại lúa; không
phân biệt được thuốc thật, thuốc giả; có thuốc rồi không biết pha chế đúng
liều lượng. Để từng hộ làm không thể phòng trừ sâu bệnh đồng loạt, nhất là
khi có bệnh tràn lan. Có nhiều hộ không đủ tiền mua thuốc, thuê bình bơm.
Khi lo được tiền thì sâu đã hại hết lúa. Vì vậy cần có người làm dịch vụ.
Sản xuất NN còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, thời vụ gieo
trồng, vào việc tổ chức thu hoạch nhanh hay chậm... Mặc dù có được đầy
đủ các yếu tố vật chất, nhưng thời tiết không thuận, gieo trồng không kịp
vụ sẽ gây ảnh hưởng xấu đến năng suất cây trồng, thậm chí làm mất mùa
trắng. Việt Nam đã có câu: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" hay
nói về thời vụ là "nhất thì, nhì thục", hoặc "mùa hơn đêm, chiêm hơn sương".
Qua sự phân tích trên cho thấy, việc DV nghiên cứu nắm bắt được
các quy luật của từng loại cây trồng, vật nuôi, việc lai tạo chọn giống có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status