MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tinh thần yêu nước là một giá trị văn hóa - tinh thần cao đẹp của dân tộc
Việt Nam, là một thành tố rất quan trọng, có vai trò quyết định trong sức mạnh dứg
nước và giữ nước của nhân dân ta nói chung, trong sức mạnh chiến đấu của quân
đội ta nói riêng. Tinh thần yêu nước ấy là biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Chủ nghĩa yêu nước là sự phát triển ở trình
độ cao của tinh thần yêu nước, là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý trí và tình cảm, là tinh
thần yêu nước đã đạt tới tình độ tự giác và độ bền vững cao. Trên ý nghĩa đó, giáo
dục chủ nghĩa yêu nước trong quân đội đã góp phần to lớn vào vệic nâng cao tinh
thần yêu nước của mọi quân nhân, tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần vô địch
trong lịch sử, đảm bảo cho quân đội ta luôn vững mạnh và chiến thắng. Đó là bài
học hết sức quý báu mà ngày nay cần được tiếp tục phát huy có hiệu quả hơn trong
những điều kiện mới.
Trong điều kiện lịch sử mới, dưới tác động của nhiều hoàn cảnh khách quan
và nhân tố chủ quan, vấn đề giáo dục chủ nghĩa yêu nước nói chung, trong quân
đội nói riêng đang đứng trước những thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng đang phải
đối mặt với không ít thách thức. Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa
yêu nước trong quân đội đang là một đòi hỏi bức thiết. Để làm được điều đó cần có
sự luậ giải một cách khoa học những cơ sở lý luận và thực tiễn, cần tìm ra n1giải
pháp hữu hiệu.
Những năm qua công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong quân đội đã thu
được nhiều thành tựu đất nướcág kể, góp phần quan trọng làm cho quân đội ta tiếp
tục phát huy truyền thống vẻ vang: ".... trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng
chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng
hoàn thành, khó khăn nào cũng vợt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng" (34, 349).
Tuy vậy, trước tình hình mới công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong quân đội
ta nói chung, trong từng đơn vị nó riêng còn bôc lộ nhiều bất cập, đang gặp nhiều
khó khăn và lúng túng cả về nhận thức, nội dung, chương trình, hình thức, phương
pháp và cách thức tổ chức giáo dục.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu "Nâng cao chất lượng giáo dục chủ
Nam hiện nay; trên cơ sở đó đề xuất, kiến giải mục tiêu, yêu cầu và giải pháp cơ
bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong quân đội, góp
phần xây dựng quân đội ta về chính trị - tinh thần.
Để thực hiện mục tiêu trên đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản
sau:
- Làm rõ thêm về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam từ truyền thống đến hiện
đại; biểu hiện của nó trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta
hiện nay.
- Luận giải vai trò của giáo dục chủ nghĩa yêu nước đối với nâng cao chất
lượng chính trị - tinh thần của quân đội ta.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục chủ nghĩa yêu nước
trong quân đội ta hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Làm rõ những nhân tố tác động đến chất lượng và hiệu quả giáo dục chủ
nghĩa yêu nước trong quân đội những năm đầu thế kỷ 21.
- Xác định mục tiêu, yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong Quân đội nhân dân Việt Nam trước tình
hình mới.
4. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở những quan điểm cơ abrn vảu chủ nnml, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng ủy Quân sự Trung
ương về chủ nghĩa yêu nước và giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong nhân
dân và quân đội.
Đề tìa cũng tiếp thu, kế thừa, tham khảo những kết quả nghiên cứu có liên
quan đã được công bố của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, của các nhà
khoa học trong và ngoài nước.
Cơ sở thực tiễn của đề tài là dựa vào những kết quả khảo sát thực tiễn đã
được thực hiện trước đây và hiện nay (chủ yếu của ban đề tài) về giáo dục chủ
nghĩa yêu nước nói chung, trong quân đội nói riêng.
tài.
Hiện nay trong nhiều tài liệu, văn phẩm cả trong và ngoài nước, chủ nghĩa
yêu nước được quan niệm khác nhau.
Theo Bách khoa thư Liên Xô 1973: "Chủ nghĩa yêu nước - tình yêu Tổ quốc,
trung thành với Tổ quốc, ước vọng phục vụ lợi ích của Tổ quốc bằng hành động
của mình.
Về mặt lịch sử, các yếu tố của chủ nghĩa yêu nước dưới dạng tình cảm gắn
bó với mảnh đất, ngôn ngữ và truyền thống quê hương đã hình thành từ cổ xưa.
Trong xã hội có giai cấp, nội dung của chủ nghĩa yêu nước mang tính giai cấp vì
mỗi một giai cấp thể hiện thái độ của mình với Tổ quốc thông qua lợi ích đặc biệt
của riêng mình".
Bách khoa thư Trung Quốc 1994 định nghĩa: "chủ nghĩa yêu nước - những
quan điểm, tư tưởng và cách ứng xử, hành vi của con người xuất phát từ tình cảm
nồng nàn đối với Tổ quốc. Đó cũng là qui phạm, chuẩn mực đạo đức để diều tiết
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích Tổ quốc, biểu hiện là cương quyết bảo vệ lợi ích Tổ
quốc, làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc, khi cần có thể hy sinh vì Tổ quốc. Đồng
thời căn cứ vào đó để đánh giá hành vi là thiện hay ác, phù hợp với chuẩn mực
đạo đức không.
Chủ nghĩa yêu nước là một phạm trù lịch sử, biểu hiện cụ thể là yêu dân tộc,
yêu mảnh đất nuôi dưỡng dân tộc mình, yêu chữ viết, văn hóa và lịch sử của đất
nước mình. Vì sự phồn vinh, giàu mạnh của Tổ quốc ra sức học tập, công tác và
lao động, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, kiên quyết
chống lại sự xâm nhập của kẻ thù bên ngoài, kiên quyết chống lại sự phân biệt
chủng tộc và phân biệt quốc gia".
Grand Larousse universel của Pháp, 1995 quan niệm: "Chủ nghĩa yêu nước sự gắn bó tình cảm với đất nước, với Tổ quốc biểu hiện thành ý chí bảo vệ và thúc
đẩy sự phát triển của đất nước mình".
Theo Từ điển Triết học: "Chủ nghĩa yêu nước - tình yêu, lòng trung thành
với tư, ý thức phục vụ Tổ quốc" (54,577). Từ điển Chính trị lại cho rằng "Chủ
nghĩa yêu nước là tình yêu Tổ quốc, dân tộc mình. Chủ nghĩa yêu nước là một hiện
tượng xã hội - lịch sử có nội dung xã hội khác nhau, trong các thời kỳ khác
sự phồn vinh, vận mệnh của Tổ quốc. Chủ nghĩa yêu nước gắn liền với mỗi dân
tộc, là nguồn sức mạnh của dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước là ìtnh cảm, tình yêu chân
chính của nhân dân đối với đất nước, trước hết là đối với quê hương, gia đình, làng
xóm, phố phường, nơi họ sinh ra và lớn lên. Đso còn là tình yêu đối với các cảnh
quan thiên thiên, những giá trị văn hóa - tinh thần do nhân dân sáng tạo nên, là tình
cảm bao la, rộng lớn, cao quý của con người với con người, của mỗi dân tộc riêng
biệt và đó còn là ý thức tự tôn, tự hào về các giá trị văn hóa dân tộc. Chủ nghĩa yêu
nước chân chính đòi hỏi mỗi người phải biết nâng niu, quý trọng, bảo tồn, phát
triển những giá trị văn hóa của dân tộc mình.
Chủ nghĩa yêu nước hàm chứa những tình cảm, thái độ chính trị của mỗi con
người với thể chế chính trị của dân tộc mình đnag sống. Chủ nghĩa yêu nước bao
giờ cũng mang bản chất giai cấp nhất định, không thể có thứ chủ nghĩa yêu nước
chung chung, phi giai cấp. Giai cấp vô sản có chủ nghĩa yêu nước triệt để. Hình
thức cao nhất chủ nghĩa yêu nước của giai cấp vô sản là chủ nghĩa yêu nước xã hội
chủ nghĩa, đoàn kết tất cả giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ nghĩa yêu
nước xã hội chủ nghĩa kết hợp hữu cơ với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công
nhân. Chủ nghĩa yêu nước chân chính của nhân dân lao động thống nhất với chủ
nghĩa yêu nước XHCN, với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Thứ hai, chủ nghĩa yêu nước không chỉ là tư tưởng, tình cảm mà còn được
biểu hiện thành ý chí, hành động, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người đối với Tổ
quốc.
Chủ nghĩa yêu nước đòi hỏi mỗi người, nhóm xã hội phải đem sức lực, trí
tuệ của mình ra để xây dựng Tổ quốc, làm cho Tổ quốc phồn vinh, bình yên mãi
mãi. Một khi Tổ quốc bị lâm nguy chủ nghĩa yêu nước trở thành sức mạnh vô địch
nhấn chìm bè lũ cướp nước, bán 'nước; đòi hỏi mỗi con người dám xả thân vì
nước, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Tổ quốc và nhân
dân mãi mãi tôn vinh những người anh hùng dân tộc. Trong lịch sử tư tưởng của
mỗi dân tộc không thể thiếu được thể loại anh hùng ca. Chủ nghĩa yêu nước của
Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ II do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố ngày
02 tháng 9 năm 1945 khai sinh Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tất cả các bản Tuyên ngôn đều khẳng định quyền dân tộc tự quyết của Việt
Nam; ý chí quyết tâm giữ vững độc lập dân tộc, giữ vững bản sắc văn hoá Việt
Nam; nghị lực, quyết tâm của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt
Nam độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Từ tình yêu quê hương, xứ sở nâng lên thành ý thức bảo vệ non sông đất
nước, giang sơn, tổ quốc, sơn hà xã tắc (ý niệm sâu sắc về lãnh thổ quốc gia) là
bước trưởng thành của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống.
Thế kỷ XV Lê Thánh Tông đã khẳng định: "Một thước núi, một tấc sông
của ta không thể vất bỏ... Ai dám đem một thước núi, một tấc sông của Vua Thái
Tổ để lại làm mồi cho giặc thì tội phải tru di".
Ngay trong thời kỳ phân liệt Đàng Trong - Đàng Ngoài, nhân dân 2 miền
cũng không ai coi mỗi miền là quốc gia riêng.
* Ý thức sâu sắc về độc lập dân tộc và lòng tự tôn dân tộc
Biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa yêu nước là ý thức coi độc lập dân tộc là
thiêng liêng, bất khả xâm phạm - tinh thần tự tôn dân tộc.
Mỗi lần Tổ quốc bị xâm lăng thì mọi tầng lớp nhân dân luôn đặt lợi ích đất
nước lên trên hết và sẵn sàng gạt bỏ mọi lợi ích riêng, chấp nhận mọi gian nan, thử
thách, hy sinh vì độc lập dân tộc.
Tuy nước nhỏ, có lúc bị mất nước hàng trăm, hàng nghìn năm, những vẫn
giữ vững niềm tự tin, tự tôn dân tộc. Chính trên tinh thần đó về sau Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khái quát: "Không có gì quý hơn độc lập , tự do".
Ý thức tự tôn, tự lập của dân tộc được hình thành rất sớm và các triều đại nối
tiếp nhau đều có ý thức bảo vệ lòng tự tôn, tự lập của dân tộc, xây dựng nên bản
sắc, cốt cách riêng của dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam luôn luôn hoà nhập
với thế giới, nhưng không bao giờ chúng ta bị hoà tan, mất đi cái bản sắc riêng có
của mình.
* Ý thức xây dựng đất nước.
Việt Nam là một nước có tiềm năng lớn về tài nguyên, nhưng nền kinh tế
từng bước được mở mang. Đó là quá trình từng bước tạo nên sự gắn bó giữa các cư
dân, cộng đồng với nhau; là cơ sở hình thành tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn
bó, đùm bọc lẫn nhau.
Sự phát triển biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử Việt
Nam ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần, ý thức dân tộc và chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam.
Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đem lại cho người ta sự lý
giải đúng đắn về sự biến đổi, phát triển của xã hội loài người. Sự phát triển xã hội
loài người gắn liền với sự biến đổi của hình thái kinh tế - xã hội.
Việt Nam không giống như nhiều nước trên thế giới, không trải qua tuần tự
5 hình thái kinh tế - xã hội một cách tự nhiên. Việt Nam không trải qua thời kỳ
chiếm hữu nô lệ, từ chế độ công xã nguyên thuỷ chúng ta tiến lên chế độ phong
kiến. Chế độ phong kiến Việt Nam là chế độ phong kiến phương Đông, nó cũng
khác với chế độ phong kiến phương Tây. Chế độ phong kiến Việt Nam không có
thời kỳ tồn tại chế độ lãnh địa với quan hệ lãnh chúa - nông nô; không trải qua thời
kỳ phân quyền, cát cứ lâu dài, đặc điểm này có ảnh hưởng chi phối đến sự cố kết
cộng đồng và sự phát triển của dân tộc.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858) xã hội Việt Nam chuyển từ
xã hội phong kiến sang xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Xã hội đó tồn tại hai mâu
thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm
lược và mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với bọn địa chủ phong kiến. Sự vận
động của hai mâu thuẫn cơ bản trên dẫn đến mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa
toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc Pháp xâm lược và bè lũ tay sai. Những
chuyển biến đó tác động sâu sắc đến việc hình thành sự đoàn kết, cố kết dân tộc
trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do của nhân dân.
Trong thời kỳ thống trị của chủ nghĩa thực dân, giai cấp tư sản Việt Nam có
nảy sinh và phát triển ở mức độ nào đó, song rất non yếu. Do đó, chủ nghĩa dân tộc
tư sản tuy có một số ảnh hưởng nhất định, nhưng không giữ vai trò chi phối và
bền vững, còn khi đất nước không được độc lập thì điền trang, thái ấp, quyền uy
của giai cấp thống trị cũng không còn. Đương nhiên, giáo dục ý thức độc lập dân
tộc không phải chỉ vì đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị, mà trong đó còn có
quyền lợi của nhân dân. Chính vì vậy phong trào yêu nước chống giặc ngoại xâm
của quần chúng, chủ yếu là phong trào nông dân liên tiếp diễn ra dưới sự lãnh đạo
của các triều đại phong kiến. Quá trình đấu tranh của nhân dân đã khơi dậy, hun
đúc, động viên, khích lệ tinh thần yêu nước sôi nổi của cả một dân tộc đặc biệt
trước hoạ xâm lăng.
Dân tộc ta thời nào cũng có những tấm gương yêu nước của các anh hùng,
nghĩa sĩ, các danh nhân trong các tầng lớp nhân dân đứng lên chống thiên tai, ngoại
xâm (nhưng chủ yếu là những tấm gương trong đánh giặc, giữ nước - gắn liền với
những chiến công, những sự nghiệp vẻ vang của lịch sử dân tộc). Những hình ảnh
về Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Sơn Tinh trước kia, những tấm gương Bà Trưng
- Bà Triệu, Lê Lợi, Quảng Trung... mãi mãi là những hình tượng sáng ngời trong
bán đại anh hùng ca dựng nước, giữ nước bất hủ của dân tộc ta. Những tấm gương
đó được lưu truyền, kế tiếp và nâng lên tầm cao mới. Trong thời đại mới, cách
mạng Việt Nam do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiếp tục giành, giữ, phát triển nền độc
lập của dân tộc theo tinh thần mới thì chủ nghĩa yêu nước có bước phát triển về
chất so với chủ nghĩa yêu nước thời phong kiến.
Tình yêu quê hương đất nước, yêu thương giống nòi luôn được gắn và bện
quyện với nhau trong ý thức của người dân Việt Nam. Từ xa xưa, tình yêu đó đã
được chuyển thành ý thức biết nâng niu, quý trọng những giá trị văn hoá - tinh thần
của quần chúng, trở thành hành động thiết thực của quần chúng trong sự nghiệp
xây dựng đất nước. Đặc biệt trước hoạ xâm lăng, tình yêu ấy được chuyển sang
thái độ căm thù, ý chí quyết tâm chiến đấu của từng người dân, của cả cộng đồng
dân tộc đối với kẻ thù bán nước, cướp nước. Thái độ căm thù, khinh ghét kẻ thù,
tình yêu đất nước bao la đã trở thành giá trị đạo đức của truyền thống lịch sử dân
tộc ta trong suốt mdy nghìn năm lịch sử. Đó là nhân tố chính trị, tinh thần tạo nên
mạnh của dân tộc vào sự nghiệp đấu tranh giành, giữ độc lập dân tộc trong giai
đoạn đã qua, đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đất
nước từng bước quá độ lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN hiện nay. Chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam hiện đại đó là chủ nghĩa yêu nước XHCN, dựa trên cơ sở lập
trường của giai cấp công nhân, lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh - chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam trở thành xã hội
thuộc địa nửa phong kiến. Để giải phóng dân tộc, đưa lại hạnh phúc cho nhân dân,
nhiều phong trào cứu nước đã vùng lên dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước,
tiêu biểu như các phong trào Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục,
phong trào Duy Tân, kháng thuế ở Trung kỳ - đã liên tiếp nổ ra và thất bại. Điều đó
chứng tỏ không thể dùng sức mạnh của một chế độ đang suy tàn (chế độ phong
kiến) để chống lại một chế độ đang lên (CNTB); không thể giương cao ngọn cờ
dân chủ tư sản để chống lại chủ nghĩa tư bản hiện đại. Cách mạng Việt Nam đầu
thế kỷ XX đen tối, khủng hoảng về đường lối, không có đường ra. Vào thời điểm
như thế, Nguyễn ái Quốc, người thanh niên Việt Nam yêu nước xuất hiện, phát
hiện ra những nhu cầu lịch sử và tìm cách đáp ứng được nhu cầu đó của đất nước.
Trải qua chiêm nghiệm của những cuộc khởi nghĩa trước đó, nghiên cứu sự thành
công và thất bại của các cuộc cách mạng trên thế giới, tìm hiểu bản chất của chủ
nghĩa đế quốc và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Người rút ra những kết luận quan
trọng: "Muôn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác, con
đường cách mạng vô sảm, [29, 314] và "Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới
giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của
chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới" [27,4161.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đi theo con đường của cách mạng
Tháng Mười Nga vĩ đại, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn của
cách mạng Việt. Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh
đạo ra đời, với cương lĩnh đúng đắn ngay từ đầu đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng
đường lối cách mạng Việt Nam trong hơn 70 năm đô hộ của thực dân Pháp (l8581930).
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ người yêu nước đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, trở
dân tộc thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên CNXH.
1.1.3.2. Nội dung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại không đó lập mà kế thừa và phát
triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống lên tầm cao mới, chất lượng mới. Đó là chủ
nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, "... đòi hỏi phải gắn liền làm một lòng yêu Tổ
quốc với lòng yêu chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa" (50, 60). Những nội
dung chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa là:
Đó là một chủ nghĩa yêu nước theo lập trường chính trị của giai cấp công
nhân Việt Nam. Khi giai cấp công nhân bước lên vũ đãi chính trị đảm nhận sư
mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng, một giai cấp có khả năng nắm vững và giải
quyết đúng đắn về dân tộc, đưa dân tộc tiến lên thì cũng đồng thời làm cho chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam mang hệ tư tưởng mới, tiên tiến nhất của thời đại, hệ tư
tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Giai cấp công nhân trở
thành địa biểu chân chính cho dân tộc, đại biểu qyền lợi cho dân tộc và cho nhân
dân lao động. Lợi ích của giai cấp công nhân gắn chặt và thống nhất với lợi ích của
nhân dân lao động, của dân tộc.
Tình cảm yêu nước của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại là tình yêu
quê hương, đất nước một cách toàn diện (yêu quê hương làng xóm, nơi "chôn rau,
cắt rốn" của mỗi con người, tiến lên yêu quý sự toàn vẹn, thống nhất Tổ quốc Việt
Nam, đấu tranh với những tư tưởng cát cứ, chia cắt đất nước, miền Nam - miền
Bắc, miền ngược, miền xuôi). Tình yêu Tổ quốc bắt nguồn từ tình yêu gia đình,
dòng họ, huyết thống tiến lên tình yêu đồng bào bao la rộng lớn, yêu quý, kính
trọng tất cả các tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tình yêu quê hương,
đất nước còn được biểu hiện ở tình đồng chí, đồng đội, tình yêu của những người
cùng chí hướng, mục đích. Tình yêu Tổ quốc gắn bó chặt chẽ với yêu chế độ
XHCN, người yêu nước phải là con người XHCN, yêu CNXH là người yêu nước
nhất.
Về ý chí và hành động, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại đề cao tinh
1.1.4. Biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong quân đội ta hiện
nay.
Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức xã hội đặc biệt, công cụ bạo lực
sắc bén của nhà nước chuyên chính vô sản. Quân đội ra đời là do yêu cầu của cuộc
đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, luôn tồn tại, phát triển cùng với sự tồn tại,
phát triển của nhà nước kiểu mới, nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Quân đội nhân dân Việt Nam, thành phần nòng cột của lực lượng vũ trang
nhân dân Việt Nam, là quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ mang
bản chất của giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi
mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quân đội nhân dân Việt Nam có trách nhiệm cùng toàn dân bảo vệ vững
chắc độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và chế độ XHCN,
bảo vệ nhân dân, bảo vệ mọi thành quả cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhiệm vụ chủ yếu của quân đội là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong
mọi tình huống; vận động, giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội,
thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Nhà nước; lao
động sản xuất; làm tròn nhiệm vụ quốc tế.
Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân cách mạng của dân, do dân, vì dân,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm những người khoẻ, trẻ, tiêu biểu cho ý chí,
hành động mưu trí, sáng tạo, dũng cảm nhất của quần chúng nhân dân trong mọi
giai đoạn cách mạng. Môi trường, điều kiện hoạt động của quân đội ta là nơi thể
hiện đầy đủ các nội dung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại. Mặt khác, do
tính chất, nhiệm vụ đặc thù của quân đội nên những nội dung đó vừa có những
biểu hiện chung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, vừa có những nét đặc thù
riêng. Những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong quân đội
ta hiện nay là:
Nhận thức sâu sắc trách nhiệm bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân,
bảo vệ mọi thành quả cách mạng trong bất kể tình huống nào.
Ngày nay Tổ quốc đã giành được độc lập, thống nhất đang từng bước quá độ
chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, quân sự, đối ngoại; bảo vệ Đảng,
Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân. Vì vậy, lòng trung thành
tuyệt đối của quân đội đối với Tổ quốc phải được thể hiện cụ thể bằng hành động
thực tế để làm cho yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN được thực
hiện trong mọi tình huống. Trong điều kiện chiến tranh trước dây, lòng trung thành
vô hạn với Tổ quốc của quân đội được kiểm nghiệm thực tế bằng hành động chiến
đấu và chiến đấu thắng lợi chống kẻ thù xâm lược. Ngày nay, lòng trung thành đó
lại có những yêu cầu và nội dung mới hơn, gắn với những tiêu chí về nhận thức,
tình cảm và hành động bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong điều
kiện mới [38].
Quân đội luôn được giao những nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, ác liệt, khẩn
trương với yêu cầu phải hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ đó trong mọi tình
huống. Do đó, mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải xây dựng cho mình sự kiên
định, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi
nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó, luôn làm tròn chức năng đội quân
chiến đấu, sản xuất, công tác.
Chủ nghĩa yêu nước trong quân đội hiện nay được biểu hiện cụ thể ở nhận
thức sâu sắc về đối tượng tác chiến và có thái độ đúmg, hành động kịp thời, kiên
quyết, sáng suốt trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.
Nhận rõ kẻ thù (kẻ thù cơ bản lâu dài, kẻ thù nguy hiểm trực tiếp trước mắt)
và bản chất, âm mưu thủ đoạn của chúng là yêu cầu thường xuyên được đặt ra đối
với quân đội, và hiện nay lại càng hết sức cấp thiết. Bởi lẽ, âm mưu, thủ đoạn của
chúng ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Trong suy nghĩ, hành động của mình, hơn ai
hết, quân đội ta phải luôn hiểu rõ mình hành động, chiến đấu và chiến đấu thắng
lợi với kẻ thù nào, chiến đấu vì ai, cho ai? Không một chút mơ hồ, lơ là mất cảnh
giác với các loại kẻ thù hiện nay.
Lịch sử chứng minh, quân đội ta luôn phải chiến đấu với những kẻ thù hung
hãn có vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, với nhiều thủ đoạn thâm độc. Để đánh
môi trường hoạt động cụ thể, không có chủ nghĩa yêu nước chung chung, trừu
tượng. Vì vậy, đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội thì yêu nước phải được biểu hiện ở
sự quan tâm chăm lo xây dựng đơn vị mình luôn vững mạnh với tình cảm thực sự
yêu thương, gắn bó; phải giải quyết đúng đắn, hài hoà các mối quan hệ xã hội
trong đơn vị với tinh thần trách nhiệm chính trị cao (quan hệ cán bộ - chiến sĩ,
chiến sĩ - chiến sĩ, cá nhân - tập thể, tập thể - tập thể, lãnh đạo, chỉ huy và phục
tùng). Không có từng đơn vị mạnh, sẽ không có quân đội mạnh và do đó cũng
không có lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc mạnh. Đối với cán bộ, chiến sĩ trong
quân đội hiện nay không thể nói "tôi yêu nước" mà lại không yêu mến đơn vị
mình, không đưa hết sức lực và trí tuệ của mình để xây dựng đơn vị mình vững
mạnh, không góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của đơn vị và của quân
đội, không nâng cao lòng tự hào về người quân nhân cách mạng và về Quân đội
nhân dân Việt Nam. Hiện nay, trong điều kiện thời bình, trước tác động của nhiều
yếu tố xã hội thì những vấn đề trên tưởng như cũ mà lại mang những sắc thái, yêu
cầu và nội dung rất mới cần phải có ở những người quân nhân cách mạng yêu
nước, yêu CNXH.
Quân đội nhân dân Việt Nam không những đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
đối với dân tộc, mà còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế bằng mọi khả năng,
điều kiện của mình. Từ giúp đỡ bằng tinh thần, ủng hộ các cuộc chiến tranh chính
nghĩa của nhân dân các dân tộc, lên án các cuộc chiến tranh phi nghĩa, đến sự giúp
đỡ vật chất, thậm chí cả xương máu của mình cho độc lập tự do, hạnh phúc của
nhân dân các dân tộc anh em. Do yêu cầu của các dân tộc anh em, quân đội ta sẵn
sàng giúp bạn chiến đấu. Khi hoàn thành nhiệm vụ, quân đội ta lại trở về Tổ quốc.
Vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, với tinh thần quốc tế trong sáng của quân đội cách
mạng, mang bản chất của giai cấp công nhân, hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" luôn toả
sáng, được kính trọng trong lòng nhân dân các dân tộc trên thế giới... Đó chính là
một biểu hiện sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước XHCN Việt Nam hiện nay cần
được phát huy hơn nữa.
Những biểu hiện trên đây của chủ nghĩa yêu nước trong quân đội ta đòi hỏi
rất cao ở sự thống nhất ý chí, hành động muôn người như một; ở sự giác ngộ sâu
quả của hoạt động giáo dục trong từng gia đình, ở nhà trường, của xã hội và quân
đội. Nhưng để đạt tới trình độ giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
trong thời đại Hổ Chí Minh thì họ cần phải được giáo dục, bồi dưỡng một cách cơ
bản, thường xuyên, có mục đích rõ ràng, có kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học để
nâng tinh thần yêu nước vốn có trong họ lên một trình độ cao hơn về chất - chủ
nghĩa yêu nước.
Mục tiêu của giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho quân nhân được quy định bởi
yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng và quân đội. Mỗi quân nhân phải có
giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa yêu nước cả về tư tưởng, tình cảm, ý chí, hành động,
trung với nước và sẵn sàng xả thân vì đất nước. Mỗi giai đoạn cách mạng, đều có
những mục tiêu cụ thể phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của giai đoạn đó. Mục tiêu
giáo dục chủ nghĩa yêu nước càng rõ ràng và cụ thể bao nhiêu thì tính tự giác của
quá trình giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chất lượng, hiệu quả giáo dục chủ nghĩa
yêu nước càng cao bấy nhiêu.
Giáo dục chủ nghĩa yêu nước cũng như bất cứ loại hình giáo dục nào khác
đều có chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục. Tuy nhiên, không thể có ranh giới
tuyệt đối giữa chủ thể và đối tượng giáo dục. Mối quan hệ giữa chúng là mối quan
hệ biện chứng.
Xét về hoạt động giáo dục thì chủ thể giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong
quân đội là những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và các cán bộ chuyên môn, kỹ thuật
khác; là những đảng viên và các tổ chức Đảng; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh, các tổ chức quần chúng và tập thể quân nhân. Các lực lượng giáo dục đó
hoạt động dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng, sự điều hành, quản lý của hệ
thống chỉ huy, sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp. Hoạt động của
chủ thể giáo dục giữ vai trò quyết định về phương hướng, mục tiêu, nội dung và
chất lượng của giáo dục chủ nghĩa yêu nước. Tuy nhiên, chủ thể giáo dục chủ
nghĩa yêu nước muốn thực hiện tốt vai trò đó phải đặt trong mối quan hệ và chịu
sự tác động của các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục chủ nghĩa yêu nước.
quân đội; ngược lại, chất lượng của giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong quân đội
phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động giáo dục khác. Đó là sự tác động biện
chứng của các quá trình giáo dục có cùng một mục tiêu nhằm hình thành những
phẩm chất cần thiết của người quân nhân cách mạng và bảo đảm cho quân đội
hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao cho.
Những điều trình bày trên đây cho thấy, giáo dục chủ nghĩa yêu nước trong
quân đội có vai trò cực kỳ quan trọng trong nâng cao sức mạnh chiến đấu và chất
lượng tổng hợp của quân đội trước hết là chất lượng chính trị.Vai trò quan trọng
đó của giáo dục chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện trên những nội dung cơ bản
sau:
Giáo dục chủ nghĩa yêu nước là cơ sở để mọi quân nhân và quân đội kiên
định lý tưởng chiến đấu, lập trường cách mạng; nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng
trung thành với Đảng, đối với Tổ quốc và dân tộc.
Lý tưởng chiến đấu, lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng,
lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và dân tộc là yêu cầu quan trọng
hàng đầu và là phẩm chất chủ yếu, cơ bản nhất của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội.
Đây là những yếu tố vừa phản ánh bản chất, nguồn gốc sức mạnh của quân đội,
vừa nói lên mục tiêu, phương hướng, yêu cầu xây dựng và chiến đấu của quân đội
ta trong tất cả các giai đoạn phát triển của mình. Những phẩm chất này có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu toàn trong bộ các hoạt động của quân đội.
Sự hình thành những phẩm chất đó ở người quân nhân và các tập thể quân
nhân do sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó
giáo dục chủ nghĩa yêu nước giữ vai trò hết sức quan trọng.
Giáo dục chủ nghĩa yêu nước góp phần làm cho người quân nhân cách mạng
giác ngộ sâu sắc lý tưởng chiến đấu của quân đội ta, nhận rõ mối quan hệ biện
chứng giữa yêu nước và yêu CNXH trong thời đại ngày nay. Trên cơ sở đó mà
luôn kiên định, vững vàng trước mọi biến động và thử thách, vượt qua mọi khó
khăn, gian khổ, cống hiến hết sức mình cho mục tiêu lý tưởng đã lựa chọn.
Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh giúp cho
người quân nhân có khả năng "tự miễn dịch" trước tác động chiến lược "diễn biến