Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học kỹ thuật trong quân đội nhân dân việt nam hiện nay - Pdf 38

BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ


                                  ĐẶNG TRƯỜNG MINH

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG 
CAO VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN 
VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
                      và duy vật lịch sử
                    Mã số :               62 22 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS, TS Nguyễn Văn Tài
2. PGS, TS Nguyễn Trọng Tuấn


HÀ NỘI ­ 2016


                                                 LỜI CAM ĐOAN 

                                                                                                          Tôi xin cam đoan đây là công trình 
nghiên   cứu   của   riêng   tác   giả.   Các   số  
liệu,   trích   dẫn   trong   luận   án   là   trung  
thực, có xuất xứ rõ ràng và không trùng  
lặp với những công trình đã công bố.

nhân lực chất lượng cao về  khoa học kỹ  thuật trong Quân đội  
nhân dân Việt Nam
Chương 3 GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO, BỒI 
DƯỠNG   NGUỒN   NHÂN   LỰC   CHẤT   LƯỢNG   CAO   VỀ 
KHOA HỌC KỸ  THUẬT TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN 
VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Nâng cao năng lực, trách nhiệm cua ch
̉
ủ thể, đồng thời phát huy 
vai trò chủ quan cua đ
̉ ối tượng đào tạo, bồi dưỡng
3.2. Tiếp tục đổi mới muc tiêu, n
̣
ội dung, chương trình gắn với đổi  
mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng
3.3 Đổi mới hệ thống chính sách, đồng thời xây dựng môi trường đào 
tạo, bồi dưỡng thuận lợi
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ  ĐàCÔNG BỐ  CÓ 
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Tran
g

3
5
10
35
35
47

10
11

Chữ viêt đây đu
́ ̀ ̉
Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhà xuất bản
Giáo sư
Phó Giáo sư
Tiến sĩ
Khoa học kỹ thuật 
Vũ khí trang bị kỹ thuật
Học viện kỹ thuật quân sự
Trang
Chính trị quốc gia
Hà Nội

Chư viêt tăt
̃ ́ ́
QĐNDVN
Nxb
GS
PGS
TS
KHKT
VKTBKT
HVKTQS
tr
CTQG
H.


6

và  năng lực chuyên môn giỏi, kỹ  năng thành thạo,  sáng tạo  và nhạy bén; 
đang và sẽ  tạo ra sức mạnh luôn thực hiện tốt nhiệm vụ, là động lực chủ 
yếu của ngành kỹ thuật quân đội và đóng góp quan trọng trong quá trình xây 
dựng QĐNDVN. Đây là nguồn lực đang thực hiện khá tốt nhiệm vụ công tác 
kỹ thuật, tiến tới luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, đặc biệt là nhiệm vụ  thiết 
kế, chế tạo các loại VKTBKT mới, hiện đại của Việt Nam đảm bảo yếu tố 
bí mật, chủ động trong tác chiến. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, trực tiếp  
nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của quân đội ta. Mặt khác, 
nhiệm vụ xây dựng QĐNDVN cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước  
hiện đại, trong đó ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực  
lượng bảo đảm số  lượng hợp lý, có sức chiến đấu cao, hoàn thành tốt 
nhiệm vụ  bảo vệ  vững chắc chủ  quyền, toàn vẹn lãnh thổ  của Tổ  quốc . 
Nhiệm vụ đó đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với phát triển nguồn 
nhân lực chất lượng cao về  KHKT trong QĐNDVN hiện nay; trong đó, đào 
tạo, bồi dưỡng nguồn lực này là hạt nhân.
Hơn nữa,  “ trên thế  giới,  trong những năm tới tình hình  sẽ  còn nhiều 
diễn biến rất phức tạp…tình hình chính trị  ­ an ninh thế  giới thay đổi nhanh  
chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ  quyền 
quốc gia, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp  
lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng…liên tục diễn ra gay 
gắt ở nhiều khu vực ” [29, tr.70­71]. Trong tình hình đó, nếu xảy ra chiến tranh 
thì Việt Nam sẽ phải đương đầu với cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí thế 
hệ  mới, công nghệ  cao và hiện đại của đối phương trong không gian rộng,  
cường độ  cao. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải có nguồn lực tương xứng về 
khoa học kỹ thuật quân sự nhưng quan trọng nhất là nguồn lực con người, đặc 
biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao  về KHKT. Trong khi đó, trình độ khoa 


9

điều tra xã hội học; tổng kết thực tiễn và phương pháp tham khảo ý kiến 
chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án 
­ Góp phần làm sáng tỏ bản chất của đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân 
lực chất lượng cao về KHKT trong QĐNDVN.
­ Luận chứng những vấn đề  có tính quy luật của đào tạo, bồi dưỡng  
nguồn  nhân lực chất lượng cao về KHKT trong QĐNDVN.
­ Đề  xuất các giải pháp cơ  bản, hệ  thống, có tính khả  thi nâng cao 
hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về KHKT trong 
QĐNDVN hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
 Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý 
luận về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về  KHKT trong 
QĐNDVN.  Kết quả  đó góp phần làm phong phú thêm vào lý luận xây dựng 
quân đội nói chung và phát triển nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật trong quân 
đội nói riêng. 
Kết quả nghiên cứu của luận án làm cơ  sở  cho việc điều chỉnh, hoàn  
thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về  KHKT 
trong QĐNDVN hiện nay. Kết quả  nghiên cứu còn có thể  dùng làm tài liệu 
tham khảo trong nghiên cứu khoa học  ở các học viện, nhà trường kỹ  thuật 
trong quân đội và những người quan tâm đến lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận án
Mở  đầu; tổng quan  tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề  tài; 3 
chương (7 tiết); kết luận; danh mục các công trình khoa học của tác giả  đã 


10


của Trung Quốc về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc, xã hội hài 
hoà. Đây là kim chỉ nam cho việc xây dựng và thực hiện chiến lược nhân tài 
của Trung Quốc hiện nay. Công trình đã hệ  thống tư  tưởng của Đặng Tiểu  
Bình về những vấn đề cơ bản như: nhân tài là then chốt của phát triển; đường  


12

lối tổ  chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ; tư  tưởng chiến lược về  bồi  
dưỡng và giáo dục nhân tài; về tuyển chọn nhân tài ưu tú; về sử dụng và bố trí 
nhân tài; về tạo môi trường cho nhân tài phát triển; về cải cách chế độ nhân sự 
trong việc sử dụng nhân tài. Các tác giả nhấn mạnh Trung Quốc luôn coi giáo 
dục ­ đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, công tác nhân tài là vấn 
đề có tầm quan trọng đặc biệt, coi đó là kế  lớn trăm năm để chấn hưng đất 
nước. 
Tác giả Lương Dụ Giai (2006) với công trình “Quản lý nhân tài” [164]. 
Đây là công trình bàn một cách có hệ thống và chuyên sâu về công tác quản lý 
nhân tài của Trung Quốc. Tác giả đề cập một số vấn đề về quan niệm, đặc 
điểm và vai trò của nhân tài đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Từ đó đi  
sâu luận giải sự  cần thiết phải có cơ  chế, chính sách đặc biệt để  quản lý 
nhân tài nhằm phát huy tài năng của họ. Tác giả  cũng đưa ra một số  quan  
điểm và giải pháp cơ bản nhằm quản lý tốt nhất nhân tài. Tác giả nhấn mạnh  
chính phủ cần có cơ chế, chính sách phù hợp để vừa góp phần quản lý, vừa 
thể hiện sự trọng dụng và phát huy tài năng của nhân tài trong thực tế.
Các tác giả Okuhina Yasuhiro, Michitoshi Takahata, Shigenobu Kishimoto 
với công trình “Chính trị và kinh tế Nhật Bản” (1994) (Đàm Ngọc Cảnh dịch) 
[99]. Các tác giả đã nêu rõ những vấn đề cơ bản về nhân tài; chính sách trong 
công tác cán bộ, phát triển nhân tài; phân tích những kinh nghiệm trong việc 
đánh giá và luân chuyển cán bộ, phát huy người tài trên cơ sở đặc điểm xã hội  
Nhật Bản; nhấn mạnh việc cố gắng bảo tồn và phát huy yếu tố truyền thống  

* Các công trình nghiên cứu trong nước.
Tác giả  Lê Thị  Hồng Điệp (2010) trong công trình “Phát triển nguồn  
nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam”  [38] 
đã trình bày quan niệm về  nguồn nhân lực chất lượng cao. Tác giả đã phân 


14

tích về  nội dung, tiêu chí và những yếu tố  tác động tới quá trình phát triển 
nguồn lực này. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực 
chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong tương lai. 
Những giải pháp đó góp phần tìm ra con đường và cách thức hiệu quả để phát 
triển nguồn nhân lực chất lượng cao thực sự trở thành lực lượng tiên phong 
trong quá trình thực hiện nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Tác giả Vũ Thị Phương Mai (2013) trong công trình “Nguồn nhân lực  
chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở  Việt Nam  
hiện nay” [84]. Dưới góc độ  tiếp cận chuyên ngành Chủ  nghĩa xã hội khoa 
học, tác giả đã trình bày quan niệm về  nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng 
thời chỉ ra vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự nghiệp công 
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất  
cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu của nguồn nhân lực chất lượng cao, 
tác giả  đã đưa ra các giải pháp về  nhận thức, về  văn hoá và đổi mới chính  
sách sử  dụng, đãi ngộ  nguồn nhân lực chất lượng cao. Kết quả  nghiên cứu 
của tác giả Vũ Thị Phương Mai là những gợi mở có ý nghĩa với tác giả luận 
án trong việc hoàn thiện quan niệm về  nguồn nhân lực chất lượng cao  và 
việc định hướng những giải pháp.
Tác giả Lê Quang Hùng (2011) trong công trình “Phát triển nguồn nhân  
lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” [56]. Tác giả đã 
tiếp cận vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao  dưới góc độ kinh 
tế  chính trị. Tác giả  đã nêu bật tầm quan trọng của việc phát triển  nguồn 

cần thiết cho Việt Nam trong việc phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.  
Tác   giả   Nguyễn   Ngọc   Phú   (Chủ   nhiệm)   (2010)   với   công   trình 
“Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã  
hội  ở  Việt Nam trong tiến trình đổi mới” [102]. Công trình đã luận chứng 


16

những cơ sở khoa học của nguồn nhân lực, nhân tài cho phát triển xã hội và 
quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam. Công trình đưa ra quan niệm về nhân 
tài, làm rõ những nhu cầu về  nguồn nhân lực, nhân tài (cơ  cấu, số  lượng,  
chất lượng) cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Việt Nam đến 
năm 2020. Công trình đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, nhân  
tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta; đưa ra những  
dự  báo phát triển nguồn nhân lực, nhân tài  ở  nước ta cho đến năm 2020. 
Công trình đã đề  xuất 4 quan điểm, 4 chiến lược, 5 giải pháp, 9 cơ  chế, 
chính sách cho phát triển nguồn nhân lực, nhân tài đáp ứng yêu cầu cho phát 
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới 
hiện nay. Những kết quả  nghiên cứu của đề  tài đặc biệt là quan niệm về 
nhân tài với những thuộc tính nhân cách cơ  bản của họ, là nguồn tài liệu 
tham khảo có giá trị cho tác giả luận án trong việc hoàn thiện đề tài.
Các công trình trên đã đưa ra quan niệm, đặc điểm, vị trí và những tiêu 
chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao. Về phẩm chất của nguồn nhân 
lực chất lượng cao, các tác giả cho rằng đó là năng lực sáng tạo, lòng trung  
thành, niềm say mê trong công việc, thể lực tốt. Về phương hướng và giải  
pháp phát triển  nguồn nhân lực chất lượng cao, các công trình khẳng định 
phải đổi mới nhận thức về  vị  trí nguồn nhân lực chất lượng cao; đổi mới 
nội dung, phương thức phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ; xây dựng 
chiến lược về nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài, phải có chính sách 
riêng đối với nguồn nhân lực chất lượng cao. Một số công trình nhấn mạnh 

quát thực trạng đào tạo và bồi dưỡng nhân tài  ở  Việt Nam cũng như  kinh 
nghiệm đào tạo, bồi dưỡng nhân tài của một số quốc gia tiêu biểu trên thế 
giới để  tác giả  luận án kế  thừa và phát triển hướng nghiên cứu của mình. 
Công trình này chưa đưa ra khái niệm đào tạo và bồi dưỡng nhân tài và các 
yếu tố tạo thành nhân tài trong đó có giáo dục ­ đào tạo được đề cập riêng lẻ 


18

và chưa tạo thành một chỉnh thể  trong việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài 
hiện nay.
Tác giả Lê Thị Ái Lâm (2003) trong công trình “Phát triển nguồn nhân  
lực thông qua giáo dục và đào tạo. Kinh nghiệm Đông Á” [67]. Dưới góc độ 
tiếp cận kinh tế, tác giả đã luận giải lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực  
thông qua giáo dục và đào tạo. Tác giả  đã nghiên cứu thực tiễn phát triển 
nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á. Từ đó, tác giả chỉ ra 
vai trò phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo  ở  Đông Á, 
chiến lược công nghiệp hoá và sự phù hợp lẫn nhau với phát triển nguồn nhân 
lực thông qua giáo dục và đào tạo  ở  Đông Á, vấn đề  điều chỉnh phát triển  
nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo  ở  Đông Á và vấn đề  và giải 
pháp hiện này của phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở 
Đông Á. Tác giả  cũng chỉ  ra những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực  
thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á và một số lưu ý đối với Việt Nam.
Tác giả Ngô Thành Can trong công trình “Những giải pháp đào tạo, bồi  
dưỡng công chức hành chính trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất  
nước” [15]. Tiếp cận vấn đề dưới góc độ giáo dục học, tác giả nghiên cứu quá 
trình đào tạo, bồi dưỡng này theo bốn bước cơ bản: Xác định nhu cầu đào tạo,  
lập kế hoạch đào tạo, thực hiện kế hoạch đào tạo và đánh giá đào tạo. Tác giả 
quan niệm đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm rất gần nhau và  đồng ý với  
quan niệm đào tạo, bồi dưỡng: Đào tạo cán bộ, công chức được xác định như 

khảo sát, phân tích mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở 
một số trường đại học trọng điểm của Việt Nam, trong đó tập trung nghiên  
cứu về mô hình tại Đại học quốc gia Hà Nội. Tác giả trình bày những nét đặc 
trưng của mô hình quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các 
trường đại học ở nước ta, những ưu điểm, hạn chế và khả năng áp dụng. Tác 




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status