Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học kỹ thuật - Pdf 35

B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR


NG TRNG MINH

ĐàO TạO, BồI DƯỡNG NGUồN NHÂN LựC
CHấT LƯợNG CAO Về KHOA HọC Kỹ THUậT TRONG
QUÂN Đội nhân dân việt nam HIệN NAY
Chuyờn ngnh : Ch ngha duy vt bin chng
v duy vt lch s
Mó s :

62 22 03 02

LUN N TIN S TRIT HC

NGI HNG DN KHOA HC:
1. GS, TS Nguyn Vn Ti
2. PGS, TS Nguyn Trng Tun

H NI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tác giả. Các số liệu,
trích dẫn trong luận án là trung thực, có
xuất xứ rõ ràng và không trùng lặp với
những công trình đã công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học kỹ
thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam - Quan niệm và bản chất
THỰC TIỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY
LUẬT CỦA ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỀ KHOA HỌC KỸ
THUẬT TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về
khoa học kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Những vấn đề có tính quy luật của đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực chất lượng cao về khoa học kỹ thuật trong Quân đội nhân dân
Việt Nam
GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỀ KHOA
HỌC KỸ THUẬT TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
HIỆN NAY
Nâng cao năng lực, trách nhiệm của chủ thể, đồng thời phát huy
vai trò chủ quan của đối tượng đào tạo, bồi dưỡng
Tiếp tục đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình gắn với đổi mới
phương thức đào tạo, bồi dưỡng
Đổi mới hệ thống chính sách, đồng thời xây dựng môi trường đào tạo,
bồi dưỡng thuận lợi

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Tran
g

7
8
9
10
11

Chữ viết đầy đủ
Quân đội nhân dân Việt Nam
Nhà xuất bản
Giáo sư
Phó Giáo sư
Tiến sĩ
Khoa học kỹ thuật
Vũ khí trang bị kỹ thuật
Học viện kỹ thuật quân sự
Trang
Chính trị quốc gia
Hà Nội

Chữ viết tắt
QĐNDVN
Nxb
GS
PGS
TS
KHKT
VKTBKT
HVKTQS
tr
CTQG

ra sức mạnh luôn thực hiện tốt nhiệm vụ, là động lực chủ yếu của ngành kỹ
thuật quân đội và đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng QĐNDVN.


6

Đây là nguồn lực đang thực hiện khá tốt nhiệm vụ công tác kỹ thuật, tiến tới
luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, đặc biệt là nhiệm vụ thiết kế, chế tạo các loại
VKTBKT mới, hiện đại của Việt Nam đảm bảo yếu tố bí mật, chủ động trong
tác chiến. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, trực tiếp nâng cao chất lượng tổng
hợp và sức chiến đấu của quân đội ta. Mặt khác, nhiệm vụ xây dựng QĐNDVN
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó ưu tiên hiện đại
hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng bảo đảm số lượng hợp lý, có sức
chiến đấu cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc. Nhiệm vụ đó đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối
với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về KHKT trong QĐNDVN hiện
nay; trong đó, đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực này là hạt nhân.
Hơn nữa, “ trên thế giới, trong những năm tới tình hình sẽ còn nhiều diễn
biến rất phức tạp…tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng,
diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh
chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố,
chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng…liên tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực ”
[29, tr.70-71]. Trong tình hình đó, nếu xảy ra chiến tranh thì Việt Nam sẽ phải
đương đầu với cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí thế hệ mới, công nghệ cao và
hiện đại của đối phương trong không gian rộng, cường độ cao. Điều đó đòi hỏi
Việt Nam phải có nguồn lực tương xứng về khoa học kỹ thuật quân sự nhưng
quan trọng nhất là nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao
về KHKT. Trong khi đó, trình độ khoa học kỹ thuật quân sự của Việt Nam và chất
lượng nguồn nhân lực chất lượng cao về KHKT trong QĐNDVN hiện nay trong
so sánh với các nước trong khu vực và thế giới còn ở trình độ thấp hơn và không

- Luận chứng những vấn đề có tính quy luật của đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực chất lượng cao về KHKT trong QĐNDVN.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản, hệ thống, có tính khả thi nâng cao hiệu
quả đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về KHKT trong
QĐNDVN hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án


9

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao về KHKT trong
QĐNDVN. Kết quả đó góp phần làm phong phú thêm vào lý luận xây dựng quân
đội nói chung và phát triển nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật trong quân đội nói
riêng.
Kết quả nghiên cứu của luận án làm cơ sở cho việc điều chỉnh, hoàn thiện
cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về KHKT trong
QĐNDVN hiện nay. Kết quả nghiên cứu còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong nghiên cứu khoa học ở các học viện, nhà trường kỹ thuật trong quân đội và
những người quan tâm đến lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận án
Mở đầu; tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài; 3
chương (7 tiết); kết luận; danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công
bố có liên quan đến đề tài luận án; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


10

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VỀ

11

triển; về cải cách chế độ nhân sự trong việc sử dụng nhân tài. Các tác giả nhấn
mạnh Trung Quốc luôn coi giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, công tác nhân tài là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, coi đó là kế lớn
trăm năm để chấn hưng đất nước.
Tác giả Lương Dụ Giai (2006) với công trình “Quản lý nhân tài” [164].
Đây là công trình bàn một cách có hệ thống và chuyên sâu về công tác quản lý
nhân tài của Trung Quốc. Tác giả đề cập một số vấn đề về quan niệm, đặc điểm
và vai trò của nhân tài đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Từ đó đi sâu luận
giải sự cần thiết phải có cơ chế, chính sách đặc biệt để quản lý nhân tài nhằm
phát huy tài năng của họ. Tác giả cũng đưa ra một số quan điểm và giải pháp cơ
bản nhằm quản lý tốt nhất nhân tài. Tác giả nhấn mạnh chính phủ cần có cơ chế,
chính sách phù hợp để vừa góp phần quản lý, vừa thể hiện sự trọng dụng và phát
huy tài năng của nhân tài trong thực tế.
Các tác giả Okuhina Yasuhiro, Michitoshi Takahata, Shigenobu Kishimoto
với công trình “Chính trị và kinh tế Nhật Bản” (1994) (Đàm Ngọc Cảnh dịch)
[99]. Các tác giả đã nêu rõ những vấn đề cơ bản về nhân tài; chính sách trong
công tác cán bộ, phát triển nhân tài; phân tích những kinh nghiệm trong việc đánh
giá và luân chuyển cán bộ, phát huy người tài trên cơ sở đặc điểm xã hội Nhật
Bản; nhấn mạnh việc cố gắng bảo tồn và phát huy yếu tố truyền thống dân tộc;
thực hiện chế độ đào tạo, quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan công
quyền, chú trọng xây dựng các phẩm chất, đặc biệt là phẩm chất trung thành của
cán bộ; bảo đảm chế độ chính sách và tiền lương cho cán bộ yên tâm cống hiến.
Công trình “Tuyển 40 năm chính luận của Lý Quang Diệu” (1994) (Lê
Tư Vinh, Nguyễn Huy Quý dịch) [158], đã khẳng định rõ những tư tưởng của
Lý Quang Diệu về trọng dụng nhân tài đất nước, về tầm quan trọng của nhân tài,
vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân
tài; nhấn mạnh "chế độ Singapore thực hành là chế độ trọng dụng nhân tài", coi
việc biết đào tạo và dùng nhân tài là bí quyết thành công của Singapore.

nay” [84]. Dưới góc độ tiếp cận chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, tác


13

giả đã trình bày quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời chỉ ra
vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Từ đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập về số lượng,
chất lượng và cơ cấu của nguồn nhân lực chất lượng cao, tác giả đã đưa ra các
giải pháp về nhận thức, về văn hoá và đổi mới chính sách sử dụng, đãi ngộ
nguồn nhân lực chất lượng cao. Kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Phương
Mai là những gợi mở có ý nghĩa với tác giả luận án trong việc hoàn thiện quan
niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao và việc định hướng những giải pháp.
Tác giả Lê Quang Hùng (2011) trong công trình “Phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” [56]. Tác giả đã tiếp
cận vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dưới góc độ kinh tế chính
trị. Tác giả đã nêu bật tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; đánh giá thực trạng và
nguyên nhân; chỉ ra một số yêu cầu, giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm ở miền Trung, đặc biệt nhấn mạnh đến
giải pháp về giáo dục - đào tạo.
Tác giả Nguyễn Thị Giáng Hương (2013) trong công trình “Vấn đề phát
triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [59]. Tác giả đã
làm nổi bật vai trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực nữ chất lượng cao; những
điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan cơ bản tác động đến phát triển nguồn
nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay. Tác giả đã phân tích, đánh giá
thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra trong phát triển phát triển
nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay. Tác giả đã đề xuất một
số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở
Việt Nam hiện nay.

xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới hiện nay. Những kết quả nghiên cứu
của đề tài đặc biệt là quan niệm về nhân tài với những thuộc tính nhân cách cơ
bản của họ, là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho tác giả luận án trong việc
hoàn thiện đề tài.


15

Các công trình trên đã đưa ra quan niệm, đặc điểm, vị trí và những tiêu
chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao. Về phẩm chất của nguồn nhân lực
chất lượng cao, các tác giả cho rằng đó là năng lực sáng tạo, lòng trung thành,
niềm say mê trong công việc, thể lực tốt. Về phương hướng và giải pháp phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các công trình khẳng định phải đổi mới
nhận thức về vị trí nguồn nhân lực chất lượng cao; đổi mới nội dung, phương
thức phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng chiến lược về nguồn
nhân lực chất lượng cao và nhân tài, phải có chính sách riêng đối với nguồn
nhân lực chất lượng cao. Một số công trình nhấn mạnh vấn đề tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước về giáo dục - đào tạo., nâng cao chất
lượng đội ngũ giảng viên; tăng ngân sách cho giáo dục - đào tạo; thực hiện xã
hội hoá giáo dục - đào tạo.
1.2. Các công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực
Tác giả Trần Khánh Đức (2004) trong công trình “Giáo dục và phát triển
nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” [41]. Tác giả nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan
trọng của giáo dục và đào tạo trong phát triển con người nói chung và nguồn
nhân lực nói riêng. Tác giả đã trình bày hệ thống về nhiều vấn đề trong đó có
quá trình phát triển các chính sách quốc gia về giáo dục và phát triển nguồn nhân
lực. Tác giả đã đưa ra những khái niệm và những tiêu chí đánh giá chất lượng
nguồn nhân lực trên thế giới. Tác giả đã đưa ra hệ thống tiếp cận mới, hiện đại
và độc đáo về nguồn nhân lực của Việt Nam trong bối cảnh cách mạng khoa học

dục và đào tạo ở Đông Á, vấn đề điều chỉnh phát triển nguồn nhân lực thông qua
giáo dục và đào tạo ở Đông Á và vấn đề và giải pháp hiện này của phát triển
nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á. Tác giả cũng chỉ ra
những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở
Đông Á và một số lưu ý đối với Việt Nam.
Tác giả Ngô Thành Can trong công trình “Những giải pháp đào tạo, bồi
dưỡng công chức hành chính trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất


17

nước” [15]. Tiếp cận vấn đề dưới góc độ giáo dục học, tác giả nghiên cứu quá
trình đào tạo, bồi dưỡng này theo bốn bước cơ bản: Xác định nhu cầu đào tạo, lập
kế hoạch đào tạo, thực hiện kế hoạch đào tạo và đánh giá đào tạo. Tác giả quan
niệm đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm rất gần nhau và đồng ý với quan niệm
đào tạo, bồi dưỡng: Đào tạo cán bộ, công chức được xác định như là một quá trình
có kế hoạch nhằm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học
tập, rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các
hoạt động nào đó. Mục đích của nó xét theo tình hình công tác ở cơ quan, là phát
triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai
của cơ quan” [18, tr.31]. Tác giả đã đưa ra sáu giải pháp nhằm nâng cao năng lực
của đội ngũ này đáp ứng yêu cầu công vụ trong tình hình mới.
Tác giả Nguyễn Thanh (2001) với công trình“Phát triển nguồn nhân lực và
vai trò của giáo dục đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay” [121]. Tác giả phân tích và làm
sáng tỏ vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Từ làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay và
một số định hướng chủ yếu cần giải quyết, tác giả tập trung làm rõ vai trò của giáo
dục - đào tạo với vị trí là “điều kiện tiên quyết”, “quốc sách hàng đầu”, là yếu tố
trực tiếp, quyết định trong chiến lược phát triển con người, phát triển nguồn nhân

Nam hiện nay. Tác giả đề xuất một số phương hướng và năm giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy vai trò của giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu của tác giả dừng lại ở
vai trò của giáo dục - đào tạo với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
Việt Nam hiện nay và giải pháp cũng hướng đến khách thể nghiên cứu chủ yếu
là giảng viên và sinh viên ở một số trường đại học của Việt Nam.
Hai tác giả Nghiêm Đình Vỳ, Nguyễn Đắc Hưng (2002) với công trình
“Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài” [157]. Các tác giả đã trình bày khái quát


19

về lịch sử giáo dục Việt Nam và những vấn đề đặt ra, nhiệm vụ của giáo dục Việt
Nam trong thế kỷ thử XXI. Các tác giả cũng đề cập nhiều nội dung quan trọng về
phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài. Từ thực tiễn công tác
đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài của Việt Nam, các tác giả khẳng định phải
coi đào tạo nhân tài là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của các cơ sở đào
tạo, nghiên cứu khoa học, các cơ sở sản xuất kinh doanh. Đồng thời các tác giả cho
rằng, để xây dựng lực lượng trí thức, nhân tài đáp ứng yêu cầu của đất nước thì
Đảng, Nhà nước cần quan tâm tạo điều kiện để phát triển nhân tài, trong đó, phải có
chính sách trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với nhân tài. Bên cạnh đó, phải
xây dựng hệ thống giáo dục mang tính toàn diện.
Tác giả Trần Văn Tùng (2005) với công trình “Đào tạo, bồi dưỡng và sử
dụng nguồn nhân lực tài năng” [146]. Tác giả đã trình bày những kinh nghiệm của
một số nước châu Âu (Anh, Pháp, Đức), châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung
Quốc và một số quốc gia khác) về việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa
học – công nghệ sản xuất kinh doanh và quản lý, từ đó vận dụng vào thực tiễn ở
Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi
dưỡng và sử dụng nguồn tài năng hiện có. Đây là công trình có giá trị thực tiễn
không chỉ trong đào tạo, bồi dưỡng tài năng khoa học – công nghệ mà cả trong đào

Hiện nay, trong chiến lược quốc phòng của các quốc gia trên thế giới đặc
biệt là các cường quốc, không chỉ quan tâm phát triển VKTBKT hiện đại mà
còn dành sự quan tâm lớn đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quân sự nói
chung và nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao. Vấn đề nguồn nhân lực chất
lượng cao về quân sự những năm gần đây cũng đã và đang thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của các tác giả trong nước. Qua nghiên cứu, hiện số lượng các công
trình khoa học đề cập một cách trực tiếp, chuyên sâu về nguồn nhân lực chất
lượng cao về quân sự cả trong và ngoài nước là khá khiêm tốn. Nhưng những
đánh giá, luận giải ở các khía cạnh khác nhau trong các công trình nghiên cứu về
nguồn nhân lực quân sự phần nào đó đã nêu lên vai trò, tính cấp thiết và phương
hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về quân sự. Có thể hệ thống
một số công trình tiêu biểu sau đây:


21

* Các công trình nghiên cứu của nước ngoài.
Tác giả Donald.H.Rumsfeld (2002) với công trình “Transforming the
military” [162]. Tác giả đã đề cập đến sự chuyển hoá nhằm nâng cao sức mạnh và
duy trì ưu thế của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ trong chiến lược quốc phòng
mới theo hướng ưu tiên cho con người cùng với việc đầu tư mạnh mẽ phát triển
VKTBKT công nghệ cao, hiện đại. Tác giả cho rằng, người lính là nền tảng của
lực lượng vũ trang và người lính có tố chất tốt sẽ là nhân tố quyết định chiến thắng
trong chiến tranh tương lai. Những phẩm chất cần có của các lực lượng vũ trang
Hoa Kỳ là sự khéo léo, can đảm, sáng tạo, khả năng thích ứng nhanh chóng với sự
thay đổi linh hoạt của chiến trường, với những thách thức mới trong những hoàn
cảnh bất ngờ; khả năng phối hợp giữa các lực lượng trong thực tiễn chiến đấu. Tác
giả cũng đặc biệt nhấn mạnh quá trình đào tạo người lính phải được thiết kế giống
như những yêu cầu khi chiến đấu. Điều đó đảm bảo người lính có thể chiến đấu
đạt hiệu quả cao như khi được đào tạo.

Nhóm tác giả Arkady N. Barsukow; Nicolay P. Zubo; Nicolay O. Kobelkow
với công trình "Công nghệ mô phỏng ở Học viện Không quân Gagarin
(Nga)”(2003) [163]. Các tác giả khẳng định để thực hiện Học thuyết quân sự mới,
Nga đã tiến hành cải cách quân đội một cách toàn diện trong đó tập trung vào việc
hiện đại hoá các học viện, trường đại học quân sự. Trong đó, Học viện Không quân
Gagarin được phát triển thành một trung tâm hiện đại, liên hoàn, với công nghệ mô
phỏng toàn bộ quá trình tác chiến. Học viên được huấn luyện trong một môi trường
được mô phỏng giống với những yêu cầu của tác chiến thật, với những yêu cầu cao
về trình độ, kỹ năng, thể lực, tâm, sinh lý và khả năng linh hoạt cao. Do đổi mới
phương thức đào tạo theo hướng đó, học viên ra trường có thể đáp ứng ngay những
yêu cầu trong thực hiện các nhiệm vụ khẩn cấp, tác chiến chống khủng bố và cụ thể
là cuộc xung đột ở Grudia đạt hiệu quả cao.
Nhìn chung, các công trình trên khẳng định, cùng với vũ khí công nghệ
cao, nguồn nhân lực chất lượng cao về quân sự có vai trò rất quan trọng. Các đặc
trưng của nguồn lực này là: đào tạo kỹ lưỡng, có năng lực sáng tạo, khéo léo, có
kinh nghiệm tác chiến, linh hoạt và phối hợp tốt giữa các lực lượng; có hiểu biết


23

về văn hoá và ngôn ngữ bản địa. Về phương thức đào tạo, các công trình cho rằng
cần đào tạo thông qua các trung tâm mô phỏng, chú trọng đổi mới công nghệ đào
tạo. Phải bổ sung các nội dung đáp ứng yêu cầu tác chiến trong tương lai. Một số
công trình đề cập giải pháp là tập trung cải thiện chế độ đãi ngộ nguồn lực này.
* Các công trình nghiên cứu trong nước.
Tác giả Phạm Đức Nhuấn (2002) với bài báo “Tăng cường chất lượng
nguồn nhân lực cho nhu cầu quân sự những thập niên đầu thế kỉ XXI” [92]. Tác
giả đã phân tích vai trò của chất lượng nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội và yêu cầu bức thiết phải tăng cường nguồn nhân lực chất lượng cao
cho quân sự trong những thập niên đầu của thế kỉ XXI. Đó là cơ sở để

ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của nó; đồng thời dự báo xu hướng vận động
của nâng cao chất lượng nguồn lực này trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, tác giả
đề xuất các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng nguồn lực sĩ quan trẻ trong xây
dựng QĐNDVN hiện nay.
Tác giả Đặng Nam Điền (2013) với công trình “Xây dựng nguồn nhân
lực chất lượng cao trong Quân đội - Mấy vấn đề đặt ra”[24]. Tác giả khẳng
định xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội có ý nghĩa quyết
định, đảm bảo quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới. Từ đánh giá thực trạng nguồn lực và nguyên nhân, tác
giả đề xuất các biện pháp cơ bản, tập trung vào các nội dung sau: tạo được sự
thống nhất nhận thức của các cấp các ngành, nhất là cấp ủy, cán bộ chủ trì về
xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội; có quy hoạch, kế
hoạch xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao bảo đảm nhu cầu trước mắt và
lâu dài; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng toàn diện công tác giáo dục - đào
tạo, huấn luyện bộ đội; quan tâm chăm lo thực hiện các chế độ, chính sách nhằm
thu hút, trọng dụng nhân tài, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong
Quân đội.


25

Nghiên cứu trực tiếp về nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao có công
trình của tác giả Đỗ Văn Dạo (2013) “Phát triển nguồn nhân lực quân sự chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá quân đội nhân dân Việt Nam” [21]. Đây
là công trình tiếp cận và luận giải vấn đề dưới góc độ kinh tế chính trị. Tác giả đã
làm rõ một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao
đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá quân đội nhân dân Việt Nam. Tác giả quan niệm:
“NNL quân sự CLC là bộ phận của NNL quân sự và NNL có CLC của đất nước,
được phân công, đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau. Là những người được đào
tạo ở trình độ cao, có sức khoẻ tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, có kĩ năng nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status